TIN TỨC KHÁC

Trường THCS Hoàng Văn Thụ: Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh qua văn bản “Cây tre Việt Nam”
Ngày đăng 14/08/2019 | 16:35  | View count: 24

Đổi mới giáo dục, nâng cao hiệu quả và chất lượng dạy - học đang là những yêu cầu cấp bách, cần thiết đối với tất cả các giáo viên, tất cả các nhà trường. Việc viết sáng kiến kinh nghiệm chính là một trong những việc làm thiết thực, cụ thể, để mỗi giáo viên trao đổi, học hỏi từ bạn bè đồng nghiệp nhằm nâng cao, trau dồi chuyên môn nghiệp vụ, hướng đến thực hiện tốt khẩu hiệu “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương sáng, tự học và sáng tạo”. Dưới đây là sáng kiến kinh nghiệm: Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh qua văn bản “Cây tre Việt Nam” sáng kiến đã đạt giải C cấp Quận

A. ĐẶT VẤN ĐỀ

     I. Lí do chọn đề tài:

     Việc đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi những điều kiện thích hợp về phương tiện, cơ sở vật chất và tổ chức dạy học, điều kiện về tổ chức, quản lý. Ngoài ra, phương pháp dạy học còn mang tính chủ quan. Mỗi giáo viên với kinh nghiệm riêng của mình cần xác định những phương hướng riêng để cải tiến phương pháp dạy học và kinh nghiệm của cá nhân.

     Một trong những định hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ nền giáo dục mang tính hàn lâm, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việc hình thành năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học. Định hướng quan trọng trong đổi mới phương pháp dạy học nói chung và đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS nói riêng là phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực cộng tác làm việc của người học. Đó cũng là những xu hướng tất yếu trong cải cách phương pháp dạy học ở mỗi nhà trường.

     Bản thân tôi là một người giáo viên, bên cạnh việc tự trau dồi chuyên môn, kiến thức cho mình thì cần phải có được phương pháp giáo dục hiệu quả để đem lại cho học sinh những bài học bổ ích, lý thú và ý nghĩa; đặc biệt là để các em có thể vận dụng các kiến thức đó vào thực tế cuộc sống.

     Và sau một thời gian trải qua quá trình dạy học thực tế bộ môn Ngữ văn 6 ở trường THCS, sau đây, tôi xin được chia sẻ một vài kinh nghiệm nhỏ trong việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh mà tôi đã rút ra được.

     II. Phạm vi nghiên cứu:

     Đề tài xoay quanh việc nghiên cứu giảng dạy và học tập với bộ môn Ngữ văn 6. Đối tượng nghiên cứu mà tôi áp dụng cho đề tài này là học sinh lớp 6B trường THCS.

III. Phương pháp nghiên cứu:

Nghiên cứu các tài liệu về phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh.

Sách giáo khoa, sách bài tập, sách giáo viên Ngữ văn 6, bài Cây tre Việt Nam. Soạn giáo án, dự giờ đồng nghiệp trao đổi rút kinh nghiệm qua từng tiết dạy. Sử dụng phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh: thuyết trình, vấn đáp, thảo luận.

B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

     I. Thực trạng dạy - học Ngữ văn hiện nay ở trường THCS.

     Trong những năm trở lại đây, trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng cũng như qua trao đổi, phản ảnh của nhiều nhà giáo trực tiếp dạy học bộ môn, trong quá trình kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh chúng ta nhận thấy một thực trạng đáng buồn về chất lượng dạy học Ngữ văn. Khảo sát nhiều bài kiểm tra của nhiều học sinh cho thấy các em viết sai chính tả là lỗi phổ biến nhất. Những lỗi chính tả thường gặp là tên riêng không viết hoa, rất nhiều bài văn từ đầu đến cuối không có dấu chấm câu, hoặc có chăng cũng là dùng dấu câu tùy tiện không theo quy luật nào, không phù hợp với cách diễn đạt. Nhiều từ đơn giản các em vẫn viết không đúng. Cùng với lỗi chính tả là lỗi dùng từ, đặt câu. Đoạn văn thì viết câu què, câu cụt, câu sai cấu trúc ngữ pháp, sai lô-gich diễn đạt. Nhiều câu văn của học sinh khi đọc lên người đọc không hiểu nổi là học sinh muốn viết gì. Điều đó cho thấy học sinh hết sức lơ mơ về kiến thức bộ môn.

     Đó là bởi học sinh đi học chỉ đặt nặng vấn đề được trang bị kiến thức. Các em chỉ chú tâm vào những bài cô giảng, những phần cô cho ghi, thậm chí có học sinh sẵn sàng học thuộc lòng những đoạn văn, bài văn dài do cô giáo đọc cho chép hoặc có sẵn trong văn mẫu. Vì vậy, hầu như các kĩ năng cần thiết như đọc -– hiểu, kĩ năng cảm thụ, đặt câu, … các em đều rất kém và hầu như không rèn luyện nhiều.

Chính vì vậy, việc dạy học theo hướng phát triển năng lực giờ đây đã trở thành một yêu cầu tất yếu, cần thiết để học sinh có thể trang bị cho mình những kĩ năng cần thiết trong cuộc sống.

Đây cũng là vấn đề được Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”. Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhận thức đúng về bản chất của đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học và một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học theo hướng này.

II. Cơ sở lý luận:

1. Khái niệm về năng lực:

1.1 Năng lực:  là khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng, thái độ và hứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống.

1.2 Đặc điểm của năng lực:

- Có sự tác động của một cá nhân cụ thể tới một đối tượng cụ thể (kiến thức, quan hệ xã hội, …) để có một sản phẩm nhất định; do đó có thể phân biệt người này với người khác.

- Năng lực là một yếu tố cấu thành trong một hoạt động cụ thể. Năng lực chỉ tồn tại trong quá trình vận động, phát triển của một hoạt động cụ thể. Vì vậy, năng lực vừa là mục tiêu, vừa là kết quả hoạt động.

- Đề cập tới xu thế đạt được một kết quả nào đó của một công việc cụ thể, do một con người cụ thể thực hiện (năng lực học tập, năng lực tư duy, năng lực tự quản lý bản thân. Vậy không tồn tại năng lực chung chung.

