di tích lich sử văn hóa

Đình Linh Đàm và Lễ hội thờ Thuỷ Thần
Ngày đăng 27/03/2012 | 12:00  | View count: 1460

Liên Đàm nghĩa là “đầm sen”, một trong những tên gọi xa xưa của đầm Linh Đường. Sở dĩ đầm có tên Liên Đàm vì khi xưa đầm nổi tiếng có nhiều hoa sen. Không chỉ nổi tiếng vì hoa sen mà hồ còn nổi tiếng cả về hình dáng nét đẹp và sắc nước.

. Trước đây, đầm thuộc phủ Giao Châu còn được gọi là Long Đàm và tên của đầm được đặt cho tên của châu Long Đàm. Đến đầu thế kỷ XX, đầm Linh Đường còn được các sử gia của Quốc sử quán triều Nguyễn ca ngợi là Kính Nguyệt hồ.

“Nhật trình từ Ráy đến Ô

Bây giờ ta kể duyên cho các làng

Tứ kỳ ở đó rõ ràng

Trồng lên lại thấy một làng Pháp Vân

Trông xa rồi lại trông gần

Đại Từ trước mặt, sau lưng Linh Đường”

Như vậy, trước kia cũng như bây giờ làng Linh Đường nằm lọt giữa ba làng Tứ Kỳ, Pháp Vân, Đại Từ và gần như một hòn đảo nổi lên ở phía Nam của đầm Linh Đường. Hình ảnh của Linh Đường đã được sử gia Phan Huy Chú khắc họa khá rõ nét và khá đẹp trong sách Lịch triều hiến chương loại chí, NXB KHXH, Hà nội, năm 1992, t. I, tr. 86: “Làng Linh Đường ở Huyện Thanh trì, cạnh có cái đầm nước trong kiểu đất mở ra như tấm gương hình như mày ngài”. Ngôi đình hiện nay thuộc phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai. Đình Liên Đàm tọa lạc trên một địa thế đẹp, vốn là một gò đất cao, nhìn ra đầm Linh Đàm tạo thành thế “nhà trên ao dưới”.

Từ ngoài vào là Nghi môn ngoại xây kiểu tam quan, bên trên có các góc đao cong, bên dưới tạo cửa cuốn vòm. Tiếp đến là nghi môn nột xây kiểu tứ trụ, đỉnh trụ giữa đắp hình trài giành, phần ô lồng đèn đấp đề tài tứ quý, thân trụ bổ khung đắp các đôi câu đối, đỉnh hai trụ bên là đôi nghê, thân trụ bổ khung. Phía trước đình là bức bình phong đắp dạng cuốn thư. Tiếp đến là một khoảng sân rộng lát gạch Bắt dẫn vào khu thờ.

Nhà tiền tế gồm 5 gian hai chái, mái lợp ngói ta, bờ nóc, bờ dải đắp kiểu bờ đinh. Các bộ vì đều có kết cấu theo kiểu “thượng giá chiêng, hạ kẻ”. Giá chiêng được tạo thành bởi hai cột trốn đặt trên câu đầu to, dày. Đầu kẻ ăn sâu vào chân mộng, cột quân và cột hiên. Các hàng cột đặt trên các chân tảng bằng đá. Bộ khung đại đình được trang trí tỉ mỉ, tạo cho các bộ vì trang trí hoa lá, vân mây, bằng kỹ thuật chạm nổi, đường nét to mập, cân xứng với kích thước của các rường. Đầu kẻ chạm sâu các hình rồng mây.

Hậu cung gồm ba gian sát sau trung tế, xây kiểu tường hồi bít đốc. Bộ vì đỡ mái làm kiểu “ván mê đắp hình hổ phù”. Hiện tại ở đình còn bảo lưu được 15 đạo sắc phong, trong đó đạo sắc có niên đại sớm nhất là niên hiệu Canh Hưng 44 (1783) và đạo sắc có niên đại muộn nhất là Khải Định 9 (1924); 1 cuốn thần tích do Đông các đại học sĩ Nguyễn Bính soạn vào năm Hồng Phúc (1572); 1 tấm bia đá “Phụng sự hậu thần bi ký” niên đại Chính Hòa 10 (1689)…là những nguồn sử liệu góp phần phản ánh niên đại tồn tại của ngôi đình và nội dung văn bia cũng như phản ánh nhưng quy định của việc quản lý qua các triều đại đối với các di tích tín ngưỡng trong lịch sử.

Người dân nơi đây vẫn tự hào về ngôi đình, về Thành hoàng làng là học trò của Chu Văn An vạn thế sư biểu (Người thầy của muôn đời) có tên là Bảo Ninh Vương. Theo truyền thuyết là một vị thủy thần có công làm mưa chống hạn cho dân làng. Sự tích về thủy thần có thể là huyền thoại nhưng cũng là một thực tế gắn liền với nền kinh tế nông nghiệp lúa nước ở nước ta. Cùng thờ thành hoàng Bảo Ninh Vương hiện có 7 làng và 4 phường thuộc quận Hoàng Mai đó là: Bằng Liệt, Linh Đàm, Tứ Kỳ (phường Hoàng Liệt), Đại Từ (phường Đại Kim), Hữu Thanh Oai (xã Hữu Hòa) và Lê Xá, huyện Thanh Oai.

