TIN TỨC KHÁC

Trường Mầm non Trần Phú: Một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ 5-6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ trong trường Mầm non
Ngày đăng 14/08/2019 | 10:50  | View count: 23

Thực tế tại lớp tôi được giao nhiệm vụ phụ trách, hiện tại có 05 bé chậm phát triển về ngôn ngữ. Là giáo viên dạy lớp mẫu giáo lớn, với lòng yêu nghề, mến trẻ, tôi luôn chú trọng đến việc phát triển ngôn ngữ ở nhóm học sinh này. Tôi mong muốn khả năng phát triển ngôn ngữ của trẻ được cải thiện và là tiền đề giúp trẻ dễ dàng hơn trong việc giao tiếp với các bạn, nghe hiểu và làm theo yêu cầu của cô cũng như có thể nói lên được những nhu cầu, thắc mắc của mình và điều đặc biệt là chuẩn bị tiền đề cho con sẵn sàng bước vào lớp 1

A. ĐẶT VẤN ĐỀ

     I. Lý do chọn đề tài

     Tiến sĩ Maria Montessori đã từng nói: “Phát triển ngôn ngữ là một phương diện quan trọng trong sự phát triển nhân cách trẻ thơ trong 6 năm đầu đời. Ngôn ngữ góp một phần quyết định để trẻ hòa nhập với cộng đồng và trở thành một thành viên trong xã hội loài người”.

     Thật vậy, ngôn ngữ có vai trò to lớn trong sự hình thành và phát triển nhân cách của con người, đặc biệt là trẻ em. Ngôn ngữ là phương tiện giữ gìn, bảo tồn, truyền đạt và phát triển những kinh nghiệm lịch sử của xã hội loài người. Ngôn ngữ còn là phương tiện để nhận thức, là cơ sở của mọi sự suy nghĩ, là công cụ của tư duy. Ngôn ngữ giúp cho trẻ mở rộng hiểu biết về thế giới xung quanh. Sự phát triển của ngôn ngữ giúp cho hoạt động trí tuệ, các thao tác tư duy ngày càng được hoàn thiện, kích thích trẻ tích cực, sáng tạo hoạt động trí tuệ. Vì vậy, phát triển ngôn ngữ cho trẻ em là nhiệm vụ rất quan trọng, đặc biệt ở lứa tuổi mầm non. Đây là thời kỳ “phát cảm về ngôn ngữ”, giai đoạn này sự phát triển về vốn từ đạt tốc độ nhanh nhất. Cho nên những người là cha mẹ hay giáo viên trường mầm non cần quan tâm để rèn luyện phát âm và phát triển ngôn ngữ cho trẻ.

     Tuy nhiên, có một bất cập ở Việt Nam hiện nay là xã hội càng phát triển, tình trạng trẻ chậm nói ngày càng phổ biến. Nhiều khi bố mẹ đi làm về là đưa ngay cho con cái điện thoại để mình còn có thời gian làm việc nhà, chính vì vậy mà thời gian giao tiếp, trò chuyện với trẻ rất hạn chế. Còn có nhiều gia đình khác thì bố mẹ và người thân của trẻ vẫn đặt nặng tâm lý quan tâm thiên về mặt thể chất của trẻ như vấn đề chiều cao, cân nặng mà vô tình bỏ qua một yếu tố vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển của trẻ, đó là vấn đề phát triển ngôn ngữ. Nhưng không phải cha mẹ nào cũng có được niềm vui ấy, khi mà có những trẻ mỗi ngày một lớn, niềm mong mỏi nghe con nói càng tăng lên thì bé lại nói không rõ lời, nói ngọng, diễn đạt không thành câu chỉ nói được những câu mà trẻ 5 - 6 tuổi đã nói được rành rọt, hoặc “Ngập ngừng không rõ lời”. Những trẻ như vậy được gọi chung là chậm phát triển ngôn ngữ. Chậm phát triển ngôn ngữ trong lứa tuổi này có thể ảnh hưởng tới trí lực khi trẻ đến tuổi trưởng thành, bởi “vấn đề hạn chế kỹ năng ngôn ngữ thường kéo theo nguy cơ không hoà nhập được trong ngữ cảnh xã hội cũng như các hoàn cảnh phổ biến thường gặp khác” (theo một nghiên cứu của chuyên gia trị liệu về ngôn ngữ Melissa Wexler Gurfein tại New York).

     Hiện tượng chậm phát triển ngôn ngữ có thể gây ra các hệ quả về hành vi và tương tác xã hội cho trẻ trong những năm sau này của cuộc đời. Việc chậm phát triển ngôn ngữ cũng có thể dẫn tới bệnh câm có lựa chọn ở trẻ, một hội chứng mà ở đó trẻ không có khả năng nói trong một số hoàn cảnh có lựa chọn. Trẻ mắc hội chứng này có thể nói lúc ở một mình, cùng với bạn bè; nhưng không thể nói được trong môi trường học trường, nơi công cộng hoặc đối với người lạ. Nguyên nhân chính của thực trạng kể trên chủ yếu là do bố mẹ của trẻ đều quá bận rộn với công việc, với việc mưu sinh nên có quá ít thời gian trò chuyện, tâm tình cùng con trẻ để phát triển ngôn ngữ. Kênh ngôn ngữ kết nối với thế giới bên ngoài mà trẻ được tiếp xúc lại hầu hết là qua ti vi, phim ảnh chưa được chọn lọc, chỉ bảo, uốn nắn của người lớn.

     Từ phương diện giáo dục, chủ trương của cấp học mầm non nói chung đều khuyến khích các bậc phụ huynh khi ở nhà “Hãy thường xuyên nói với trẻ càng nhiều càng tốt”. Khi các bé ở trường, giáo viên mầm non đều có nhiệm vụ quan tâm đến việc trẻ nói như thế nào, có biết giao tiếp không, có biết tìm đúng từ để thể hiện nhu cầu mong muốn, suy nghĩ của mình không?

     Thực tế tại lớp tôi được giao nhiệm vụ phụ trách, hiện tại có 05 bé chậm phát triển về ngôn ngữ. Là giáo viên dạy lớp mẫu giáo lớn, với lòng yêu nghề, mến trẻ, tôi luôn chú trọng đến việc phát triển ngôn ngữ ở nhóm học sinh này. Tôi mong muốn khả năng phát triển ngôn ngữ của trẻ được cải thiện và là tiền đề giúp trẻ dễ dàng hơn trong việc giao tiếp với các bạn, nghe hiểu và làm theo yêu cầu của cô cũng như có thể nói lên được những nhu cầu, thắc mắc của mình và điều đặc biệt là chuẩn bị tiền đề cho con sẵn sàng bước vào lớp 1.

     Xuất phát từ những trăn trở trên mà tôi đã chọn đề tài: “Một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ 5 - 6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ trong trường mầm non” làm sáng kiến kinh nghiệm cho năm học này.