1.3 Phân loại năng lực:

- Năng lực chung: Năng lực chung là những năng lực cơ bản, thiết yếu hoặc cốt lõi làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp. Một số năng lực cốt lõi của học sinh THCS: Năng lực tự học: năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực tự quản lý, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực sử dụng CNTT và TT, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực tính toán.

- Năng lực chuyên biệt: Là những năng lực được hình thành và phát triển trên cơ sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn của một hoạt động như Toán học, Âm nhạc, Mĩ thuật, Thể thao, Địa lí,…Một số năng lực chuyên biệt môn địa lí: Năng lực tư duy tổng hợp theo lãnh thổ, năng lực học tập tại thực địa, năng lực sử dụng bản đồ, năng lực sử dụng số liệu thống kê, năng lực sử dụng ảnh, hình vẽ, video clip, mô hình...

     2. Dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực:

     Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội

     Chương trình dạy học truyền thống được xem là chương trình giáo dục định hướng nội dung, định hướng đầu vào. Chú trọng vào việc truyền thụ kiến thức, trang bị cho người học hệ thống tri thức khoa học khách quan về nhiều lĩnh vực khác nhau.

     Chương trình giáo dục định hướng năng lực dạy học định hướng kết quả đầu ra nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học:

a - Về nội dung:

- Học nội dung chuyên môn → có năng lực chuyên môn: Có tri thức chuyên môn để ứng dụng vận dụng trong học tập và cuộc sống.

- Học phương pháp chiến lược → có năng lực phương pháp: lập kế hoạch học tập, làm việc có phương pháp học tập, thu thập thông tin đánh giá.

- Học giao tiếp xã hội → có năng lực xã hội: hợp tác nhóm học cách ứng xử, có tinh thần trách nhiệm khả năng giải quyết trong các mối quan hệ hợp tác.

- Học tự trải nghiệm đánh giá → có năng lực nhân cách: Tự đánh giá để hình thành các chuẩn mực giá trị đạo đức.

b - Chuẩn đầu ra:

* Phẩm chất: Yêu gia đình quê hương đất nước, nhân ái, khoan dung, trung thực …

* Năng lực chung: năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, …

* Năng lực chuyên biệt:

- Trong giáo trình Phương pháp dạy học văn, cố GS Phan Trọng Luận đã rất quan tâm đến việc triển khai quan niệm về năng lực trong dạy học văn chương. Tác giả cho rằng: có 3 loại năng lực văn chương: năng lực sáng tạo, năng lực phê bình và năng lực tiếp nhận, trong đó năng lực tiếp nhận là năng lực cần hình thành cho HS [4, tr. 117].

Theo tác giả, những năng lực tiếp nhận bao gồm:

(1) Năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật.

(2) Năng lực tái hiện hình tượng.

(3) Năng lực liên tưởng trong tiếp nhận văn học.

(4) Năng lực cảm thụ cụ thể kết hợp khái quát hóa chi tiết nghệ thuật.

(5) Năng lực nhận biết loại thể để định hướng tiếp nhận.

(6) Năng lực cảm xúc thẩm mĩ.

(7) Năng lực tự nhận thức.

(8) Năng lực tự đánh giá.

(9) Năng lực sáng tạo ngôn từ (đối với HS năng khiếu) [Xem 4, tr.120- 153].

Từ đây, GS Phan Trọng Luận đề xuất 6 tiêu chí đánh giá HS (và cả người có năng khiếu văn học):

Tiêu chí I- Lòng say mê (đích thực) văn học.

Tiêu chí II- Tính nhạy cảm nhân ái và thẩm mĩ.

Tiêu chí III- Khả năng quan sát nhạy bén, tinh tế cuộc sống con người và cảnh vật;

Tiêu chí IV- Khả năng liên tưởng, tưởng tượng nhạy bén và phong phú, nhất là tưởng tượng sáng tạo.

Tiêu chí V- Thói quen và khả năng tư duy hình tượng.

Tiêu chí VI- Khả năng sáng tạo (ít hay nhiều) về ngôn từ [Xem 4, tr.154].

Ở đây, chúng ta có thể tóm lược lại về các năng lực chuyên biệt cần được hình thành cho HS trong dạy học môn Ngữ văn ở trường THCS, gồm:

a- Đọc hiểu văn bản

Đọc hiểu văn bản chỉ hoạt động tiếp nhận văn bản của bạn đọc là học sinh, trong môi trường lớp học, có hướng dẫn và có đánh giá. Có thể mô tả yêu cầu cơ bản của đọc hiểu văn bản theo các cấp độ như sau:

Cấp độ

Mô tả vắn tắt

 

1- Nhận biết

 Kể lại câu chuyện, nêu tên nhân vật, tóm tắt cốt truyện;

Thuộc lòng bài/ đoạn thơ, nhớ chính xác từ ngữ,…

Không nhầm lẫn tên tác giả, tên tác phẩm, dân tộc, quốc gia, thời đại,... (gắn với tác phẩm đó)

 

 

 

 

2- Thông hiểu

Xác định đặc điểm thể loại, hình thức bố cục, tình huống truyện, mô tả hoạt động, tính cách nhân vật; xác định tư tưởng, phong cách nhà văn (qua tác phẩm/ đoạn trích), giá trị (hay đặc điểm) nội dung, nghệ thuật tác phẩm…

Xác định cảm xúc chủ đạo/ ý chính của đoạn, nội dung chính của bài thơ hoặc các bài kí; xác định đặc điểm nghệ thuật, đặc trưng loại thể, đặc điểm phong cách nhà văn,…

Xác định hoàn cảnh, tính cách nhân vật và mâu thuẫn, xung đột trong kịch; Phát hiện ý nghĩa của xung đột.

 

3- Vậndụng

 

Thấp

Vận dụng kiến thức, kĩ năng để giải quyết các vấn đề bình thường trong phạm vi học tập, nhà trường và cuộc sống cá nhân..., với yêu cầu sáng tạo bình thường.