Dân Linh Đàm tổ chức hội làng truyền thống vào ngày mồng 10 tháng 2 được diễn ra như sau:

Ngày 9 tháng 2 dân làng dọn dẹp vệ sinh đường, ngõ xóm và lau rửa các đồ tế lễ đình, lắp ráp kiệu. Xưa làng có hai giáp (giáp Thượng và giáp Đông), mỗi giáp có một ao chung. Ngày nay trai đinh tắt ao đánh cá chọn con to để hôm sau làm cỗ thờ.

Ngày 10 tháng 2 dân làng Linh Đàm tổ chức lễ hội truyền thống. Sau những nghi lễ tế thần do các cụ ông dạy sáng từ năm giờ, làng tưng bừng vào cuộc rước. Hai cỗ kiệu bát cống sơn son thiếp vàng được kê đặt ngay ngắn ở trước cửa đình. Cụ thủ từ cùng các vị chức sắc của làng vào hậu cung mang long ngai bài vị đức thánh Bảo Ninh và một chóe nước lớn ra đặt vào một kiệu. Lại vào hậu cung đem chiếu bài vị bà chúa Trần Thị Ngọc Tể (thờ hậu) ra đặt vào kiệu thứ hai. Đám rước được tiến hành theo trật tự sau: đi đầu là đội cờ, tiếp đến là đội nhạc trống, đàn bát âm, đặc biệt đội nhạc có một chiếc cồng lớn do một cụ già đánh tạo ra hiệu lệnh dẫn đội kiệu thánh. Sau đo là kiệu đức thánh Bảo Ninh do 18 thanh niên chưa có gia đình đổi vai nghênh nước tục gọi là kiệu thánh ông. Tiếp đó là kiệu bà chúa Trần do 18 con gái làng chưa chồng đổi vai rước, tục gọi kiệu bà chúa. Phù giá kiệu là người cầm lọng, cầm tàn và dân làng.

Hội rước khởi hành vào hồi bảy giờ sáng từ đình làng đi quanh làng Linh Đàm, qua làng Đại Từ xuống tới vực Tựu- Tựu Liệt- Tam Hiệp- Thanh Trì. Tương truyền đầm Tựu là dấu tích nơi đức thánh Bảo Ninh bị trời phạt. Các cỗ kiệu được đặt bên bờ vực Tựu, các bô lão đón chóe nước xuống và tế lễ chọn giờ tốt lấy nước cho vào chóe đón tay nhau đưa chóe nước vào kiệu làm lễ tạ và rước kiệu đức thánh Bảo Ninh, kiệu bà chúa họ Trần về đình làng, hoàn giá thánh vào cung, lại đặt chóa nước vào ban thờ thánh. Nước này dùng làm nước cúng thần quanh năm.

Bô lão quanh làng tiếp tục tổ chức tế lễ. Điều đặc biệt là mâm cỗ cúng thùy thần gồm những cá to đánh bắt từ ao làng đều phải chặt bỏ đầu, có món nướng và hoặc rán chán và món cá nấu dấm rượu và nghệ. Việc cỗ cúng có kèm bỏ đầu liên quan đến sự tích vị thủy thần làng Linh Đàm thờ bị trời phạt đánh mất đầu chỉ còn thân xác nổi lên ở đầm.

Ngoài ngày lễ hội làng hàng năm vào ngày 16 tháng Tám âm lịch là ngày hóa của Thành hoàng làng, nhân dân thôn Linh Đàm tổ chức làm lễ tại đình. Trước đây các bô lão đại diện các thôn trong tổng tụ họp ở miếu Gàn, tương truyền là nơi thủy thần từ đầm Linh Đàm hiện thân thành người đến Cung Hoàng học thầy Chu Văn An bàn tổ chức tế lễ, sau đó các bô lão đi thắp hương đức thánh Bảo Ninh ở Thanh Liệt. Việc rước lễ trước tiên từ đình làng đến miếu Gàn, hạ kiệu cỗ trước miếu để quan viên, bô lão vào tế. Tế xong đến chiều các thôn rước kiệu trở lại đình làng. Sau hòa bình lập lại việc tổ chức rước lễ và tế hàng tổng không còn duy trì như trước nữa.

Ngày hội ở đình Linh Đàm còn có tổ chức các trờ diễn dân gian như đánh cờ người, bắt vịt, bơi thuyền trên đầm.

Với nhiều giá trị lịch sử văn hóa, đình Liên Đàm đã được Bộ văn hóa – thông tin xếp hạng là di tích lịch sử kiến truc và nghệ thuật tại quyết định số 1460/VH ngày 28 tháng 6 năm 1996. Với vị thế địa lịch sử, địa văn hóa Linh Đàm hiện nay trong qui hoạch tổng thể phát triển của thủ đô, khi được giới thiệu rộng rãi, chắc chắn di tích đình Linh Đàm sẽ là một địa chỉ văn hóa lịch sử điểm đến tham quan hấp dẫn điểm du lịch sinh thái, du lịch nghiên cứu của quận Hoàng Mai, Thăng Long Hà Nội nghìn năm văn hiến.

NGÔ THỊ HẠNH

Ban Quản lý di tích danh thắng Hà Nội

thời tiết các vùng

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

Bình chọn

Đánh giá thái độ tiếp công dân của cán bộ Một cửa quận