     II. Mục đích của đề tài

     Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với mong muốn làm phong phú thêm vốn từ cho trẻ 5-6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ.

     III. Phạm vi đối tượng khảo sát, thực nghiệm

  Trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non Trần Phú.

     IV. Phạm vi, kế hoạch nghiên cứu

     Năm học 2018- 2019

B . GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

     I. Cơ sở lý luận

     Như chúng ta đã biết ngôn ngữ có vai trò to lớn trong sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ. “Ngôn ngữ là công cụ để phát triển tư duy”, là phương tiện để giáo dục tình cảm, thẩm mỹ cho trẻ. Trong giáo dục trẻ mầm non hiện nay, chúng ta càng thấy rõ vai trò của ngôn ngữ đối với việc giúp trẻ phát triển toàn diện về mọi mặt: Đức, trí, thể, mĩ và hình thành những cơ sở ban đầu của nhân cách con người.Có thể nói, ngôn ngữ là công cụ giúp trẻ hoà nhập với cộng đồng và trở thành một thành viên của cộng đồng. Ngôn ngữ còn là phương tiện giúp trẻ tìm hiểu khám phá, nhận thức về môi trường xung quanh, thông qua cử chỉ lời nói của người lớn, trẻ sẽ được làm quen và nhận biết được màu sắc, hình ảnh, tính chất, công dụng của các sự vật, hiện tượng có trong môi trường xung quanh.

     Điều kiện sống, môi trường xã hội, các mối quan hệ giao tiếp với mọi người xung quanh là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng cũng như sự tiến bộ về ngôn ngữ của trẻ. Khi được giao tiếp chính là khoảng thời gian mà trẻ học các từ của bạn bè, cha mẹ, người thân, thì vốn từ của trẻ phát triển và chịu ảnh hưởng không nhỏ.

     Muốn làm được điều này, giáo viên mầm non phải có ý thức trau dồi ngôn ngữ, tự học, tự rèn luyện cho mình cách nói rõ ràng, ngắn gọn, chính xác, nói chuyện với trẻ đúng đắn, thân ái và lịch sự.

     II. Cơ sở thực tiễn

     1. Thuận lợi

- Trường mầm non nơi tôi công tác đã đạt trường chuẩn quốc gia mức độ 1. Trường có đầy đủ các phòng học và phòng chức năng cho trẻ hoạt động.Khung cảnh sư phạm của trường đẹp và luôn giữ vững danh hiệu “Trường học thân thiện - Học sinh tích cực”.

- Lớp được nhà trường đầu tư trang thiết bị cơ sở vật chất đảm bảo cho việc dạy và học đạt hiệu quả tốt nhất.

- Lớp luôn nhận được sự quan tâm, tạo điều kiện, chỉ đạo đầu tư về cơ sở vật chất và bồi dưỡng chuyên môn của Ban giám hiệu nhà trường.

- Ban giám hiệu đã đặc biệt đầu tư một số tư liệu, sách tham khảo rất hữu ích về vấn đề chậm phát triển ngôn ngữ của trẻ.

- Giáo viên nắm vững phương pháp dạy của các bộ môn, có ý thức trau dồi chuyên môn, được bồi dưỡng thường xuyên

- Đa số phụ huynh quan tâm đến con em mình, nhiệt tình ủng hộ chủ trương giáo dục của nhà trường.

     2. Khó khăn

- Đa số phụ huynh bận công việc hoặc một lý do khách quan nào đó nên ít có thời gian trò chuyện với trẻ và nghe trẻ nói. Nhiều bố mẹ giao hẳn nhiệm vụ đưa đón trẻ cho ông bà, anh chị nên việc phối hợp với giáo viên trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ nhiều lúc chưa được kịp thời.

- Một số trẻ còn nhút nhát, chưa mạnh dạn tự tin khi giao tiếp.

- Đặc điểm sinh lý của trẻ giai đoạn này là nhanh nhớ nhưng cũng mau quên nên trẻ chưa biết hết khối lượng các âm tiếp thu cũng như trật tự các từ trong câu. Vì thế, xu hướng trẻ thường bỏ bớt từ và âm khi nói.

Với những khó khăn trên tôi đã tìm tòi và áp dụng các biện pháp hướng dẫn trẻ chậm phát triển ngôn ngữ một cách đúng đắn nhất.

     III. Các biện pháp

     1. Biện pháp 1: Khảo sát về khả năng phát âm của trẻ

     Nhà giáo K.Đ. Usinxki đã nói: “Muốn giáo dục con người thì phải hiểu con người về mọi mặt”. Đặc điểm phát triển vốn từ của trẻ 5 tuổi: Trẻ 5 tuổi đã sử dụng các loại câu tường thuật để miêu tả sự vật, hiện tượng, con người, câu nghi vấn, câu cảm thán, câu hô ứng. Có thể nói câu gồm 4-5 chữvốn từ khoảng 1500 chữ, biết phân biệt nhiều mầu sắc, hình thể; Trẻ cũng đã có thể có những lời nói bày tỏ được cảm xúc hoặc nhu cầu, ý nghĩ và kinh nghiệm của bản thân. Bé cũng biết sử dụng lời nói để thoả thuận, trao đổi, hợp tác, chỉ dẫn bạn bè trong hoạt động vui chơi hay kể về một sự việc, hiện tượng nào đó, kể lại được nội dung chuyện đã nghe theo đúng trình tự. Do đó, nhằm nắm được tình hình thực tế khả năng nói của trẻ, tôi đã lên kế hoạch khảo sát khả năng phát triển ngôn ngữ cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ.

     * Cách thực hiện

     Bài tập được xây dựng dưới dạng các câu hỏi ngắn, dễ hiểu (có gợi ý) dựa theo nội dung các bài học phát triển ngôn ngữ mà chương trình giáo dục mầm non đã đề cập đến.

     Bài tập 1: Khả năng sử dụng từ.

Câu hỏi

Cách đánh giá

Câu 1: Dạng câu hỏi để trẻ gọi tên các đồ vật:

VD: Đây là cái gì?

Đây là quả gì?

Mức độ sử dụng từ (danh từ, tính từ, động từ, đại từ) của trẻ.

Tốt

Khá

Trung bình

Yếu

 

Câu 2: Dạng câu hỏi yêu cầu trẻ bắt chước tiếng kêu:

VD: Hãy bắt chước tiếng kêu của còi xe ô tô, tàu hỏa, xe đạp một số con vật gần gũi.

Mức độ đánh giá khả năng vận dụng vốn từ vào hoạt động của trẻ.

Tốt

Khá

Trung bình

Yếu

 

Câu 3: Dạng câu hỏi yêu cầu trẻ nói tên đồ vật theo đặc điểm màu sắc.

VD: Hãy kể  tên các loại hoa có màu đỏ, màu vàng?

 Mức độ sử dụng từ chỉ tên gọi của trẻ.

