TIN TỨC KHÁC

Trường THCS Giáp Bát: Tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường thông qua môn hóa học 9
Ngày đăng 23/08/2019 | 10:35  | View count: 50

Sáng kiến kinh nghiệm: Tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường thông qua môn hóa học 9

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

     1. Lý do chọn đề tài.

     Môi trường là yếu tố quan trọng bao quanh và tác động đến con người cũng như các loài sinh vật khác. Nó ảnh hưởng đến sự sống và chất lượng cuộc sống của con người. Chính vì vậy mà môi trường luôn là vấn đề nóng bỏng thu hút sự quan tâm của tất cả mọi người trên toàn thế giới. Tuy nhiên, môi trường ngày nay đang bị ô nhiễm rất nặng nề. Đó là do rất nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân chính là do ý thức của con người. Do vậy, việc giáo dục để nâng cao ý thức của con người trong việc bảo vệ môi trường là việc làm rất cấp thiết. Trong các hình thức giáo dục bảo vệ môi trường thì giáo dục bảo vệ môi trường ở trường phổ thông chiếm vị trí quan trọng và hiệu quả. Bởi vì, trường phổ thông là nơi đào tạo thế hệ trẻ - những chủ nhân tương lai của đất nước.

     Ở trường THCS, học sinh phải học rất nhiều môn học khác nhau. Nên việc giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh hiệu quả và thuận lợi nhất vẫn là bằng cách lồng ghép, tích hợp vào trong các môn học. Hiện nay, nội dung này đã và đang được triển khai, phổ biến rộng rãi trong các môn học. Trong đó, Hóa học là môn khoa học tự nhiên nên rất gần gũi với môi trường. Thông qua môn học, từ việc nghiên cứu tính chất của các chất, sự tạo thành chất mới, các quy luật biến đổi chất sẽ rút ra được mối liên hệ phát sinh giữa các sự vật, giải thích được bản chất của các quá trình xảy ra trong tự nhiên, trong sản xuất, trong đời sống liên quan đến môi trường. Từ đó góp phần rất quan trọng trong việc giáo dục cho học sinh nâng cao ý thức về bảo vệ môi trường. Trong quá trình công tác tôi thấy nội dung giáo dục bảo vệ môi trường là nội dung quan trọng vừa góp phần nâng cao ý thức của học sinh trong vấn đề bảo vệ môi trường vừa tạo thêm hứng thú học tập cho học sinh. Song việc giáo dục bảo vệ môi trường trong môn Hóa học vẫn chưa có hệ thống hoàn chỉnh nên hiệu quả giáo dục bảo vệ môi trường chưa cao. Với lí do trên, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường thông qua môn Hóa học 9”

     2. Mục đích nghiên cứu của đề tài.

     Mục tiêu giáo dục bảo vệ môi trường trong môn hóa học 9 là trang bị cho học sinh một hệ thống kiến thức tương đối đầy đủ về môi trường và kỹ năng bảo vệ môi trường. Các em phải ý thức được rằng giữ gìn bảo vệ môi trường sống phải từ các hoạt động bình thường, ngay trong lớp học, giờ chơi, lúc nghỉ ngơi, sinh hoạt trong gia đình, nơi công cộng. Xa hơn nữa là lúc làm việc trên đồng ruộng, trong nhà máy, công sở, trường học. Và có khả năng cải tạo môi trường xung quanh bằng những việc làm đơn giản mà hiệu quả, cũng có thể nảy sinh những ý tưởng mới mẻ về bảo vệ môi trường trong học sinh.

     3. Đối tượng nghiên cứu

- Một số vấn đề về ô nhiễm môi trường hiện nay.

- Tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong môn Hóa học lớp 9 vào một số bài cụ thể.

     4. Phạm vi nghiên cứu

- 100 học sinh lớp 9 trường THCS Giáp bát.

     5. Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Phân tích và hệ thống hóa các tài liệu có liên quan đến đề tài trên báo chí và nhiều tài liệu khác.

- Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành thí nghiệm ở các giờ dạy trên lớp từ bản thân và các đồng nghiệp.

- Phương pháp điều tra học sinh.