 

Cao

Vận dụng kiến thức, kĩ năng để giải quyết các vấn đề tương đói khó trong phạm vi cuộc sống cá nhân, gia đình và xã hội với yêu cầu sáng tạo cao, có chủ kiến cá nhân

b- Tạo lập văn bản:

     Tạo lập văn bản tương ứng với các kĩ năng nóiviết hay kĩ năng Tập làm văn. Trong trường phổ thông hiện nay, có 6 kiểu văn bản được đưa ra làm nội dung rèn luyện cho HS, đó là: miêu tả, tự sự (kể chuyện, trần thuật, tường thuật), biểu cảm, thuyết minh, nghị luậnvăn bản ứng dụng, trong đó văn bản ứng dụng (hay nhật dụng) không cùng loại với 5 kiểu văn bản trước, mà là sự tập hợp nhiều loại khác nhau (như: hành chính, thống kê, thương mại,..), có tính chất thực dụng, hàng ngày.

     Trong chương trinh Ngữ văn hiện hành, các năng lực đọc hiểu và tạo lập văn bản tuy đã có phần tích hợp nhưng nhiều chỗ vẫn còn rời rạc. Nguyên nhân chủ yếu có lẽ do chương trình còn nặng về nội dung kiến thức. Mong muốn chương trình sắp tới sẽ  phối hợp, gắn kết hơn nữa hai năng lực này trong một bài học.

c- Năng lực sử dụng tiếng Việt:

Năng lực sử dụng tiếng Việt gắn liền với đọc hiểu và tạo lập văn bản, tuy nhiên vẫn có tiêu chí riêng để đánh giá.

Khác với yêu cầu đánh giá trước đây, đánh giá theo năng lực coi trọng việc vận dụng kiến thức, kĩ năng tiếng Việt để đọc hiểu văn bản và tạo lập văn bản.

Trong đọc hiểu văn bản, năng lực sử dụng tiếng Việt thể hiện ở chỗ: hiểu chính xác nội dung từ, ngữ, đoạn văn, bài văn; xác định được giá trị, tác dụng của các yếu tố ngôn ngữ trong việc bộc lộ nội dung, đem đến cho người đọc cảm xúc thẩm mỹ.

Trong tạo lập văn bản, năng lực sử dụng tiếng Việt thể hiện trong việc nói viết đúng câu, dùng từ đúng ý nghĩa và diễn đạt nội dung mạch lạc, hấp dẫn...

d- Năng lực thẩm mỹ:

     Nhận ra cái đẹp làm chủ cảm xúc của cá nhân, biết hành động vì cái đẹp, những giá trị sống;  biết rung cảm, hướng thiện, tự làm chủ cảm xúc và hành vi của bản thân, khơi dậy ở các em tình yêu đối với gia đình, quê hương, xã hội.

      III. Một số kinh nghiệm trong việc dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh cụ thể qua bài: “Cây tre Việt Nam”.

Tên bài: Văn bản CÂY TRE VIỆT NAM

I. MỤC TIÊU:

        1. Kiến thức: Sau tiết học, HS có thể:

- Hiểu và cảm nhận được giá trị và vẻ đẹp của cây tre - một biểu tượng về đất nước và dân tộc Việt Nam.

- Thấy được sự gắn bó chặt chẽ của hình ảnh cây tre trong đời sống và tinh thần của người Việt Nam.

- Những đặc điểm nổi bật về giọng điệu, ngôn ngữ của bài kí.

        2. Kĩ năng:

- Đọc diễn cảm và sáng tạo bài văn xuôi giàu chất thơ bằng sự chuyển dịch giọng đọc phù hợp.

- Đọc- hiểu văn bản kí hiện đại có yếu tố miêu tả, biểu cảm.

- Nhận ra phương thức biểu đạt chính: Miêu tả kết hợp biểu cảm, thuyết minh, bình luận.

- Nhận biết và phân tích được tác dụng của các phép so sánh, nhân hóa, ẩn dụ.

     3. Thái độ: Giáo dục học sinh rèn luyện những phẩm chất tốt đẹp của một con người Việt Nam thông qua hình ảnh cây tre - biểu tượng cho nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam.

     4. Giáo dục ANQP: sự sáng tạo của cha ông ta trong nghệ thuật quân sự.

     5. Năng lực cần phát triển:

- Năng lực đọc hiểu. (nắm được nội dung, nghệ thuật văn bản).

- Năng lực cảm thụ văn học (chỉ ra và phân tích được tác dụng của các biện pháp nghệ thuật ở trong bài; cảm nhận được cái hay, cái đẹp của văn bản).

- Năng lực thẩm mỹ: tình yêu đối với cây tre, với con người VN, dân tộc VN.

- Năng lực giao tiếp: giới thiệu với mọi người những hiểu biết của em về tác giả, văn bản, về cây tre, về những món đồ thủ công bằng tre ở trong chính gia đình em.

- Năng lực tự học, năng lực tạo lập văn bản: Sau khi học xong văn bản, học sinh viết được những  đoạn văn phân tích những câu văn hay trong văn bản Cây tre Việt Nam; viết đoạn văn nêu cảm nghĩ về hình ảnh cây tre (vẻ đẹp, sức sống, sự gắn bó của tre với con người Việt Nam), hoặc viết về những phẩm chất cao đẹp của con người Việt Nam.

- Năng lực hợp tác (thảo luận nhóm).

- Năng lực tích hợp (tích hợp với kiến thức về các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm trong lịch sử dân tộc; kiến thức về thực tế cuộc sống hiện nay).

     II. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TRÊN LỚP:

     Các phương pháp dạy học: thuyết trình, vấn đáp, thảo luận nhóm, ….

     III. CÔNG TÁC CHUẨN BỊ:

     1. Chuẩn bị của giáo viên:

- Soạn giáo án, tìm hiểu các tư liệu về nhà văn Thép Mới và cây tre.

- Sưu tầm những hình ảnh, sản phẩm làm từ tre và họ hàng của tre.

     2. Chuẩn bị của học sinh:

- Chuẩn bị bài theo câu hỏi sách giáo khoa.

 - Tìm hiểu về tác giả Thép Mới, mang/ chụp/ giới thiệu về những sản phẩm làm từ tre trong chính gia đình mình.

- Sưu tầm những câu thơ/ đoạn thơ viết về cây tre, sưu tầm những câu chuyện có liên quan đến các vũ khí làm từ tre gắn liền với cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta.

     III. / Tiến trình bài dạy

     1. Ổn định lớp: 

     2. Kiểm tra bài cũ:

- Cảnh mặt trời mọc trên biển đảo Cô Tô được Nguyễn Tuân miêu tả như thế nào?

- Cảm nhận của em về cảnh đẹp này?