Tốt

Khá

Trung bình

Yếu

 

Bài tập 2: Khả năng ghép các từ thành câu đơn hoặc câu đơn mở rộng

Câu hỏi

Cách đánh giá

Câu 1: Dạng câu hỏi yêu cầu trẻ nói được tên gọi màu sắc của đồ vật thành một câu.

VD:   Quả cam màu gì?

          Quả chuối màu gì?

Mức độ trẻ ghép danh từ với tính từcủa trẻ.

Tốt

Khá

Trung bình

Yếu

 

Câu 2: Dạng câu hỏi yêu cầu trẻ nói tên đồ vật và tiếng kêu của nó.

VD:   Còi ô tô kêu như thế nào?

          Còi tầu hỏa kêu thế nào?

          Chuông xe đạp kêu thế nào?

Mức độ đánh giá khả năng trẻ ghép danh từ với động từ.

Tốt

Khá

Trung bình

Yếu

 

Câu 3: Dạng câu hỏi yêu cầu trẻ nói được câu đơn mở rộng.

VD:   Mẹ đang làm gì trong bức tranh này?

          Trong tranh bác sĩ đang làm gì?

Mức độ  trẻ hình thành câu đơn hoặc câu mở rộng.

Tốt

Khá

Trung bình

Yếu

 

Bài tập 3: Khả năng diễn đạt từ gắn với tình huống giao tiếp.

Câu hỏi

Cách đánh giá

Câu 1:  Dạng câu hỏi yêu cầu trẻ trả lời phù hợp với tình huống giao tiếp.

VD: Khi bà ốm, con sẽ làm gì?

Mức độ đánh giá khả năng diễn đạt gắn với tình huống giao tiếp của trẻ

Tốt

Khá

Trung bình

Yếu

 

Câu 2: Dạng câu hỏi yêu cầu trẻ sử dụng từ phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp.

VD:   Khi con được bà cho bánh con sẽ nói gì?

          Khi phạm lỗi con sẽ nói gì?

Mức độ đánh giá khả năng  trả lời đúng với tình huống giao tiếp.

Tốt

Khá

Trung bình

Yếu

 

Bảng đánh giá khả năng sử dụng từ của trẻ.

Các mức độ phát triển ngôn ngữ của trẻ

Các khả năng sử dụng từ của trẻ

Mức độ 1

Khả năng sử dụng danh từ,động từ, tính từ, đại từ.

Mức độ 2

Khả năng ghép danh từ, đại từ, tính từ thành câu đơn giản mở rộng.

Mức độ 3

Khả năng phát âm, diễn đạt gắn với tình huống.

     * Kết quả đạt được

     Căn cứ vào đặc điểm phát triển vốn từ của trẻ 5 tuổi  và bảng kết quả thu được tôi có thể đánh giá trẻ ở các mức độ khác nhau.

     Bảng số liệu kết quả theo các mức độ phát triển ngôn ngữ cho trẻ.

TT

Họ và tên trẻ

Khả năng phát âm của trẻ

Mức đạt được

MĐ1

MĐ2

MĐ3

1

Nguyễn Hải Yến

Đầu năm con nói ít, âm thanh phát ra chưa thành tiếng, rất nhỏ,.

Trung bình

Trung bình

Yếu

2

Nguyễn Gia Huy

Con nói ngọng, vốn từ của con còn hạn chế.

Trung bình

Trung bình

Trung bình

3

Nguyễn Văn Kiên

Con nói chưa rõ câu, nói hay bị ngắt quãng, con chưa biết nói thành câu có 4 đến 5 từ.

Trung bình

Yếu

Yếu

4

Nguyễn Đức Tùng

Con nhút nhát, và nói  ngọng, khả năng phát âm chưa rõ ràng.

Trung bình

Trung bình

Yếu

5

Đào Kiều Anh

Con nói rất ngọng, khă năng giáo tiếp với người khác còn hạn chế. Vì con chưa nói rõ tiếng.

Yếu

Yếu

Yếu

     2. Biện pháp 2: Xây dựng kế hoạch giúp trẻ phát triển vốn từ

     Đây là biện pháp có tính định hướng cho mọi hoạt động của giáo viên. Nhận thức được vai trò, tác dụng, hiệu quả của biện pháp này ngay từ đầu năm học tôi đã xây dựng kế hoạch phát triển ngôn ngữ cho trẻ trong một năm học.

     * Cách thực hiện

- Sáng tác, sưu tầm các bài thơ, ca dao, các bài vè

- Làm và sưu tầm những đồ dùng dụng cụ học tâp: Những đồ dùng học tập đẹp và màu sắc hấp dẫn sẽ là công cụ thu hút sự tập trung chú ý của trẻ mọi lúc mọi nơi.

- Đưa nội dung phù hợp vào các hoạt động của trẻ trong trường mầm non.

     * Kết quả

Thời gian

Biện pháp

Nội dung thực hiện

Học kì I

- Luyện tai nghe cho trẻ nhằm phát triển thính giác âm vị cho trẻ.

- Tạo điều kiện cho trẻ tập trung chú ý luyện khả năng thính giác.

 

- Trò chuyện trong giờ đón trả trẻ

- Gây hứng thú: Sử dụng các lời đồng dao, ca dao, bài hát, bài thơ, bài vè…để vào nội dung bài mới.

- Hoạt động chung: Cô chủ động hướng sự tập trung chú ý của trẻ, lắng nghe cô nhờ các đồ dung trực quan, ngôn ngữ hình thể, ngôn ngữ nói để luyện tai nghe chính xác cho trẻ.

- Ngoài giờ học: Cho trẻ nghe lại bằng các phương tiện: tivi, vi tính…

- Hoạt động vui chơi: Yêu cầu trẻ đọc cùng các bạn và các cô khi tham gia các hoạt động ngoài trời, hoạt động góc, hoạt động giao lưu - Hoạt động ăn, ngủ: Cả lớp cùng thường xuyên đọc những bài thơ nếp ăn ngủ quen thuộc hàng ngày cho trẻ nghe.

- Trò chơi: Các trò chơi dân gian với lời đồng dao dễ nhớ, dễ thuộc. Các trò chơi do cô sáng tác tạo cho trẻ hứng thú và thích tham gia sẽ rèn được khả năng tập trung nghe.

- Hoạt động ngoại khóa: Trẻ được tham dự các buổi tổ chức ngày hội, ngày lễ…do lớp, nhà trường tổ chức.

Học kì II

- Tập trung vào tăng vốn từ cho trẻ.

- Tập cho trẻ phát âm rõ ràng.

- Luyện phát âm giải thích nghĩa từ khó.

- Luyện trí nhớ cho trẻ.

- Đón trả trẻ: Tích cực cho trẻ tham gia vào các nhóm bạn để cùng trò chuyện, học hỏi vốn từ của cô và của bạn trong lớp.

