an ninh - quốc phòng

Cơ chế giao quyền xử phạt vi phạm hành chính
Ngày đăng 08/09/2020 | 10:58

Sau hơn 07 năm thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, công tác xử lý vi phạm hành chính đã có nhiều chuyển biến tích cực, đạt hiệu quả cao, góp phần ổn định tình hình an ninh - chính trị, trật tự - an toàn xã hội, công tác quản lý nhà nước nói chung cũng như trong các lĩnh vực cụ thể của đời sống

     Bên cạnh những nội dung quy định cụ thể, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện công tác xử lý vi phạm hành chính một cách chính xác, đúng các nguyên tắc xử lý theo quy định thì Luật xử lý vi phạm hành chính và các nghị định quy định chi tiết thi hành có một số nội dung mà cách hiểu, cách áp dụng chưa được thống nhất, trong đó có nội dung về ủy quyền, giao quyền xử phạt vi phạm hành chính.

     Theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính thì thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với các chức danh đều được gọi tên cụ thể và với các chức danh quản lý thì chỉ áp dụng cho cấp trưởng. Cấp phó dù có vị trí quan trọng nhưng không có thẩm quyền xử phạt. Để thuận lợi và linh hoạt trong xử phạt, bảo đảm xử phạt kịp thời thì Luật xử lý vi phạm hành chính đã có quy định “giao quyền” xử phạt của cấp trưởng cho cấp phó tại Điều 54 (Giao quyền xử phạt), khoản 2 Điều 87 (Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính), khoản 2 Điều 123 (Tạm giữ người theo thủ tục hành chính).

     Luật thể hiện rõ cơ chế giao quyền xử phạt vi phạm hành chính tại Điều 54, cụ thể như sau:

     1. Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Điều 38; các khoản 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 39; các khoản 2, 3 và 4 Điều 40; các khoản 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 41; các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều 42; các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều 43; các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều 44; các khoản 2, 3 và 4 Điều 45; các khoản 2, 3 và 4 Điều 46; Điều 47; khoản 3 và khoản 4 Điều 48; các khoản 2, 4 và 5 Điều 49; Điều 50 và Điều 51 của Luật này có thể giao cho cấp phó thực hiện thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.

     2. Việc giao quyền xử phạt vi phạm hành chính được thực hiện thường xuyên hoặc theo vụ việc và phải được thể hiện bằng văn bản, trong đó xác định rõ phạm vi, nội dung, thời hạn giao quyền.

     3. Cấp phó được giao quyền xử phạt vi phạm hành chính phải chịu trách nhiệm về quyết định xử phạt vi phạm hành chính của mình trước cấp trưởng và trước pháp luật. Người được giao quyền không được giao quyền, ủy quyền cho bất kỳ người nào khác”.

     Khoản 2 Điều 87 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định: “Người có thẩm quyền cưỡng chế quy định tại khoản 1 Điều này có thể giao quyền cho cấp phó. Việc giao quyền chỉ được thực hiện khi cấp trưởng vắng mặt và phải được thể hiện bằng văn bản, trong đó xác định rõ phạm vi, nội dung, thời hạn được giao quyền. Cấp phó được giao quyền phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình trước cấp trưởng và trước pháp luật. Người được giao quyền không được giao quyền, ủy quyền tiếp cho bất kì cá nhân nào khác”.

     Theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật xử lý vi phạm hành chính thì: việc tạm giữ người có thể được giao quyền, tuy nhiên, trong số các chức danh có thẩm quyền tạm giữ người nêu tại khoản 1 Điều 123 Luật xử lý vi phạm hành chính, người chỉ huy tàu bay, thuyền trưởng, trưởng tàu khi tàu bay, tàu biển, tàu hỏa đã rời sân bay, bến cảng, nhà ga và thẩm phán chủ tọa phiên tòa không được giao quyền cho cấp phó. Việc giao quyền tạm giữ người được quy định chặt chẽ hơn việc giao quyền xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Điều 54 Luật xử lý vi phạm hành chính cụ thể là chỉ được thực hiện khi cấp trưởng “vắng mặt”, không được giao quyền thường xuyên. Về thủ tục, việc giao quyền phải được thể hiện bằng văn bản, trong đó xác định rõ phạm vi, nội dung, thời hạn được giao quyền. Cấp phó được giao quyền phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình trước cấp trưởng và trước pháp luật. Người được giao quyền không được giao quyền, ủy quyền cho bất kì cá nhân nào khác.