     3. Khởi động:

     GV chiếu hình ảnh về 1 số loài cây, đặt câu hỏi: Quan sát những bức hình sau, cho biết những loài cây này gợi cho em nhớ đến đất nước nào? (Cây phong đỏ: Ca-na-đa; cây liễu: Trung Quốc; cây bạch dương: Nga; hoa anh đào: Nhật Bản, ...)

     GV dẫn dắt vào bài:  Dường như mỗi đất nước mỗi quốc gia đều lựa chọn một loài cây hoặc một loài hoa làm biểu tượng riêng cho dân tộc mình. Chẳng hạn: như cây mía - Cu Ba, cây bạch dương  - Nga, cây liễu - Trung Hoa,.... Riêng với đất nước và dân tộc Việt Nam của chúng ta, tự bao đời nay đã chọn cây tre là loại cây tượng trưng tiêu biểu cho tâm hồn, khí phách, tinh hoa của dân tộc. Loài cây ấy cũng đã trở thành để tài, nguồn cảm hứng sáng tác cho rất nhiều văn nghệ sĩ. Trong đó, không thể không nhắc đến bài thơ Tre Việt Nam – Nguyễn Duy, hay văn bản Cây tre Việt Nam của nhà văn Thép Mới mà chúng ta sẽ cùng tìm hiểu ngay sau đây.

        Hoạt động của Gv và Hs

                    Nội dung và kiến thức

Phát triển năng lực

Hoạt động 1:Giới thiệu chung

? Dựa vào chú thích * trong SGK/98, em hãy giới thiệu vài nét về tác giả Thép Mới và văn bản Cây tre Việt Nam.

- Sau khi học sinh trả lời, giáo viên chốt ý và cho học sinh ghi nét chính về tác giả, tác phẩm.

Thép Mới tên thật là Hà Văn Lộc, sinh năm 1925. Ông là nhà báo xuất sắc và đồng thời là nhà văn Việt Nam với các bút danh khác: Phượng Kim, Hồng Châu, Ánh Hồng. Thép Mới tham gia phong trào CM từ rất sớm, từng làm nhiều công tác và chức vụ : Phó tổng biên tập báo Nhân dân, Ủy viên ban chấp hành Hội nhà văn VN. Sau năm 1975 ông sống và làm việc tại thành phố HCM. Các tác phẩm đã xuất bản: Cây tre Việt Nam ( thuyết minh phim 1955 ), Hiên ngang Cu-ba ( bút ký 1962), Nguyễn Ái Quốc đến Lê-nin ( thuyết minh phim 1980), Ðiện Biên Phủ - một danh từ Việt Nam ( bút ký 1965), Trường Sơn hùng tráng (bút ký 1967), Ðường về Tổ quốc (thuyết minh phim 1981).

 

GV cung cấp thêm: Năm 1955, một đoàn điện ảnh của Ba Lan đã đến nước ta để làm một cuốn phim tư liệu về cuộc kháng chiến chống Pháp gian khổ và hào hùng của nhân dân Việt Nam. Trọng tâm của cuốn phim ấy là tìm hiểu, giới thiệu hình ảnh Việt Nam, một đất nước tươi đẹp với những con người ngoan cường tới bạn bè thế giới. Nhà văn Thép Mới đã phối hợp với đạo diễn Ba Lan trong đợt làm phim này. Ông trực tiếp tham gia viết lời bình cho bộ phim và cây tre bình dị, gần gũi đã được lựa chọn làm biểu tượng cho sức sống của dân tộc Việt Nam. Cây tre Việt Nam đã ra đời trong hoàn cảnh ấy, vừa là thuyết minh cho bộ phim cùng tên, vừa là tùy bút tiêu biểu cho văn phong bình luận của Thép Mới, đồng thời ghi dấu một trong số những tác phẩm thành công sớm của văn học cách mạng.

- Gv hướng dẫn Hs đọc: Đối với văn bản này các em cần đọc với giọng trầm lắng, suy tư ở đoạn đầu, lúc sau thì ngọt ngào, dịu dàng, khi thì khẩn trương, sôi nổi, lúc thì phấn khởi, hân hoan, thủ thỉ, tâm tình

- GV đọc đoạn 1; 3 HS lần lượt đọc 3 đoạn tiếp theo.

- Giải thích các từ khó: Các chú thích:1, 4, 5, 7, 8.

? Văn bản Cây tre Việt Nam được sáng tác theo thể loại nào?

- HS trả lời

 * Em hãy xác định phương thức biểu đạt của văn bản này?

 

* Em hãy nêu đại ý của văn bản?

HS: Cây tre là người bạn thân của nhân dân Việt Nam, có mặt ở khắp nơi, gắn bó lâu đời và giúp ích con người trong đời sống hàng ngày, trong lao động sản xuất, trong chiến đấu trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai.( Cây tre đã trở thành biểu tượng của đất nước và dân tộc Việt Nam)

*Từ đại ý này , em hãy xác định bố cục của văn bản?

- HS trả lời:

*Để cảm nhận được giá trị nhiều mặt của tre, phẩm chất của tre như thế nào, chúng ta cùng đi vào tìm hiểu văn bản. Trước hết, ta hãy xem nhà văn Thép Mới giới thiệu cây tre Viêt Nam như thế nào -> dẫn vào phần 1

? Ngay từ câu mở đầu, tg đã khẳng định mối quan hệ đặc biệt giữa cây tre và con người VN? Đó là mqh  gì?

? Chi tiết nào ở phần 1 chứng tỏ điều đó?

Câu mở đầu khẳng định: Cây tre là bạn thân của người nông dân, bạn thân của nhân dân Việt Nam. Đề tài về cây tre không mới, nhưng ở bài văn này, nhà văn đã nhìn cây tre từ khía cạnh tình cảm: tre là bạn thân của con người. Chúng ta hãy tưởng tượng có một màn ảnh đang hiện lên trước mắt, với những thước phim quay chậm về  muôn loài cây nhuộm xanh đất nước, trong đó, nổi lên một loài thân thuộc nhất, đó là tre. Thân thuộc, chứ không phải là quen thuộc, nghĩa là tre đã có quan hệ ruột thịt với người. Cách dung từ của tg quả là tinh tế. Ngay cả những địa danh được nhắc tên hẳn nhiên cũng mang nhiều dụng ý: là Đồng Nai ở miền Nam, là Việt Bắc thủ đô kháng chiến, là ĐBP nơi vừa ghi dấu chiến công của cha ông lừng lẫy năm châu, trấn động địa cầu, và để rồi khép lại đoạn văn là hình ảnh lũy tre thân mật làng tôi, hay cũng có thể là làng anh, làng bạn, những ngôi làng giản dị mà bình yên dưới bóng tre.