- Hoạt động chung: Động viên trẻ tham gia tích cực phát âm và trả lời hệ thống kiến thức câu hỏi của cô đưa ra. Đặc biệt trong các giờ làm quen với tác phẩm văn học, hoạt động khám phá…nhằm giải thích từ khó và luyện trí nhớ cho trẻ.

- Hoạt động vui chơi: Trẻ tích cực tham gia các hoạt động vui chơi giao lưu giữa bạn chơi, vai chơi giúp trẻ tăng vốn từ và phát âm rõ ràng giúp bạn chơi hiểu được ý mình.

- Hoạt động giao lưu: Trẻ tham gia hoạt động giao lưu giữa các tổ, nhóm, các lớp với nhau.

- Ngày hội ngày lễ: Trẻ tham gia và các buổi liên hoan văn nghệ tại lớp, tổ chức tại trường.

- Hoạt động tham quan dã ngoại: Trẻ được trực tiếp tham gia vào cuối mỗi chủ đề, ngoại khóa do trường tổ chức, hoạt động tập thể do bố mẹ trẻ thực hiện vào ngày nghỉ.

     3. Biện pháp 3: Sáng tác một số bài thơ, vè nhằm phát triển vốn từ cho trẻ.

     3.1. Những bài thơ tự sáng tác

     Nhà ngôn ngữ học Regie Routman đã từng nói: “Thơ ca tạo động lực cho trẻ tập đọc, hình thành nhận thức về âm thanh vần điệu, xây dựng các kỹ năng quan trọng như từ vựng, khả năng nói lưu loát, diễn cảm và sáng tác”. Nhận biết được tầm quan trọng của thơ ca đối với trẻ, đặc biệt là với trẻ chậm phát triển ngôn ngữ nên tôi đã sáng tác một số bài thơ giúp trẻ phát triển ngôn ngữ được tốt hơn. Hơn nữa, trong các bài thơ tôi đã sử dụng một số thủ pháp nghệ thuật đơn giản như: Láy vần, láy âm, láy hình ảnh giúp trẻ dễ đọc, dễ nhớ, dễ liên tưởng vì vậy trẻ không chỉ phát triển ngôn ngữ mà còn phát triển tư duy, trí tưởng tượng tốt hơn.

Bài thơ: Cô giáo

Hôm nay đến trường

Có nhiều điều lạ

Thấy cô xinh quá

Như thể mẹ hiền

Các bạn xúm bên

Quanh cô giáo mới

Cô ân cần hỏi

Con mấy tuổi rồi

Khoanh tay trả lời

Con 5 tuổi ạ!

Bài thơ: Giờ ăn

Giờ ăn đến rồi

Bé đi lấy ghế

Nhẹ nhàng bạn nhé

Không tranh giành nhau

Bạn trước tôi sau

Xếp hàng thẳng thắn

Ngồi bàn ngay ngắn

Nhớ khoanh tay vào

Chớ có ồn ào

Kẻo cô buồn đấy.

Bài thơ: Bé và mặt trời

Hôm nay bé dậy

Đã thấy mặt trời

Lấp lánh nụ cười

Như đang mời gọi

Gật gù đáp lại

Ánh mắt long lanh

Bé dậy thật nhanh

Cùng đi học nhé

Mặt trời lặng lẽ

Ánh mắt yêu thương

Cùng bé đến trường

Học bao điều lạ

Bé thấy vui quá

Háo hức niềm vui

Bé và mặt trời

Là đôi bạn tốt.

     3.2. Những bài vè do cô tự sáng tác

     Có thể nói Vè là một trong những thể loại văn học dân gian Việt Nam. Đối với trẻ mầm non, đặc biệt là trẻ chậm phát triển ngôn ngữ thì những bài vè lại càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nhận thấy được điều đó nên tôi đã nghiên cứu và sáng tác ra một số bài vè phù hợp với trẻ để giúp trẻ phát triển vốn từ một cách tự nhiên nhất.

     Khi dạy trẻ tìm hiểu về những người thân trong gia đình tôi đã sáng tác những  bài vè về mẹ giúp trẻ cảm nhận được sự vất vả và tình thương của mẹ dành cho bé.

Bài 1: Vè về mẹ

Ve vẻ vè ve

Nghe vè về mẹ

Người luôn tần tảo

Vất vả sớm hôm

Nuôi bé lớn khôn

Chính là mẹ đấy

Mỗi ngày bé thấy

Yêu mẹ biết bao

Bé luôn tự hào

Là con của mẹ

Vè ve ve vẻ

Ve vẻ vè ve

Bài 2 : Vè hoa

Ve vẻ vè ve

Vè hoa tớ kể

Dịu dàng e lệ

Là đóa hoa quỳnh

Nở rộ trắng tinh

Hoa nhài thơm ngát

Đóa hồng Đà Lạt

Trước gió rung rinh

Bạn ơi chúng mình

Ngắm hoa và nhớ

Không ngắt cành lá

Đừng hái hoa tươi

Hoa yêu mọi người

Nên hoa nở rộ.

Bài 3: Vè chim

Ve vẻ vè ve

Vè chim bạn nhé

Tính ưa sạch sẽ

Đậu ở cành cao

Dang cánh vẫy chào

Là chim Chiền Chiện.

Rất thích hùng biện

Lại rất ham chơi

Hãy nhớ bạn ơi

Chích Chòe là tớ.

Bộ lông rực rỡ

Đầu đội mũ cao

Đích thị Chào Mào

Làm sao quên được.

Nói hươu nói vượn

Chèo Bẻo bạn ơi.

Ăn mặc lôi thôi

Chìa Vôi bạn nhớ

Hãy cùng với tớ

Mình kể tiếp nào

Bạn thử xem sao

Vè chim thú vị.

Bài 4: Vè về chữ e - ê

Ve vẻ vè ve

Nghe vè Bé nhé

Chữ e đẹp đẽ

Gồm một nét cong

Cộng thêm cô nàng

Nét cong hở phải

Nắng mưa không ngại

Có mũ đội đầu

Ê đi đến đâu

E đi đến đó

E – Ê gắn bó

Như là bạn thân

Bài 5: Vè bé nhớ

Ve vẻ vè ve

Cái vè bé nhớ

Chớ có hét to

Không nên khóc lóc

Khi bé bị lạc

Phải thật bình tĩnh

Bình tĩnh, bình tĩnh

Nhờ sự giúp đỡ

Của chú công an

Của bác bảo vệ

Ở nơi gần nhất

Gần nhất, gần nhất

Điều quan trọng nhất

Điện thoại mẹ cha

Địa chỉ của nhà

Không lo bị lạc

Bài 6: Vè ba cô gái

Ve vẻ vè ve

Nghe vè kể chuyện

Mẹ sinh con gái

Tất cả ba cô

Vất vả, gian nan

Nuôi con khôn lớn

Lần lượt các cô

Đi xa theo chồng

Để lại mẹ già

Một mình heo quạnh

Lòng thương nhớ con

Mẹ già ốm nặng

Phải nhờ Sóc con

Chuyển thư gái mẹ

Cô cả thương lắm

Nhưng không về ngay

Giặt áo giặt khăn

Mới thăm mẹ được

Cô hai nhớ lắm

Ngồi khóc tu tu

Hu hu hu hu

Mẹ ơi mẹ ời

Nhưng con phải ngồi

Xe xong đống sợi

Nghe tin mẹ ốm

Cô ba vội vã

Về thăm mẹ ngay

Chăm mẹ đêm ngày

Mong cho mẹ khỏi

Người con hiếu thảo

Chính là cô Ba.

