di tích lich sử văn hóa

KHÔNG GIAN LỊCH SỬ VĂN HÓA HOÀNG MAI
Ngày đăng 26/03/2012 | 12:00  | View count: 730

Trước khi đức vua Lý Thái Tổ từ Hoa Lư đến định đô Thăng Long ở chỗ mà ngài gọi là cao vương cố đô Đại La Thành, trước cả khi Cao Biển và các “tiết lộ sứ”,”Kinh lược sử” tiến nhiệm từ phương Bắc tới chỗ quanh chân gò”núi Long Đô” mà xây kiểu La Thành – Đại La Thành ấy, thì trên mạn chính Nam của khu vực đất trời rồi sẻ thành và có tòa đô bộ phủ Đại La (từ thế kỷ VII đến thế kỷ X) kinh đô Thăng Long (từ thế kỷ XI trở đi), ở vùng bấy giờ đang là quận Hoàng Mai của thủ đô Hà Nội, về thời cổ xưa xa xôi ấy vẫn còn chỉ là một”cái rốn nước” có đất bồi rồi, nhưng lênh láng lầy lội, với rất nhiều chỗ sâu trũng (mà về sau sẽ được mang các tên đẹp hồ Quỳnh, Linh Đàm, đầm Sét, cả đầm Mực nữa, đặc biệt là đầm (hồ) Vạn Xuân) và dọc ngang là các dòng chảy (mà về sau sẽ là sông Lữ, sống Sét…đặc biệt là sông Kim Ngưu - nhánh, hoặc cũng chính là sông Tô Lịch).

