an ninh - quốc phòng

Một số quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình và hướng dẫn thực hiện trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bạo lực gia đình
Ngày đăng 13/07/2020 | 08:25

Bạo lực gia đình đã và đang là một vấn đề xã hội cần được quan tâm giải quyết bởi nó gây ra nhiều hậu quả ảnh hưởng đến quyền con người, danh dự, nhân phẩm và cả tính mạng của cá nhân, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Bạo lực gia đình làm xói mòn các giá trị truyền thống tốt đẹp, là nguy cơ gây tan vỡ hoặc suy giảm sự bền vững của gia đình. Ngoài ra, bạo lực gia đình còn gây ra những tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế - xã hội

     Thiệt hại do bạo lực gia đình gây ra về góc độ kinh tế bao gồm những chi phí chăm sóc và phục hồi sức khoẻ nạn nhân, chi phí điều tra, truy tố, xét xử cùng nhiều chi phí gián tiếp khác liên quan đến tình trạng bệnh tật, mất hoặc giảm khả năng lao động sản xuất của nạn nhân...

     Một số quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình

     Hiện nay, Việt Nam đã có một hệ thống các văn bản khá đầy đủ về công tác phòng, chống BLGĐ, đặc biệt là có một đạo luật riêng về vấn đề phòng, chống BLGĐ (Luật Phòng, chống BLGĐ năm 2007). Có thể thống kê các văn bản liên quan đến công tác phòng, chống bạo lực gia đình như sau:

          - Hiến pháp 2013

          - Bộ luật dân sự năm 2015

          - Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;

          - Bộ luật Hình sự năm 2015;

          - Bộ luật Tố tụng hình sự 2015

          - Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012;

          - Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

          - Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017;

          - Luật Phòng, chống BLGĐ năm 2007;

          - Luật Bình đẳng giới năm 2006;

          - Luật Trẻ em;

     Luật phòng chống bạo lực gia đình

     - Hành vi BLGĐ được phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời theo quy định của pháp luật. Nạn nhân BLGĐ được bảo vệ, giúp đỡ kịp thời phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của họ và điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước; ưu tiên bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em, người cao tuổi, người tàn tật và phụ nữ (Điều 3 Luật Phòng, chống BLGĐ);
      - Nạn nhân BLGĐ có các quyền: Yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo vệ sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình; yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn, bảo vệ, cấm tiếp xúc; được cung cấp dịch vụ y tế, tư vấn tâm lý, pháp luật; được bố trí nơi tạm lánh, được giữ bí mật về nơi tạm lánh và thông tin khác và các quyền khác theo quy định của pháp luật (Điều 5 Luật Phòng, chống BLGĐ);

      - Nhà nước nghiêm cấm các hành vi BLGĐ; cưỡng bức, kích động, xúi giục, giúp sức người khác thực hiện hành vi BLGĐ;  sử dụng, truyền bá thông tin, hình ảnh, âm thanh nhằm kích động BLGĐ; trả thù, đe doạ trả thù người giúp đỡ nạn nhân BLGĐ, người phát hiện, báo tin, ngăn chặn hành vi BLGĐ; cản trở việc phát hiện, khai báo và xử lý hành vi BLGĐ. Lợi dụng hoạt động phòng, chống BLGĐ để trục lợi hoặc thực hiện hoạt động trái pháp luật và dung túng, bao che, không xử lý, xử lý không đúng quy định của pháp luật đối với hành vi BLGĐ (Điều 8 Luật Phòng, chống BLGĐ)

     Quy định về phòng ngừa BLGĐ

     - Luật Phòng, chống BLGĐ dành 01 chương quy định về phòng ngừa BLGĐ, nội dung phòng ngừa bao gồm công tác thông tin, tuyên truyền về phòng, chống BLGĐ; công tác hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên trong gia đình; tư vấn, góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư về phòng ngừa BLGĐ. Truyền thông giúp thay đổi, nâng cao nhận thức của người dân về hậu quả của bạo lực gia đình, truyền thông nâng cao nhận thức về giá trị của hạnh phúc gia đình. Các nội dung tư vấn chủ yếu là cung cấp thông tin, kiến thức, pháp luật về hôn nhân, gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình; hướng dẫn kỹ năng ứng xử trong gia đình; kỹ năng ứng xử khi có mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình.

     Quy định về bảo vệ nạn nhân BLGĐ

     Luật Phòng, chống BLGĐ dành một chương quy định về bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân BLGD. Theo đó, người phát hiện bạo lực gia đình phải kịp thời báo tin cho cơ quan công an nơi gần nhất hoặc Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc người đứng đầu cộng đồng dân cư nơi xảy ra bạo lực,  Cơ quan công an, Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc người đứng đầu cộng đồng dân cư khi phát hiện hoặc nhận được tin báo về bạo lực gia đình có trách nhiệm kịp thời xử lý hoặc kiến nghị, yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền xử lý; giữ bí mật về nhân thân và trong trường hợp cần thiết áp dụng biện pháp bảo vệ người phát hiện, báo tin về bạo lực gia đình.