Bài 7: Vè đố bạn

Ve vẻ vè ve

Nghe vè về chữ

Bạn nghe cho kỹ

Đoán xem chữ gì ?

Chữ gì, chữ gì ?

Bên trái tôi là

Anh chàng nét thẳng

Đứng ngay bên cạnh

Cô nàng dễ thương

Cong tròn khép kín

 

Mời bạn xếp ngay

Thành ra chữ gì ?

Chữ p, chữ p.

Bạn nghe tiếp nhé

Chữ này dễ thôi

Đổi chỗ chúng tôi

Cong tròn nét thẳng

Xếp cho ngay ngắn

Tạo ra chữ gì

Chữ gì, chữ gì?

Chữ q – chữ q

     * Kết quả

     Trong năm học vừa qua tôi đã sáng tác được 3 bài thơ, 7 bài vè. Sau khi cho trẻ đọc các bài thơ, bài vè để phát triển ngôn ngữ tôi nhận thấy trẻ đã có một số tiến bộ rõ nét: trẻ có một trạng thái học nói tự nhiên, trẻ bắt chước, tập nói và ghi nhớ lâu những từ ngữ mới học được.

     4. Biện pháp 4: Sáng tác, chuyển thể một số trò chơi giúp trẻ phát triển vốn từ một cách tự nhiên và nhẹ nhàng nhất

     Hoạt động chủ yếu của trẻ mầm non là “Học mà chơi - Chơi mà học”. Trò chơi chiếm giữ một vị trí quan trọng trong các hoạt động giáo dục ở trường mầm non. Thông qua trò chơi, trẻ sẽ được thực hành ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ để nói ra những ý nghĩ của mình và học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm với bạn.

     * Cách thực hiện

 - Tôi tìm hiểu các trò chơi giúp cho quá trình phát triển của trẻ trên các trang web, trên mạng Internet, tự đặt mình ở vị trí của trẻ chơi thử để trải nghiệm và rút ra những điểm hợp lý hoặc thời gian nào nên áp dụng thì đạt hiệu quả hơn.

     4.1. Trò chơi vận động phát triển ngôn ngữ

     a. Trò chơi vòng xoáy kì diệu

- Mục đích trò chơi: Phát triển việc thở ra đều, mạnh.

- Chuẩn bị: Đất nặn, ống hút, bóng nhựa nhỏ.

- Cách tiến hành: Lăn đất thành những sợi dài, sau đó cô hướng dẫn trẻ cuốn những dải đất đó thành vòng tròn sao cho khoảng cách giữa hai dải đất vừa đủ cho một quả bóng nhỏ lăn. Cô hướng dẫn trẻ dùng ống hút thổi quả bóng sao cho quả bóng lăn từ ngoài vào trong tâm của vòng tròn.Điều quan trọng của trò chơi này là theo dõi việc thở ra của trẻ. Để kích thích khẩu ngữ của trẻ, cô đặt các câu hỏi: “Quả bóng lăn đến đâu rồi?”

     b . Trò chơi: Chiếc cốc biết đi

- Mục đích của trò chơi: Phát triển việc hít sâu và thở mạnh ra.

- Chuẩn bị: 3 – 4 chiếc cốc nhựa, 1 đoạn dây dài 3 – 4 m.

- Cách tiến hành: Lồng cốc vào sợi dây sau đó buộc hai đầu sợi dây lên cao sao cho chiều cao của sợi dây phù hợp với trẻ. Trẻ thổi chiếc cốc từ đầu sợi dây cho đến cuối sợi dây.

     c . Trò chơi: Dàn nhạc đặc biệt.

- Mục đích trò chơi: Phát triển việc tiếp nhận âm thanh cho trẻ

- Chuẩn bị: 6 cái hộp và 3 loại vật liệu hạt rời (ngũ cốc hạt cườm, đường)

- Cách thực hiện: Cô phát cho trẻ một bộ còn bộ kia cô giữ lại. Cô cầm và lắc bất kì một “thùng” và yêu cầu trẻ tìm trong bộ của mình cái thùng có âm thanh y như thế. Khi trẻ đã biết cách chơi, cô tăng dần số lượng hộp. Khi chơi, cô nghĩ ra nhiều tên gọi khác nhau cho từng dụng cụ đó như: tiếng ồn, quả bom để gây hứng thú cho trẻ vì trẻ em rất thích điều đó.

     d. Trò chơi: Bài hát kì diệu.

- Mục đích trò chơi: Hát những nguyên âm

Nguyên âm biểu hiện vẻ đẹp của ngôn ngữ vì thế cần một phát âm rõ ràng: phát âm “a” miệng mở rộng (như cái cửa sổ nhỏ). Phát âm “o” đôi môi tròn lại một tí và giơ ra phía trước (như cái ống nhỏ) phát âm “i” môi cười thấy được răng (như hàng rào nhỏ)

- Chuẩn bị: 4 cái hộp (mỗi cái hộp giành cho 1 nguyên âm) trên mỗi hộp vẽ khuôn mặt người: mắt, tai, mũi, môi với diễn đạt âm thanh cần thiết.

- Cách tiến hành: Cô chỉ cho bé trình tự để bé có thể đoán được cần hát âm gì?

     e. Trò chơi: Chiếc hộp kì lạ

- Mục đích trò chơi: Nhận biết đồ vật qua cảm ứng.

- Chuẩn bị: Một chiếc túi không trong suốt để trẻ không nhìn thấy những đồ vật bên trong. Cho vào đó những đồ vật có hình oval và hình tròn như quả trứng quả bóng cái hộp bóng lục lạc.

- Cách tiến hành: Cô cho trẻ sở thử những vật liệu trên trước khi cho vào bao. Sau đó đề nghị trẻ tìm vật cần thiết qua cảm ứng.

     g . Trò chơi với đôi tay

     Với trò chơi với đôi bàn tay cô tạo các hành động của đôi tay để trẻ học từ. VD dùng bàn tay như kim đồng hồ và nói “tích tắc tích tắc - đồng hồ quả lắc - tích tắc tích tắc”.

     h . Trò chơi: Ai gọi đấy

- Mục đích của trò chơi: Phát triển việc tiếp nhận âm thanh.

- Chuẩn bị: Điện thoại do cô tự chế bằng cốc nhựa và 1 đoạn dây.