? Dựa vào đoạn 1 và cả phần hãy tìm chi tiết thể hiện phẩm chất của cây tre?

+ Măng mọc thẳng

+ Vào đâu tre cũng sống, ở đâu tre cũng xanh tốt.

+ Dáng vươn mộc mạc

+ Màu xanh nhũn nhặn.

+ Cứng cáp, dẻo dai, vững chắc.

+ Thanh cao, giản dị, chí khí như người

? Em có nx gì về cách dùng từ và BPNT được tg sử dụng trong đoạn 1 này?

?  Qua đó, tác giả đã phát biểu và khẳng định những phẩm chất tốt đẹp nào ở cây tre? Theo em, đó là những phẩm chất của ai?

- Hs: Rút ra tiểu kết.

- Gv phân tích chốt ý:

- GV bình: Tre là một loại cây dễ trồng, dễ sống, có vẻ đẹp bình dị và mang nhiều phẩm chất quý báu. Đáng chú ý rằng, đó cũng chính là những phẩm chất, đức tính tốt đẹp của con người Việt Nam, của dân tộc VN được truyền tụ và hun đúc từ ngàn đời nay. Đó cũng chính là những điều mà nhà thơ Nguyễn Duy từng tâm sự:

Tre xanh
Xanh tự bao giờ?
Chuyện ngày xưa... đã có bờ tre xanh

Thân gầy guộc, lá mong manh
Mà sao nên luỹ nên thành tre ơi?
Ở đâu tre cũng xanh tươi
Cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu…

 

GV chuyển ý: Ngoài những phẩm chất tốt đẹp, tre còn có vai trò như thế nào đối với đời sống con người và dân tộc Việt Nam thì chúng ta tìm hiểu đoạn 2

? Ở đây, khi nói về sự gắn bó của tre với người, tác giả đã nhắc đến hình ảnh nào đầu tiên, vì sao?

Đây là hình ảnh dễ nhận thấy nhất, dễ bắt gặp nhất: bóng tre xanh bao quanh xóm làng.

 

- Gv hướng dẫn HS báo cáo kết quả phần tìm hiểu và chuẩn bị ở nhà: (nhóm 1 – 3: Nhóm 1 trình bày, nhóm 3 bổ sung):

+ Tìm những chi tiết thể hiện sự gắn bó của tre với đới sống con người trong: lao động sản xuất, trong đời sống sinh hoạt. Từ đó, tác giả đã trìu mến gọi tre là gì?

+ Để miêu tả cây tre gắn bó với đời sống sinh hoạt lao động của nhân dân, tác giả đã sử dụng những dùng phép tu từ nào ?

- Hs: lắng nghe, nhận xét, đặt câu hỏi.

- Gv nhận xét, phân tích và chốt ý.

- Trong đs sản xuất:  tre ăn ở với người đời đời kiếp kiếp, giúp người trăm công nghìn việc khác nhau: tre dựng nhà, dựng cửa, vỡ ruộng, khai hoang, tre xay thóc, chẻ lạt, ...

-> Tre là cánh tay của  người nông dân.

- Trong đs sinh hoạt: tre làm que chuyền, làm nơi hò hẹn tâm tình, tre làm điếu cày, tre làm nôi, làm gi ườ ng.

-> tre là người nhà.

* GV bình: Những chi tiết ấy cho ta thấy tre không chỉ phục vụ con ng­­ ườ i trong lao động, sản xuất mà còn gắn bó với đời sống tinh thần. Tre không chỉ là “cánh tay của người nông dân” mà còn là ng­­ ườ i bạn tâm tình, chia sẻ buồn vui trong cuộc sống.

Tre thành nôi êm ru giấc trẻ trưa hè. Tre thành nguồn vui tuổi thơ từ chiếc thuyền lá tre đến que chuyền đánh chắt, cánh diều, tiếng sáo. Lớn lên, tre bắc nhịp cầu cho tình duyên đôi lứa. Dưới bóng trăng thanh treo đầu ngọn tre, các chàng trai cô gái trao nhau những lời ca giao duyên e thẹn, hồn nhiên, trong sáng: Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng/ Tre non đủ lá đan sàng được chưa?/ - Đan sàng thiếp cũng xin vâng./ Tre vừa đủ lá, non chăng hỡi chàng?"Còn khi đôi lứa đã bén duyên tình, lời ca càng trở nên quyến luyến, thiết tha hơn: Lạt này gói bánh chưng xanh/ Cho mai lấy trúc, cho anh lấy nàng. Và đến khi con cháu đầy đàn, chàng trai năm xưa đã trở thành lão nông thực thụ, có thể sẵn sàng vớ ngay lấy chiếc điếu cày tre thở một hơi khói thuốc làm vui và ngắm nhìn thành quả vun vén của cả đời mình. Ngay cả khi nhắm mắt xuôi tay, con người VN chúng ta vẫn thủy chung, gắn bó cùng chiếc giường tre.

? Đoạn văn ở phần 2 ấn tượng, đi vào lòng người bởi những câu văn k chỉ giàu hình ảnh mà còn đậm tính nhạc, tựa như những câu thơ được viết = văn xuôi. Hãy chỉ rõ tính nhạc đó qua những câu văn sau:

+ Bóng tre trùm lên … vỡ ruộng, khai hoang.

+ Cối xay tre / nặng nề quay/ , từ nghìn đời nay/, xay nắm thóc.  (ngắt nhịp đặc biệt: 3/3/4/3).

 

-> Ở đây, các cụm từ bóng tre, dưới bóng tre, dưới bóng tre xanh được lặp lại nhiều lần, tạo nên giọng văn nhẹ nhàng, mênh mang, biểu cảm, gợi ra một vẻ êm đềm của xứ sở. Đó k chỉ là hình ảnh tả thực mà còn là hình ảnh hoán dụ mang nghĩa biểu tượng, tượng trưng cho vẻ đẹp của nền văn hóa lâu đời của dân tộc qua hàng nghìn năm lịch sử.