     Luật xử lý vi phạm hành chính thay đổi từ ngữ, từ “ủy quyền” thành “giao quyền”, quy định cụ thể hơn về cách thức cũng như trách nhiệm phát sinh trong quá trình thực hiện quyền được giao và mở rộng phạm vi giao quyền, không chỉ giao quyền trong xử phạt vi phạm hành chính mà cấp trưởng còn được giao quyền cho cấp phó trong việc ban hành quyết định cưỡng chế. Tuy nhiên, Luật không cho phép giao quyền trong việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính. Trên cơ sở quy định tại Điều 54 của Luật xử lý vi phạm hành chính về giao quyền xử phạt như đã nêu trên, Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính (Nghị định số 81/2013/NĐ-CP) tại khoản 4 Điều 5 quy định rõ một số nội dung về văn bản giao quyền.Theo đó, (i) văn bản giao quyền phải xác định rõ phạm vi, nội dung, thời hạn giao quyền; (ii) văn bản giao quyền phải đánh số, ghi rõ ngày, tháng, năm, ký và đóng dấu; trường hợp cơ quan, đơn vị của người giao quyền không được sử dụng dấu riêng, thì đóng dấu treo của cơ quan cấp trên; (iii) phần căn cứ pháp lý ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính của cấp phó được giao quyền phải thể hiện rõ số, ngày, tháng, năm, trích yếu của văn bản giao quyền.Tại khoản 5 Điều 5 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP cũng quy định: Người được giao nhiệm vụ đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền xử phạt, thì có thẩm quyền xử phạt và được giao quyền xử phạt như cấp trưởng (ví dụ Quyền Chánh Thanh tra).Tuy nhiên, do Luật xử lý vi phạm hành chính chưa có quy định cụ thể về việc cấp trưởng được giao quyền cho cấp phó áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính, dẫn đến có những cách hiểu và áp dụng khác nhau về vấn đề này trong thực tiễn triển khai thi hành. Vì vậy, để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc nói trên, ngày 18/8/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 97/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP, trong đó, bổ sung quy định về việc người được giao thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thì cũng có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính, đồng thời làm rõ hơn hình thức của văn bản giao quyền, cụ thể:

     - Khoản 4 Điều 5 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) quy định theo hướng, thống nhất hình thức của văn bản giao quyền là quyết định giao quyền. Theo đó, quyết định giao quyền quy định tại Điều 54, khoản 2 Điều 87 và khoản 2 Điều 123 Luật xử lý vi phạm hành chính phải xác định rõ phạm vi, nội dung, thời hạn giao quyền. Quyết định giao quyền phải được đánh số, ghi rõ ngày, tháng, năm, trích yếu, ký và đóng dấu; trường hợp cơ quan, đơn vị của người giao quyền không được sử dụng dấu riêng, thì đóng dấu treo của cơ quan cấp trên. Phần căn cứ pháp lý ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính của cấp phó được giao quyền phải thể hiện rõ số, ngày, tháng, năm, trích yếu của quyết định giao quyền.

     - Nghị định số 97/2017/NĐ-CP bổ sung khoản 5a vào sau khoản 5 Điều 5 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP, theo đó, cấp phó của những người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính được giao quyền thì có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 119 Luật xử lý vi phạm hành chính.

     - Nghị định số 97/2017/NĐ-CP bổ sung khoản 6 vào sau khoản 5a Điều 5 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP để quy định cụ thể về các trường hợp chấm dứt việc giao quyền. Theo đó, việc giao quyền chấm dứt khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: (i) Quyết định giao quyền hết thời hạn; (ii) Công việc được giao quyền đã hoàn thành; (iii) Cấp trưởng chấm dứt việc giao quyền cho cấp phó. Trong trường hợp này, việc chấm dứt giao quyền phải được thể hiện bằng quyết định; (iv) Người giao quyền hoặc người được giao quyền nghỉ hưu, thôi việc, được điều động, bổ nhiệm, luân chuyển, biệt phái, từ chức, miễn nhiệm, cách chức, giáng chức hoặc tạm đình chỉ công tác theo quy định của pháp luật; (v) Người giao quyền hoặc người được giao quyền chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; (vi) Công việc được giao quyền tuy chưa hoàn thành nhưng vụ việc phải chuyển giao cho cơ quan, người có thẩm quyền khác xử lý theo quy định của pháp luật; (vii) Người giao quyền hoặc người được giao quyền bị tạm giữ, tạm giam để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử.

thời tiết các vùng

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

Bình chọn

Đánh giá thái độ tiếp công dân của cán bộ Một cửa quận