- Cách tiến hành: Cô đóng vai người gọi điện thoại, trẻ nhận điện thoại và trả lời các câu hỏi của cô.

     i . Trò chơi: Bạn nào xinh thế

- Mục đích của trò chơi: Trẻ nói được tên mình, nói được mình là bạn trai hay gái, biết mình đang mặc trang phục gì.

- Chuẩn bị: Gương cho trẻ soi

- Cách tiến hành: Cho trẻ ngồi soi gương và hỏi trẻ: “Con thấy ai trong gương? Đó là bạn trai hay bạn gái? Bạn đang mặc gì? Trông bạn như thế nào?”

     4.2. Trò chơi có lời thơ nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ.

     a . Trò chơi đối đáp

: Cốc cốc cốc - Trẻ: Ai gọi đó?

: Tôi là thỏ - Trẻ: Nếu là thỏ, cho xem tai.

Khi đã quen với trò chơi này, cô có thể thay bằng những con khác như thỏ, nai để các con được sáng tạo.

: Tôi là mèo - Trẻ: Nếu là mèo, kêu meo meo.

b. Trò chơi Thỏ xám rửa mặt

Trẻ đọc thơ và thể hiện các ý thơ bằng các động tác cơ thể.

Thỏ xám rửa mặt

Chuẩn bị đi chơi

Đầu tiên lau mắt

Rồi hai lỗ mũi

Tiếp đến lau mồm

Sau rồi rửa tai

Lau khô sạch sẽ.

 

     c. Trò chơi thể hiện ý thơ bằng động tác cơ thể

Nước ơi, nước ơi

Lại đây với bé

Cho bé rửa mặt

Cho bé sạch sẽ

Rồi bé đi chơi

Mắt bé sáng ngời

Nụ cười xinh xắn.

Với những động từ, bé sẽ mô phỏng được bằng điệu bộ. Với cụm “mắt sáng ngời”: bé chớp chớp mắt; “nụ cười xinh xắn”: bé cười duyên.

     * Kết quả

Như cháu Hải Yến  khi mới đi học cháu nói rất ít , cháu cách biệt và rất ít giao lưu nói chuyện với bạn, với cô nhưng sau một thời gian cháu đã biết trò chuyện với cô khi cô ngồi cạnh con nói chuyện:“Nhà con có những ai” và khi đến lớp con đã biết khoanh tay chào cô, chào các bạn.

Cháu Gia Huy khi đi học cháu nói ngọng, cô và các bạn nhiều khi còn không dịch được con nói gì, từ đó con rất hay bực tức và con cũng hạn chế không giao tiếp với cô và bạn mấy và  nhưng đến cuối năm con đã nói rõ tiếng, câu. Khi con muốn diễn đạt điều gì cô và các bạn cũng hiểu ý của con nên con đã bớt tự ti, thu mình.

     5. Biện pháp 5: Phát triển vốn từ và uốn nắn từ ngữ cho trẻ thông qua các hoạt động

     Trẻ 5 tuổi phát âm theo các âm chuẩn Tiếng việt đôi lúc còn chưa được tròn vành, rõ chữ vì ở lứa tuổi này trẻ đang trong quá trình phát triển về âm, nếu được sửa trẻ có thể tự điều chỉnh để nói cho đúng. Trẻ nhỏ học nói bằng cách dựa vào người lớn vì vậy trò chuyện với trẻ là phương pháp ưu việt để dạy trẻ học nói, cô giáo cần nói với âm điệu nhẹ nhàng, âu yếm tạo được sự giao tiếp tình cảm giữa người nói với trẻ để kích thích nhu cầu học nơi trẻ. Trẻ học nói thông qua các hoạt động trên lớp và trong sinh hoạt hằng ngày, vì vậy cần nói chuyện với trẻ càng nhiều càng tốt, trong mọi lúc mọi nơi. Trò chuyện ở trẻ để hình thành ở trẻ các từ, các khái niệm, các kí hiệu tượng trưng của sự vật hiện tượng. Ban đầu các biểu tượng này rời rạc sau này có liên hệ với nhau. Người lớn dạy trẻ và phát triển vốn từ cho trẻ, dạy trẻ cách giao tiếp cởi mở, tự tin.

     5.1. Thông qua hoạt động học

     Khi tổ chức hoạt động chung tôi cho những trẻ chậm phát triển ngôn ngữ ngồi gần và đối diện với cô để giúp trẻ có thể nghe rõ và nhìn khẩu hình miệng của cô mà hiểu cô muốn nói gì để trẻ cảm thụ tiết học tốt nhất. Tôi cũng thường tạo những tình huống để trẻ phát triển vốn từ như:

     Trong giờ khám phá về các con vật hay khám phá các phương tiện giao thông tôi thường cho trẻ nghe tiếng kêu của con vật, tiếng còi của một số loại phương tiện giao thông

- Tạo tình huống để trẻ ghép các từ thành câu đơn hoặc câu mở rộng.

Ví dụ: Nếu như chiếc cốc thủy tinh này bị rơi, điều gì sẽ xảy ra?

- Những lần sau tôi đã tích cực hóa lời nói của trẻ khi quan sát. Những lúc trẻ lúng túng, tôi đã gợi ý và giúp trẻ trả lời cho chính xác.

Hay khi cho trẻ làm quen với toán tôi cũng luôn chú ý để gọi những bạn nhút nhát, hay nói ngọng để có thể sửa sai cho trẻ.

Bên cạnh việc phát triển vốn từ cho trẻ trong các hoạt động hằng ngày của trẻ ở trường mầm non tôi luôn chú ý lắng nghe trẻ phát âm mọi lúc, mọi nơi để uốn nắn từ ngữ cho trẻ, cho trẻ phát âm nhiều lần và sửa lỗi kịp thời cho trẻ.

     5.2. Thông qua hoạt động vui chơi

     Ở trường mầm non trẻ được tham gia các rất nhiều các hoạt động. Trong các hoạt động đó thì giờ chơi là thời gian mà trẻ được thoải mãi tự do và được nói nhiều nhất. Cho nên khi giao tiếp tôi thường trả lời rõ rang, dễ hiểu những câu hỏi của trẻ và đưa thêm từ mới vào nội dung chơi cho trẻ. Khi trẻ chơi tôi chú ý quan sát và sửa sai cho trẻ. Khi thấy trẻ phát âm sai tôi cung cấp ngay âm đúng và cho trẻ nói lại.

     5.3. Thông qua hoạt động ngoài trời

     Hoạt động ngoài trời là một hoạt động không thể thiếu trong chế độ sinh hoạt một ngày của trẻ. Nếu không được tham gia các hoạt động ngoài trời, sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý, tình cảm, kỹ năng giao tiếp và sự phát triển ngôn ngữ của trẻ, có thể khiến trẻ mất tự tin, thiếu sự linh hoạt, khó hòa đồng. Vì vậy, trong các hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ không thể thiếu các hoạt động ngoài trời. Đây là một trong những hoạt động vui chơi mà trẻ hứng thú nhất, mang lại cho trẻ nhiều niềm vui và kiến thức cần thiết về thế giới xung quanh trẻ.