-> Tính nhạc còn được thể hiện trong việc tg đã khéo léo đan cài các câu thơ, câu ca dao ở đoạn 2, làm cho đoạn văn thêm đậm chất thơ, giàu chất nhạc.

? Từ những câu văn, hình ảnh trên, em có nx gì về mqh giữa tre với đời sống lao động, sản xuất và sinh hoạt của con người?

GV chuyển ý: Tre không những gắn bó với đời sống sinh hoạt, lao động mà tre còn gắn bó với người trong cuộc đấu tranh giữ nước. Vậy trong kháng chiến tre có vị trí vai trò gì?

- Gv hướng dẫn HS báo cáo kết quả phần tìm hiểu và chuẩn bị ở nhà: (nhóm 2 – 4: Nhóm 2 trình bày, nhóm 4 bổ sung):

+ Tìm những chi tiết thể hiện sự gắn bó của tre với con người trong cuộc chiến đấu bảo vệ nền độc lập dân tộc. Từ đó, tác giả đã trân trọng gọi tre là gì?

+ Để miêu tả cây tre gắn bó với cuộc chiến đấu gian khổ của nhân dân ta, tác giả đã sử dụng những từ ngữ đặc sắc nào, dùng phép tu từ nào ?

+ Tre là vũ khí, đồng chí

+ chống lại sắt thép quân thù

+ Xung phong vào xe tăng, đại bác

+ Giữ làng, giữ nước, ....

+ Hi sinh để bảo vệ con người.

 

? Em hãy kể tên những vũ khí, chiến công nào của nhân dân ta gắn liền với hình ảnh cây tre.

- Hs:Tre cùng người làm nên bao trang sử vẻ vang, tên sông Bạch Đằng 3 lần đánh tan quân Nam Hán bằng chông tre, lá tre ngụy trang, gậy tre đánh giặc, chông tre tiêu diệt quân thù, ...

- Gv bình: Có thể nói, đây là đoạn văn tráng lệ nhất trong nền văn xuôi hiện đại. Đoạn văn mang âm hưởng anh hùng ca , cùng với nghệ thuật nhân hóa, điệp ngữ, tác giả Thép Mới đã ca ngợi công lao chiến đấu bảo vệ dân tộc của cây tre 1 cách sinh động, đầy tự hào, yêu mến. Trong lịch sử xa xưa của dân tộc, tre đã từng hiệu nghiệm trong tay người anh hùng làng Gióng đánh đuổi giặc Ân, và gần đây, trong cuộc kháng chiến chống Pháp, tre là vũ khí thô sơ nhưng rất hiệu quả, góp phần làm nên những chiến thắng vẻ vang của dân tộc.

? Từ đó, em hãy rút ra nx về vai trò, mqh của tre đv con người VN trong cuộc chiến đấu bảo vệ đất nước.

? Tre gắn bó với người dân VN trong đời sống sinh hoạt, sản xuất và cả trong chiến đấu. Vậy qua việc tìm hiểu phần 2, 3 ở trên, em hãy rút ra những phẩm chất cao quý nữa của cây tre (ngoài những phẩm chất đã được nhắc đến ở phần 1)..

Tre là bạn với người Việt là như thế, tri kỉ với người Việt là như thế nên tre cũng mang những phẩm chất cao quý của con  người Việt Nam: chung thủy sắt son 1 lòng, anh dũng chiến đấu, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ..

- Gv: Không chỉ gắn bó với con người VN trong quá khứ, mà ngay cả ở hiện tại và tương lai, tre vẫn tiếp tục đồng hành với dân tộc ta. Cụ thể như thế nào -> chuyển sang phần 4.

Tích hợp âm nhạc: Cho hs nghe đoạn nhạc về âm thanh tiếng sáo “ Bèo dạt mây trôi”

- HS lắng nghe, rút ra cảm nhận.

 

GV bình: Giữa cuộc sống bộn bề với bao lo toan mưu sinh thường nhật hôm nay, con người tìm về, hòa mình, đắm chìm trong âm thanh du dương, trong trẻo của những bản nhạc được hòa tấu bằng tiếng sáo trú c, sáo tre khiến lòng người bồng bềnh, bay bổng, xua ta n bao mệt nhọc , muộn phiền.

? Quan sát hình ảnh búp măng non trên huy hiệu Đội, cho biết hình ảnh đó có ý nghĩa gì?

Hs: biểu tượng cho thế hệ trẻ những mầm non tương lai của đất nước

 ? Từ hình ảnh chiếc huy hiệu măng non trên áo của các em đội viên, tác giả đã hình dung, dự đoán như thế nào về vị trí của tre trong hiện tại, tương lai, khi đất nước bước vào thời kì công nghiệp hóa? Dựa vào đâu để tác giả dự đoán như thế ?

HS: Sắt thép có thể nhiều hơn tre nứa nhưng tre sẽ còn mãi trong tâm hồn của dân tộc Việt Nam

  • Dựa vào những tiến bộ của xã hội
  • Dựa vào sự gắn bó của tre với đời sống dân tộc nhất là tâm hồn và văn hóa dân tộc.

? Theo em trong xã hội ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỉ thuật hiện đại liệu tre có còn gắn bó mật thiết với người dân Việt Nam nữa không? Vì sao?

Hs: Tự bộ lộ

GV cho hs xem tranh những sản phẩm của tre

 GV bình: Trong hiện tại, tre tiếp tục là bạn đồng hành với con người, dưới bàn tay khéo léo của người tre đã hóa thân thành biết bao vật dụng phục vụ đời sống thường ngày, những sản phẩm của tre chính là niềm tự hào với bạn bè quốc tế với những giá trị văn hóa dân tộc…là hình ảnh thân thương gợi nhớ quê hương của những lữ khách xa nhà…. Còn trong tương lai, sắt thép có thể nhiều hơn tre, tre có thể bớt đi vai trò quan trọng của nó trong sản xuất và sinh hoạt hàng ngày của con ng­­ ườ i, song các giá trị văn hoá và lịch sử của cây tre vẫn còn mãi, tre vẫn là ng­­ ườ i bạn đồng hành chung thuỷ của dân tộc ta trên con đ­ ườ ng phát triển. Bởi vì với tất cả giá trị và phẩm chất của nó, cây tre đã thành biểu tượng cao quý cho dân tộc Việt Nam.