Là sản phẩm sinh thành của /ở bên/ bờ phải nguồn sông Mẹ (sông Cái, từ cuối thế kỷ XIX mới có tên Hồng Hà), vào thuở những con dân của Mẹ còn chưa biết đập đê cạp bờ ngăn nước (như mãi đến thời Lý – Trần mới bắt đầu), vùng giữa châu thổ này – nước nhiều hơn đất – may sao và dù sao cũng dần dà nổi cao lên được những bãi bồi, để có thể đón tiếp những nhóm cư dân đầu tiên đến định cư, khai thác. Mới về sau có tên “Mai Động”, là một điểm tụ cư đầu tiên như thế. Những lưỡi rìu đá mài nhẵn cùng với những chiếc “bàn mài” để tạo ra các công cụ đó, rồi cả những chiếc vòng tay, vòng tai cũng bằng đá, được đoán định niên đại là thuộc thời đại đá mới, hậu kỳ”, phát hiện được ở công trường khơi sông Kim Ngưu, đoạn chảy qua Mai Động, vào đầu những năm 70 của thế kỷ trước (tương tự như những di vật đào được ở các di chỉ Văn Điển, Triều Khúc, gò (chùa) thông… quanh miền) là những tích để lại của các nhóm người tiền khu, từ ba bốn nghìn năm về trước, đã sớm có mặt ở vùng này.
Đến buổi đầu Công Nguyên – hai nghìn năm về trước thì, di tích của những Ngôi mộ táng có vòm gạch xây cuốn, rải rác nhưng nhiều nhặn hơn đã xuất lộ trong miền, làm chứng tiếp về sự trạng: những điểm tụ cư dầu tiên ấy, dần dà đã phát triển thành những chỗ có thêm cả người từ phương Bắc đến đặt trị sở, long thời Bắc thuộc “ của họ.
Đây chính là nền cảnh, để đến giữa thế kỷ VI sau Công nguyên, cùng với sự hình thành những “điểm đô thị” - như những “làng nghề kim hoàn” Định Công, với những vị “Tổ nghề” họ Trần (ba anh em Trần Hòa, Trần Điện, Trần Điển), theo truyền thuyết, thì sự nghiệp “chống bắc thuộc” của lịch sử đã đích thực được chân người anh hùng dân tộc Nam Việt đế Lý Bí đến miền này, và nơi chỗ “lọt mắt xanh” của vị hoàng đế họ Lý của nước Việt ở phương Nam, chính là vùng đầm (hồ) Vạn Xuân… Một “dài Vạn Xuân” để “làm chỗ triêu hội trăm quân” – như nguyên văn lời – sử cũ chép đã được người đầu tiên xưng đế hiệu để khai sinh một quốc gia độc lập giữa”thời Bắc thuộc”, quyết định xây dựng ở đây, với vị thế và làm chức năng giống như một tòa kinh đô của “nhà nước” Vạn Xuân.
Là kết tinh của mấy nghìn năm lịch sử và văn hóa, việc xuất hiện “đài Vạn Xuân” vào hồi giữa thế kỷ VI sau công nguyên, là một dấu son in trên giai đoạn sơ khai của miền đất và người, bây giờ đang mang tên “Quận Hoàng Mai”, với ý nghĩa là: ngay từ thời “tiền - Thăng Long”, trước khi hoàng đế Lý Thái Tổ định đô Thăng Long, nơi chốn này đã thành và là tiền đề đồng thời báo trước những liên quan đặc biệt và hệ trọng với miền “thắng địa”, “thượng đô kinh sư mãi muôn đời”.
Tiền đề của những mối liên quan hữu cơ ấy, đã trở thành hiện thực lịch sử, vào và từ khi đức Lý Thái Tổ đầu tiên, năm 1010 tôn tạo tòa “Cao vương cố đô Đại La Thành” ở quanh gò núi Rốn Rồng” (Long Đỗ) thành vòng tường”Thăng Long thành” (mà đến và từ thời Lê thì phỏ biến tên gọi là: Hoàng Thành”), và – sau đấy, vào năm 1014 xây thêm vòng tường lũy rộng dài bao quanh phía ngoài gọi là”kinh thành”.
Chốn thượng đô kinh sư mãi muôn đời” này, từ đây phồn thịnh, rộng lớn, điệp trùng mà thành “ chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương”, Và những con đường từ bốn phương tám hướng dần về kinh đô, chính là những lối nẻo tảng nền để làm nên sự nghiệp hội tụ trọng đại ấy.
Con đường cái quan, đi về, vào ra, từ các miền gần xa trên mạn phía hướng Nam tới kinh đô và ngược lại, có vị thế và vai trò, tác dụng hàng đầu, trong số những lối nẻo tảng nền ấy. Đầu tiên đó là con đường chạy hơi chếch Đông Bắc Tây Nam tới và đi ra từ cửa ô Cần Dền. Sau đó, thêm nhánh đường cạp theo sông Hồng mà vào ra chỗ ở cửa ô. Ông Mạc (Đống Mác, còn có tên nữa chính là cửa ô Vạn Xuân), và – muôn hơn tí chút, nhưng rất đặc biệt là nhánh đường dọc thắng hướng Nam Bắc mà vào ra cửa ô Đồng Lâm (Kim Hoa – Kim Liên)
Đoạn cuối những con đường tới kinh đô (hoặc chỗ khởi đầu của những con đường ra đi từ kinh đô) này đến chạy qua miền đất quận Hoàng Mai bây giời. Và như thế, chúng ta đã có một tác dụng lớn lao, quyết định là biến miền đất này thành nơi cửa ngõ vào ra của kinh thành.
Hai hướng diễn biến và phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ của lịch sử ở trên miền đất này, và của lịch sử chính miền đất này, từ đấy ghi nhận được đó là:
Thứ nhất: sự thịnh vượng trù phú của một miền đất và người cận kinh thành, thậm chí có xu hướng đô thị hóa ngày càng mạnh và rõ. Trước hết, là những tác động nhiều hình vẽ, đến từ phía triều đình trong nội dô. Các vương triều (triều đại) nào, từ trong nội đô, cũng có nhu cầu phất triển và kiểm soát miền đất và người ở cửa ngõ phía Nam kinh thành này. Vì thế, những “quân”, “sở” (cơ quan công lập) nhất là những trạm dịch “ (đầu nối tỏ chức giao thông, liên lạc) được đưa đến, cấy vào, mọc dựng ở đây ngày càng nhiều. Đặc biệt là vào nửa cuối thế kỷ XIV, cả một thái ấp” của một đại quan chức quí tộc nhà Trần (là Trần Khát Chân) cũng đã được “cấp đất xây dựng” ở đây, biến gần như cả nửa phái đông của miền này (là đát Cổ Mai – Kế Mai) từ những con đường cái quan vào ra ở Đồng Lâm, tới bờ tả ngạn dòng sông Hồng thành một cơ sở và căn cứ của vương triều. Đến thời Lê – Trịnh, khi vương phủ các chúa nhà Trịnh chọn mô đất phía Nam Hoàng Thành làm chỗ lộng hành, thì họ hàng nhà chúa – đặc biệt là giới nữ - vào các thế kỷ XVII – XVIII càng theo và thành “phong trào”: đi ra miền cửa ngõ phía Nam kinh thành mà ”công đức”: xây đền, làm chùa, tô tượng…dựng hoặc đào cả những ly cung, biệt phủ nữa để giải khuây và cả giả hạn.
Hùa theo các tác động đủ kiểu cách như thế, cư dân tại chỗ đông đúc dẫn lên theo năm tháng và người từ các miền theo chân những “đồng hương” sớm nhờ nhập đó mà thành đạt, càng tấp nập hơn tìm đến, đã vừa mở mang thêm những cơ sở được vùng nội đô tải tới, vừa tăng thêm các hoạt động dịch vụ hướng vào chức năng cửa ngõ phía Nam kinh thành của miền đất này mà cung ứng.
Kết quả là một vùng đậm đặc những công trình và giá trị vật thể và phi vật thể đã dần dà mà hình thành rồi hình thành, đẹp đẽ, khang trang mà trội vượt lên qua những thế kỷ từ đầu đến cuối thời trung cổ, ở trên miền đất và người cận kinh thành, cửa ngõ phía Nam của kinh đô này.
Thứ hai: sự lợi hại của một vùng đất chiến lược quân sự, thậm chí là cả chiến trường của những trận đánh lớn để gìn giữ hoặc làm chủ kinh thành trong lịch sử trung cổ ở nơi cửa ngõ phía Nam Thăng Long ngày nay. Nếu Thăng Long ở mạn Bặc và mạn Đông có sông Hồng thành chiến hào che chắn, phía Tây có núi Tân Làm điểm tựa, thì ở hướng Nam kinh thành chỉ có một miền “rốn nước” đó. Ai làm chủ, hoặc giành giật được, hoặc quá được chỗ này, thì tới được, có được, hoặc cứu được Thăng Long.
“Chiến dịch bao vây, giải phóng thành Đông Quan” của nghĩa quân lam Sơn (mùa đông năm 1426 – mùa đông năm 1427) đã có nhiều trận đánh quyết liệt, diễn ra ở trên đất cửa ngõ phía nam kinh thành này. Trong đó, trận mi Động (Mai Động) ngày 4 tháng tư năm 1427 là rất ác liệt, đuổi đánh cánh quân nhà Minh của Tống Bình Vương Thông từ trong thành Đông Quan xông ra phá vòng vây của nghĩa quân ở mạn Nam kinh thành các tướng Lam Sơn: Đinh Lễ, Nguyễn Xí đã để lại võ công vẻ vang và tấm gương hi sinh oanh liệt ở chỗ bây giờ đang có cây cầu Voi bắc qua sông Kim Ngưu nối con đường đang mang tên”Tam Trinh” với đường Mai Động, Chỉ đến tháng 11, sau trận lại phục binh đánh tan lần nữa đạo quân nhà Minh xông ra khiến chủ tướng họ Vương của giặc ngã ngựa suýt bị bắt sống, sự nghiệp kháng chiến chống nhà Minh giải phóng thành Đông Quan mới hoàn tất, bằng sự kiện “hội thề Đông Quan” (ngày 10 -12-1927), diễn ra cùng ở nga trên miền đất cửa ngõ phía Nam kinh thành này.
Đến loạt trận mở đường vào Thăng Long “diệt Trịnh phù Lê” (mùa hè năm 1786) của nghĩa quân tây Sơn, thì những đại danh, nam Dư (bến), Vạn Xuân (hồ)…một lần nữa lại cho thấy những vị trí bây giờ là các phường Lĩnh Nam, phường Trần Phú nói riêng, quân Hoàng Mai nói chung, như thế là đã có vai trò quan trọng đến thế nào, đối với những hoạt động quân sự tài tình và thắng lợi của thiên tài Nguyễn Huệ, khi lần thứ nhất vào làm chủ Thăng Long.
Đặc biệt là lần thứ hai, từ hướng Nam tiến vào giải phóng Thăng Long khỏi ách chiếm đóng của quân xâm lược Mãn Thanh (mùa xuân năm 1789), làm nên cảnh tượng “Ba quân hàng ngũ chỉnh tề tiến/ Trăm họ đầy đường vui tiếp nghênh/ Chen vai sát cánh cùng nhau nói/ Kinh đô vẫn thuộc núi sông ta”, thì khi ấy, con đường hành tiến đánh giặc thành công lớn của Quang Trung Nguyễn Huệ, chính là đường qua miền đấy bây giờ là quận Hoàng Mai.
Bây giờ thì quận Hoàng Mai đã thành và là một miền đất và người nội thành dô thị hóa, nằm trong cấu trúc hữu cơ của thành phố - thủ đô đất nước.
Tuy nhiên, cái không gian lịch sử - văn hóa, từ thủa sơ khai đến lúc tạo tiền đề cho hiện thực bây giờ, vẫn là một di sản truyền thống có thể để lại cho ngày nay những kinh nghiệm và bài học sáng giá, nếu ta có ý thức và biết cách tìm kiếm những giá trị văn hóa phi vật thể được di tồn ở đấy. Nhất là khi ta có ý thức và biết cách bảo tồn khai thác các giá trị văn hóa vật thể, đang là hình ảnh cổ kính và linh điệu, lưu truyền của / và từ/ chính cái không gian lịch sử - văn hóa ấy/.
GS Lê Văn Lan

thời tiết các vùng

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

Bình chọn

Đánh giá thái độ tiếp công dân của cán bộ Một cửa quận