Ví dụ: Khi cho trẻ quan sát vườn hoa tôi thường đặt câu hởi mang tính gợi mở để trẻ suy nghĩ và trả lời:

+ Con hãy kể tên các loại hoa có trong vườn?Nó có những đặc điểm gì?

Khi đó trẻ sẽ suy nghĩ để có trẻ trả lời được các câu hỏi của cô, trẻ thảo luận về các câu trả lời với các bạn trong lớp sẽ giúp trẻ phát triển ngôn ngữ.

  Khi tham gia hoạt động ngoài trời phần lớn trẻ sẽ rất thích chơi các trò chơi vận động. Tôi thường chọn những trò chơi dân gian như: Mèo đuổi chuột, rồng rắn lên mây…là những trò chơi vận động có lời thơ để giúp trẻ vừa phát triển thể lực vừa phát triển ngôn ngữ một cách tự nhiên nhất.

     * Kết quả

     Qua những lần trò chuyện giữa cô và trẻ trong các hoạt động học và chơi, trẻ đã bắt chước được cách phát âm của cô qua khẩu hình miệng để chính xác được vốn từ. Qua đó ngôn ngữ của trẻ phát triển, phát âm của trẻ bớt ngọng. Nhờ vào việc cô giáo luôn lắng nghe trẻ phát âm và giúp đỡ trẻ phát âm đúng thì bây giờ trẻ đã có thể sử dụng và phát âm đúng từ và sử dụng từ ngữ phù hợp với hoàn cảnh trẻ được tham gia. Âm điệu trẻ nói cũng tròn tiếng hơn.

Ví dụ: Cháu: Kiều Anh đã biết sử dụng từ ngữ với hoàn cảnh tham gia, biết thể hiện vai chơi của mình như: Đóng vai bác sĩ hỏi bệnh nhân: “Bác bị đau ở đâu?, “Bác có sốt  không? Bác cảm thấy trong người như thế nào?”.

     6. Biện pháp 6: Phối kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội

Để ngôn ngữ của trẻ phát triển tốt thì việc giáo dục không chỉ là của cô giáo, của nhà trường mà cần có sự phối hợp của gia đình và xã hội.

     6.1. Phối kết hợp với phụ huynh trong giáo dục trẻ

     Gia đình có vai trò đặc biệt trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Vì vậy giữa cô giáo và phụ huynh phải có mối liên hệ chặt chẽ để phối hợp thực hiện chương trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách có hiệu quả.

     * Cách thực hiện

     Tôi thường xuyên chủ động trao đổi với phụ huynh trong giờ đón trả trẻ, trong các buổi họp phụ huynh. Qua những chia sẻ của phụ huynh, tôi đã nắm bắt được đặc điểm riêng của từng trẻ chậm phát triển ngôn ngữ ở lớp mình như:

     Cháu Kiều Anh: Sau khi tôi trao đổi với phụ huynh thì nhận được phản hồi từ gia đình: Bố cháu mất, mẹ đi công tác tận Sơn La cả tháng mới về thăm con một lần. Từ nhỏ, cháu chỉ ở nhà với ông bà ngoại. Ông bà thương cháu nên suốt ngày cho cháu chơi điện thoại. Khi đi lớp tư thục, các bạn đều tránh xa cháu vì chê cháu ở bẩn nhưng thực chất là cháu bị bệnh viêm da cơ địa người cháu luôn bong chóc da, nổi mề đay khắp người. Qua trao đổi, tôi luôn khuyến khích ông bà thay bố mẹ cháu là hãy thường xuyên nói chuyện và chơi với cháu thay cho việc cứ để cháu xem tivi, diện thoại như trước. Sau một thời gian đi học đều, tôi đã giải thích với các bạn ở lớp về bệnh cũng như hoàn cảnh của con nên các bạn ở trong lớp không xa lánh mà luôn chơi với cháu, từ đó cháu Kiều anh đã nói được rất nhiều và chơi hòa đồng với các bạn.

     Trường hợp cháu Gia Huy lớp tôi là một bé rất ngoan. Khi nhận lớp, mẹ cháu chủ động trao đổi với các cô rằng, cháu chậm nói giống chị của cháu. Trong quá trình dạy trẻ, tôi cũng nhận thấy dù cháu tiếp thu bài khá tốt nhưng lại nói ngọng và nhút nhát nên qua một thời gian học tập tại lớp, vốn từ của cháu vẫn không tăng nhiều. Vì vậy, tôi có trao đổi với mẹ là nên đưa cháu đi khám bác sĩ. Mẹ cháu đưa con đi khám ở khoa phục hồi chức năng bệnh viện nhi Trung Ương. Nhưng vì gia đình không có điều kiện để đưa đón nên đã mời chuyên gia về tận nhà để hướng dẫn cho con ngay tại nhà với thời lượng là 2 buổi mỗi tuần.

     Bên cạnh việc trao đổi trực tiếp với phụ huynh, tôi còn làm bản tin về chương trình dạy theo chủ đề trong tuần cùng như cập nhật những bài viết hay, bổ ích về phát triển ngôn ngữ để cha mẹ học sinh cùng đọc cùng chia sẻ.

     * Kết quả: Qua những biện pháp tuyên truyền trên, khả năng phát tiển vốn từ của trẻ tăng nên rất nhanh. Cháu Kiều Anh đã hát được hết một bài hát và nói được câu có 5-6 từ trở lên; cháu Gia Huy khi có sự can thiệp sớm thì vốn từ được cải thiện, nhờ nói rõ ràng hơn nên bé cũng tự tin hơn. Những trẻ khác cũng có những chuyển biến tích cực như cháu Hải Yến, Văn Kiên  - cũng nằm trong số trẻ chậm phát triển của lớp cũng đã nói được một câu dài và trả lời đúng ý câu hỏi của người khác.

     6.2. Tăng cường cho trẻ tham gia các hoạt động xã hội.

     Xã hội chính là môi trường giúp trẻ phát triển ngôn ngữ. Việc phát triển vốn từ cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ rất cần có sự phối hợp từ phía cộng đồng. Chính vì vậy, tôi đã chọn hình thức tăng cường cho trẻ tham gia hoạt động xã hội là một phần trong biện pháp của mình.

     * Cách thực hiện.

- Cho trẻ tham gia hoạt động giao lưu

- Cho trẻ tham dự các hoạt động văn nghệ chào mừng ngày hội ngày lễ.

- Cho trẻ tham gia các hoạt động ngoại khóa do nhà trường tổ chức.

- Tuyên truyền với các gia đình cho trẻ tham gia các hoạt động vui chơi trong ngày nghỉ.