? Để nhấn mạnh vị trí của tre trong hiện tại và tương lai, tác giả đã sử dụng những BPNT nào trong phần 4 này?

Chiếu đoạn văn cuối, kết luận: “Cây tre VN! ...”

? Theo em, việc tác giả nhắc lại những đặc điểm của tre, cũng chính là những phẩm chất cao đẹp của con người VN ở phần kết này nhằm mục đích gì?

Ngợi ca, khẳng định cây tre đã trở thành biểu tượng cho tâm hồn, phẩm chất và dũng khí của con người Việt Nam.

? Hãy nhắc lại những thành công, đặc sắc về NT của vb này?

? Qua bài văn này, em hiểu được gì về cây tre Việt Nam?

- HS: Tre là bạn thân của con người, tre có nhiều phẩm chất đáng quý. Tre là biểu tượng cho con người Việt Nam, tâm hồn Việt Nam.

? Từ đó, em nhận xét gì về tác giả?

- HS : Là người có hiểu biết sâu sắc về cây tre, có tình yêu sâu sắc với cây tre, tự hào về cây tre, về con người Việt Nam, tin tưởng và giá trị, sức sống lâu bền của cây tre cũng như sức sống mãnh liệt của dân tộc ta.

GV gọi HS đọc Ghi nhớ.

? Em còn biết những bài văn nào cũng viết về cây tre, hãy kể tên.

? Em có thể đọc một số câu thơ, tục ngữ, cao dao nói đến cây tre.

?  Tại sao tác giả lấy nhan đề là “Cây tre Việt Nam” mà không lấy nhan đề là “ Cây tre”?

? Em học tập được gì từ cách viết văn của tác giả?

- HS: sử dụng phép nhân hoá, so sánh hay, độc đáo. Chi tiết, hình ảnh chọn lọc mang ý nghĩa biểu tượng. Lời văn giàu cảm xúc nhịp điệu.

I.Vài nét về tác giả ,tác phẩm:

1.Tác giả:

- Thép Mới(1925-1991), tên khai sinh là Hà Văn Lộc, quê ở quận Tây Hồ - Hà Nội.

- Ngoài viết báo, ông còn viết nhiều bút kí, thuyết minh phim.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2. Tác phẩm:

- Cây tre Việt Nam là lời bình cho bộ phim cùng tên của nhà điện ảnh Ba Lan ca ngợi cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta.

 

 

 

 

 

- Đọc, giải thích từ khó.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- Thể loại: Thể kí.

 

- Phương thức biểu đạt: miêu tả, biểu cảm, thuyết minh.

 

 

 

 

- Bố cục:

+ Đoạn 1: Từ đầu à “chí khí như người”: Giới thiệu chung về cây tre.

+ Đoạn 2: Tiếp đến “chung thuỷ”: Tre gắn bó với con người trong đời sống sinh hoạt, lao động, sản xuất.

+ Đoạn 3: Tiếp đến “tre anh hùng trong chiến đấu”: Tre sát cánh với con người trong cuộc chiến đấu bảo vệ quê hương.

+ Đoạn 4: Còn lại: Tre vẫn là bạn đồng hành của dân tộc ta trong hiện tại và tương lai.

 

II.Đọc-hiểu chi tiết văn bản:

1. Giới thiệu chung về cây tre.

- Cây tre là người bạn thân của nông dân, nhân dân VN, có mặt ở khắp mọi miền đất nước.

  -> sự gắn bó thân thuộc gần gũi.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- Phẩm chất: Mọc thẳng, mộc mạc, vào đâu cũng sống, màu xanh nhũn nhặn cứng cáp, dẻo dai, vững chắc, thanh cao, giản dị, chí khí như người

 

 

 

 

 

 Từ ngữ gợi tả, liệt kê, so sánh, nhân hoá: Cây tre mang những phẩm chất tốt đẹp của con người, tre tượng trưng cho dân tộc Việt Nam.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2. Tre gắn bó với con người trong đời sống sinh hoạt, lao động, sản xuất:

 

- Tre bao bọc xóm làng

- Dưới bóng tre: dựng nhà, dựng cửa, vỡ ruộng khai hoang.

- Giúp nông dân trong sản xuất:

- Gắn bó với mọi lứa tuổi.

-> NT: nhân hóa, liệt kê, điệp ngữ, hoán dụ, giọng văn giàu tính nhạc.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

=> Tre gần gũi, gắn bó, thân thuộc với đời sống của con người Việt. (là cánh tay, là bạn thân, là người nhà).

 

 

 

 

3. Tre sát cánh với con người trong cuộc chiến đấu bảo vệ quê hương.

 

- Là đồng chí cùng ta đánh giặc

- Là vũ khí chống lại sắt thép quân thù

- Xung phong vào xe tăng, đại bác.

- Giữ làng, giữ nước, mái nhà tranh, giữ đồng lúa.

- Hy sinh bảo vệ con người.

- Tre anh hùng lao động! Tre anh hùng chiến đấu!

 Sử dụng động từ mạnh, phép nhân hoá, điệp ngữ (tăng tiến), liệt kê, giọng văn mang âm hưởng anh hùng ca.

 

 

 

 

 

 

 

 

=> Tre sát cánh cùng con người, vào sinh ra tử trong cuộc chiến đấu bảo vệ tổ quốc.

=> Tre mang phẩm chất hiền hoà, thẳng thắn, thuỷ chung, dũng cảm, anh hùng.

 

 

 

 

 

4. Tre vẫn là bạn đồng hành của dân tộc ta trong hiện tại và tương lai.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- Tre xanh vẫn là bóng mát.

- Tre vẫn mang khúc nhạc tâm tình.

- Tre càng tươi những cổng chào thắng lợi.

- Những chiếc đu tre, sáo diều ...

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

-> NT: điệp từ, nhân hóa.

 

 

=> Tre luôn còn mãi trong tâm hồn con người VN, đồng hành cùng dân tộc ta trong hiện tại, tương lai; trở thành biểu tượng cao quý của con người và dân tộc Việt Nam.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

III.Tổng kết

1, Nghệ thuật:

- Xây dựng hình ảnh phong phú, chọn lọc, vừa cụ thể vừa mang tính biểu tượng.