      - Các biện pháp ngăn chặn, bảo vệ được áp dụng kịp thời để bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình, chấm dứt hành vi bạo lực gia đình, giảm thiểu hậu quả do hành vi bạo lực gây ra, bao gồm:

          + Buộc chấm dứt ngay hành vi bạo lực gia đình;

          + Cấp cứu nạn nhân bạo lực gia đình;

          + Các biện pháp ngăn chặn theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính hoặc pháp luật về tố tụng hình sự đối với người có hành vi bạo lực gia đình;

          + Cấm người có hành vi bạo lực gia đình đến gần nạn nhân; sử dụng điện thoại hoặc các phương tiện thông tin khác để có hành vi bạo lực với nạn nhân.

          - Luật phòng, chống BLGĐ quy định các tình huống mà nạn nhân có thể được áp dụng biện pháp bảo vệ đặc biệt: biện pháp cấm tiếp xúc. Biện pháp cấm tiếp xúc với nạn nhân có thể được áp dụng theo 2 cách:

          + Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra BLGĐ quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc trong thời hạn không quá 3 ngày (Điều 20);

          + Toà án đang thụ lý hoặc giải quyết vụ án dân sự quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc trong thời hạn không quá 4 tháng (Điều 21).

     Quy định về hỗ trợ nạn nhân BLGĐ

     Công tác chăm sóc nạn nhân BLGĐ được quy định tại Luật Phòng, chống BLGĐ và Thông tư 16/2009/TT-BYT ngày 22/9/2009 của Bộ Y tế hướng dẫn việc tiếp nhận, chăm sóc y tế và thống kê, báo cáo đối với người bệnh là nạn nhân bạo lực gia đình tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

     Để chăm sóc ban đầu cho nạn nhân BLGD có cơ sở trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình là nơi chăm sóc, tư vấn, tạm lánh, hỗ trợ những điều kiện cần thiết khác cho nạn nhân bạo lực gia đình. Cơ sở trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình bao gồm:

          - Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;

          - Cơ sở bảo trợ xã hội;

          - Cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình;

          - Cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình;

          - Địa chỉ tin cậy ở cộng đồng.

          Các dịch vụ chăm sóc bao gồm:

          - Chăm sóc y tế:

          - Tư vấn pháp luật: Nạn nhân cần được tư vấn pháp luật tại các cơ sở hỗ trợ nạn nhân BLGĐ (Điều 29 PCBLGĐ).

          - Tiếp cận thông tin về quyền của mình: Nạn nhân cần được tiếp cận thông tin về chính sách, pháp luật về phòng, chống BLGĐ, bình đẳng giới, quyền và nghĩa vụ của các thành viên gia đình (Điều 10 PCBLGĐ).

     Quy định về xử lý hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống BLGĐ

     Về nguyên tắc, các hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống BLGĐ tùy mức độ nghiêm trọng đều bị xử lý. Chương V Luật Phòng, chống BLGD quy định các biện pháp xử lý vi phạm pháp luật về PCBLGGĐ. Theo đó, người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống BLGĐ tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật (Điều 42).

          Thực hiện nguyên tắc này, các văn bản có quy định xử lý cụ thể:

          -  Xử lý hành chính 

          -  Xử lý hình sự

     Quy định về bồi thường cho nạn nhân BLGĐ

     Nếu nạn nhân BLGĐ bị thương tật do hành vi BLGĐ gây ra và hành vi đánh đập gây thương tích cho nạn nhân thì người có hành vi bạo lực phải bồi thường thiệt hại căn cứ trên thiệt hại thực tế xảy ra. Thiệt hại được xác định theo quy định tại Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015.

     Phối hợp liên ngành trong phòng, chống BLGĐ

     Quyết định số 21/2016/QĐ-TTg ngày 17/5/2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế phối hợp liên ngành về phòng, chống BLGĐ. Theo Quy chế, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các Bộ, ngành, cơ quan, tổ chức liên quan (Bộ Tư pháp, bộ Giáo dục và đào tạo, Bộ Y tế, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân, Đoàn Thành niên,…). Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm thực hiện phối hợp các nội dung như sau:

          - Phòng ngừa bạo lực gia đình: để thực hiện nội dung này các cơ quan cần thông tin, truyền thông, giáo dục chuyển đổi hành vi về phòng, chống bạo lực gia đình; Tư vấn, hòa giải về phòng, chống bạo lực gia đình; Phát triển các mô hình về phòng, chống bạo lực gia đình.

          - Thực hiện các biện pháp bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình: các cơ quan khi phát hiện sớm các vụ việc BLGĐ sẽ thực hiện các biện pháp tiếp nhận, bảo vệ, chăm sóc, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình.

          - Thống kê, báo cáo số liệu về phòng, chống bạo lực gia đình: Bộ Văn hóa, Thể thao và du lịch chủ trì, hướng dẫn việc thu thập, thống kê, tổng hợp, báo cáo về phòng, chống bạo lực gia đình trên phạm vi toàn quốc, các cơ quan có liên quan thực hiện báo cáo số liệu trong phạm vi địa phương hoặc lĩnh vực ngành mình quản lý.

          - Thanh tra, kiểm tra về phòng, chống bạo lực gia đình.

     Quy chế giao Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, đôn đốc các Bộ, ngành, cơ quan, tổ chức liên quan và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện Quy chế; Chủ trì, tổ chức các cuộc họp, kiểm tra, đánh giá liên ngành về phòng, chống bạo lực gia đình; Tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ về kết quả thực hiện Quy chế và các vấn đề phát sinh, vướng mắc trong quá trình triển khai, thực hiện.

thời tiết các vùng

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

Bình chọn

Đánh giá thái độ tiếp công dân của cán bộ Một cửa quận