     * Kết quả

     Sau khi được tham gia các hoạt động trẻ được hiểu biết và thể hiện được bản thân mình. Trẻ thực sự mạnh dạn hơn khi đứng trước tập thể. Trẻ mong muốn được nói, được giao lưu và được diễn đạt ý của mình trước mọi người.

     IV. Kết quả đạt được

     * Đối với giáo viên

     Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho bản thân đặc biệt là nắm rõ được nội dung, đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ lớp mình và các hình thức, phương pháp giáo dục ngôn ngữ cho trẻ. Sau những khó khăn của buổi đầu nhận lớp, với sự cố gắng, nỗ lực thực hiện nghiêm túc những biện pháp trên, tính đến cuối năm học 2018 - 2019, tôi rất hạnh phúc, tự hào khi chứng kiến sự phát triển và thay đổi theo hướng tích cực của trẻ mỗi ngày đến lớp, thấy trẻ ham học, vui chơi nói chuyện với các bạn, hoạt bát, tự tin với vốn từ của mình. Từ đó, tôi có thêm động lực để cố gắng phấn đấu hơn nữa trong công việc chăm sóc và giáo dục trẻ, tự tin đưa ra các bài tập, các nhiệm vụ để trẻ thực hiện.

     * Đối với trẻ

- Vốn từ ngày càng nhiều, bớt nói ngọng. Các bé đã nghe hiểu thực hiện yêu cầu của cô, có tinh thần hợp tác, chủ động hơn trong các hoạt động.

- Trẻ mạnh dạn hơn trong giao tiếp với các bạn so với đầu năm  học.

     Bảng kết quả sau khi thực hiện các biện pháp

TT

Họ và tên

Kết quả sau khi khảo sát trẻ, nhằm phát triển vốn từ cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ

Mức đạt được

MĐ1

MĐ2

MĐ3

1

Nguyễn Hải Yến

Con đã phát âm thành tiếng. Biết nói các câu phức.

Tốt

Tôt

Tốt

2

Nguyễn Gia Huy

Con đã nói rõ câu, biết nói thành câu dài và vốn từ của con phong phú hơn.

Tốt

Tốt

Tốt

3

Nguyễn Văn Kiên

Qua các hoạt động học và tham ra trò chơi, con đã nói to, nhưng có một số từ khó con nói còn ngọng như âm “r” tháng âm “g”

Tốt

Khá

Tốt

4

Nguyễn Đức Tùng

Con đã nói to và rõ ràng hơn nhiều, khả năng giao tiếp của con tốt.

Tốt

Tốt

Tốt

5

Đào Kiều Anh

Con đã bớt nói ngọng hơn rất nhiều, con biết cách giao tiếp với mọi người xung quanh.

Tốt

Khá

Khá

     * Đối với phụ huynh

     Từ những ngày đầu với những mặc cảm, thậm chí tự tự ti về con em mình không được như chúng bạn cùng lứa tuổi. Nhưng qua quá trình thực hiện đề tài mới và những tiến bộ của chính con em họ giờ đây phụ huynh đã nhận thức rõ tầm quan trọng của cha mẹ đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ và vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát triển về trí lực và thể lực đối với trẻ.

     Giờ đây khoảng cách giữa phụ huynh và giáo viên đã trở nên thân thiện và xây dựng được niềm tin của phụ huynh đối với cô giáo, phấn khởi với kết quả học tập của con em mình.

     * Đối với xã hội

     Nhờ có những biện pháp hữu hiệu mà tôi đã đưa ra đã đóng  góp tích cực đối với môi trường xã hội. Góp phần cùng xã hội giải quyết một vấn đề đang ngày càng thu hút nhiều sự quan tâm: “Trẻ chậm nói”. Đặc biệt với sáng kiến của mình tôi đã góp phần làm giảm tỉ lệ trẻ chậm nói cho xã hội mà cụ thể là môi trường lớp A4 tại trường mầm non nơi tôi công tác.

C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

     I. Kết luận

     Phát triển ngôn ngữ cho trẻ giữ vai trò to lớn trong việc hình thành và phát triển ngôn ngữ - phương tiện phát triển tư duy và là công cụ hoạt động trí tuệ. Với tầm quan trọng đó, giáo viên mầm non càng phải là người chủ động thường xuyên tiến hành việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Các biện pháp đã nêu trong đề tài đóng vai trò quan trọng, trong đó giáo viên phải là người chủ đạo thường xuyên tiến hành việc phát triển vốn từ cho trẻ. Trong các biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ trò chơi học tập cũng có một vai trò quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển vốn từ cho trẻ, bởi lẽ đặc điểm ở lứa tuổi mẫu giáo trẻ “học mà chơi”.

     Qua thực nghiệm cho thấy việc sử dụng trò chơi và áp dụng một số biện pháp để phát triển vốn từ cho trẻ là rất hiệu quả. Kết quả ban đầu cho thấy đã có tác dụng tích cực đến trẻ cả về khả năng sử dụng từ, khả năng ghép từ thành câu và câu đơn mở rộng (ở trẻ chậm phát triển ngôn ngữ) và khả năng diễn đạt từ gắn với tình huống giao tiếp của trẻ ở độ tuổi mẫu giáo lớn.

     Để giáo dục phát triển phát triển ngôn ngữ cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn đạt kết quả cao, tôi rút ra một số kinh nghiệm sau:

     - Giáo viên cần hiểu rõ tầm quan trọng của ngôn ngữ với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ.

     - Bản thân giáo viên không ngừng học tập để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tự trau dồi vốn từ, rèn luyện ngôn ngữ để phát âm chuẩn tiếng Việt, tránh các lỗi thông thường như sử dụng từ tối nghĩa, câu dài lan man, thiếu thành phần câu.

     - Để phát triển ngôn ngữ của trẻ một cách toàn diện thì giáo viên cần phải thực hiện 3 nhiệm vụ:

+ Làm giàu vốn từ của trẻ qua việc hướng dẫn trẻ quan sát, đàm thoại, hướng dẫn trẻ vui chơi, kể chuyện và đọc chuyện cho trẻ nghe.

+ Củng cố vốn từ cho trẻ.

+ Tích cực hóa vốn từ của trẻ.

     -  Giáo viên cần phát huy, sáng tạo các nội dung bài học để phát triển vốn từ của trẻ.

     II. Kiến nghị

     Các bậc phụ huynh cần quan tâm hơn nữa về quá trình lớn lên của trẻ, nhất là khả năng phát triển ngôn ngữ cho trẻ trong giai đoạn lứa tuổi mầm non. Bởi vì “phát triển được ngôn ngữ tốt sẽ là tiền đề giúp trẻ phát triển được trí tuệ tốt”.

     Ban giám hiệu nhà trường triển khai tập huấn, tọa đàm để giáo viên trao đổi kinh nghiệm phát triển ngôn ngữ cho trẻ.

thời tiết các vùng

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

Bình chọn

Đánh giá thái độ tiếp công dân của cán bộ Một cửa quận