- Lựa chọn lời văn giàu nhạc điệu và có tính biểu cảm cao.

- Sử dụng thành công phép so sánh, nhân hóa, điệp ngữ.

2, Ý nghĩa: Ca ngợi vẻ đẹp và sự gắn bó của cây tre với đời sống dân tộc ta. Qua đó cho thấy tác giả là người có hiểu biết về cây tre, có tình cảm sâu nặng, có niềm tin và tự hào chính đáng về cây tre.

 

 

 

 

 

* Ghi nhớ Sgk/100.

IV. Luyện tập:

 

 

 

Bởi lẽ, từ vùng núi cho tới đồng bằng, trên đất nước VN đều có sự sống của cây tre. 54 dân tộc anh em trên đất nước VN đều có đời sống không nhiều thì ít vẫn gắn bó với cây tre.

Tre cùng người Việt Nam trải qua bao thăng trầm của lịch sử, qua bao cuộc chiến tranh giữ nước - Tre xứng đáng là hình ảnh biểu tượng cho tính kiên cường, bất khuất của người Việt Nam, là cái đẹp Việt Nam.

Phát triển năng lực giao tiếp, giới thiệu về tác giả và văn bản.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

.

Phát triển năng lực đọc diễn cảm..

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phát triển năng lực đọc, hiểu

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phát triển năng lực đọc, hiểu.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phát triển năng lực tư duy, liên tưởng.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phát triển năng lực đọc hiểu.

 

 

 

 

 

 

Phát triển năng lực làm việc nhóm, năng lực giao tiếp (thuyết trình).

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phát triển năng lực cảm thụ (thấy được những câu văn đậm tính nhạc).

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phát triển năng lực làm việc nhóm, năng lực giao tiếp (thuyết trình).

 

 

 

 

 

 

Phát triển năng lực tích hợp (kiến thức lịch sử).

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phát triển năng lực tư duy, liên tưởng

 

 

 

 

 

 

 

Phát triển năng lực tích hợp (kiến thức lịch sử).

 

 

Phát triển năng lực tích hợp (kiến thức âm nhạc).

 

Phát triển năng lực cảm thụ (Cảm nhận âm thanh tiếng sáo)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phát triển năng lực tích hợp (kiến thức trong thực tế đời sống).

 

 

 

Phát triển năng lực giao tiếp ( thuyết trình, giới thiệu về những sản phẩm làm từ tre, nứa, …).

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phát triển năng lực khái quát, tổng hợp.

 

 

 

Phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực hành.

 

 

4. Sơ kết, củng cố:

- GV nhắc lại nội dung cơ bản của bài.

- Cho hs xem video: Lời tự thuật của cây tre.

5. Hướng dẫn tự học:

  Bài cũ:

- Đọc kĩ văn bản, nhớ được các chi tiết, các hình ảnh so sánh, nhân hóa đặc sắc.

- Hiểu vai trò của cây tre đối với đời sống của nhân dân ta trong qua khứ, hiện tại và tương lai.

- Sưu tầm một số bài văn, bài thơ viết về cây tre Việt Nam.

- Viết đoạn văn 6 – 8 câu nêu cảm nghĩ của em về vẻ đẹp phẩm chất của cây tre.

  Bài mới: Soạn bài “Câu trần thuật đơn”.

Phát triển năng lực tổng hợp (nội dung kiến thức ), quan sát, cảm thụ đoạn video.

 

Phát triển năng lực tự học.

 

     IV. Kết quả:

     Qua việc giảng dạy theo hướng phát triển năng lực học sinh trong một giờ đọc hiểu văn bản, tôi nhận thấy như sau:

     - Các em thích thú khi được mở rộng, tích hợp với các kiến thức lịch sử, âm nhạc và thực tế cuộc sống trong tiết học. 

     - Các em độc lập tư duy trong việc sưu tầm tư liệu liên quan cho bài học, chủ động trong việc tìm tư liệu ở nhà, chủ động đặt ra câu hỏi thắc mắc cho giáo viên.

     - Tiếp thu bài nhanh hơn, nhớ kiến thức lâu hơn, đồng thời tạo ra một không khí học tập sôi nổi, không nhàm chán.

     Tuy đây chỉ là một tiết dạy theo hướng đổi mới, phát triển năng lực của người học, kết quả trong 1 tiết đem lại chưa thể cao và rõ rệt, song đã cho thấy những hiệu quả nhất định từ việc dạy học theo hướng đổi mới này, từ đó khích lệ giáo viên ngày càng cố gắng, tìm tòi, đổi mới phương pháp hơn nữa, nhằm đem đến cho học sinh những tiết học bổ ích, thú vị hơn; nhằm phát triển và trau dồi các năng lực chung và năng lực chuyên biệt của học sinh. Chắc chắn, từ đó, kết quả việc học tập môn Ngữ văn của các em học sinh sẽ ngày càng được nâng cao, các em sẽ yêu thích và gắn bó với bộ môn này hơn.

C. KẾT LUẬN

     Đổi mới phương pháp giáo dục là một chủ trương đúng đắn, phù hợp với xu thế giáo dục của thế kỉ XXI hiện nay. Nhưng để đổi mới một cách có hiệu quả và đạt chất lượng cao, yêu cầu người giáo viên phải cố gắng hết sức, chịu khó tìm tòi, nghiên cứu, sáng tạo, tự tìm ra cho mình những phương pháp dạy học hợp lý.

     Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tích cực hoá học sinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ GV - HS theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Từ đó có thể trang bị cho các em những năng lực cần thiết của một công dân thế kỉ XXI, bắt kịp xu thế và yêu cầu của xã hội trong thời đại mới. 

     Phần trình bày trên đây của tôi chỉ là một vài kinh nghiệm nho nhỏ được rút ra từ quá trình giảng dạy trong nhiều năm qua. Chắc chắn, nó còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được những lời đóng góp chân tình để qua đó tôi có thể hoàn thiện, nâng cao chuyên môn, tự tìm cho mình một cách dạy phù hợp nhất, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục nước nhà nói chung, cũng như việc dạy và học bộ môn ngữ văn ở trường trung học cơ sở nói riêng.

thời tiết các vùng

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

Bình chọn

Đánh giá thái độ tiếp công dân của cán bộ Một cửa quận