     II. NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

     1. Cơ sở lý luận

     Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”. Môi trường sống của con người theo nghĩa rộng là tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội. Theo nghĩa hẹp thì môi trường sống của con người chỉ bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội trực tiếp liên quan đến chất lượng cuộc sống của con người như diện tích nhà ở, nước sạch, điều kiện vui chơi, giải trí, chất lượng bữa ăn. Môi trường nhà trường bao gồm không gian trường, cơ sở vật chất trong trường như: lớp học, phòng thí nghiệm, sân chơi, thầy cô giáo, học sinh, các tổ chức xã hội như Đoàn, Đội. Vì môi trường sống ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống của con người, động vật, thực vật. Chính vì vậy bảo vệ môi trường chính là bảo vệ chính cuộc sống chúng ta. Khi hiểu được điều đó, các em học sinh sẽ biết phải làm gì để bảo vệ môi trường. Hiện nay vấn đề về môi trường đang là một vấn đề cực kỳ nóng bỏng, nó là vấn đề chung của toàn nhân loại. Biết được sự ô nhiễm môi trường hiện nay như thế nào, các em sẽ biết gìn giữ để môi trường ngày càng trong sạch hơn. Giáo dục bảo vệ môi trường sống là vấn đề hết sức cần thiết.Việc tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong môn Hóa học sẽ giúp các em có niềm say mê với môn học hơn, yêu cuộc sống, yêu môi trường và từ đó giáo dục đạo đức của các em.

     2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu

     a. Thuận lợi:

- Nhiệm vụ của bộ môn là nghiên cứu về chất, sự biến đổi của chất, có liên quan trực tiếp đến môi trường và các yếu tố của môi trường nên có rất nhiều thuận lợi cho việc triển khai nội dung giáo dục môi trường.

- Hơn nữa, đây cũng là một trong những mục tiêu cần phải đạt được trong các bài dạy hóa học có liên quan.

- Hiện nay, chủ đề GDMT đã và đang được phổ biến rộng rãi trong nhà trường nên việc kết hợp giáo dục sẽ được đồng bộ, hiệu quả giáo dục cao hơn.

- Sử dụng có hiệu quả cao đối với những bài học có hình ảnh, phim minh họa hợp lý.

- Gây được sự hứng thú, ngạc nhiên với các kiến thức mới lạ. Vì vậy dễ dàng lôi kéo sự tham gia của học sinh vào tiết học.

     b. Khó khăn:

- Mặc dù GDMT đang là nhiệm vụ cấp thiết nhưng vẫn chưa có hệ thống bồi dưỡng kiến thức cho Giáo viên.

- Chưa tạo được mối quan tâm của gia đình, cộng đồng, xã hội và thiếu nguồn tài chính hỗ trợ.

- Mặt khác, ý thức của đại bộ phận dân Việt Nam về môi trường và về việc bảo vệ môi trường còn rất thấp, chỉ thấy được những lợi ích trước mắt, chưa thấy được những nguy cơ mà thế hệ sau phải gánh chịu.

     c. Phân tích:

- Từ thực tế của việc giảng dạy tôi nhận thấy nguyên nhân các em học sinh chưa hiểu, chưa nắm rõ những yếu tố tác động của con người với môi trường hay ngược lại là do các em chưa chịu khó tìm tòi khám phá hay do gia đình các em không có những phương tiện để nhằm phục vụ cho sự tìm hiểu đó. Mặt khác, vì kỹ năng làm bài tập của các em chưa được tốt nên khi giảng dạy giáo viên thường chú ý đến việc giải các bài tập mà quên đi việc tích hợp những nội dung về môi trường trong các bài học cụ thể.

- Từ thực trạng đã nêu, cũng như kèm với việc khảo sát ban đầu về sự hiểu biết của các em về hiệu ứng nhà kính, mưa axit, nhiên liệu sạch hay vai trò của Hóa học trong cuộc sống thì nhận thấy kết quả là: Đa số các em chưa hiểu biết về hiệu ứng nhà kính, mưa axit, nhiên liệu sạch (60% -70%). Các em cũng chưa nhận thấy rõ vai trò của môn Hóa học với đời sống, với môi trường (70%).
- Nguyên nhân thứ nhất: do các em chưa chịu khó tìm tòi khám phá hay do gia đình  các em không có những phương tiện để nhằm phục vụ cho sự tìm hiểu đó.   Với nguyên nhân này giải pháp khắc phục là khơi gợi sự tò mò ở các em về môi trường xung quanh ta bằng một số câu hỏi như: Vì sao có một số trường hợp khi đào giếng sâu lại chết? Làm thế nào để tránh được trường hợp như vậy? Xung quanh các nhà  máy sản xuất gang, thép, phân lân, gạch ngói cây cối thường ít xanh tươi, nguồn nước ô nhiễm. Điều đó được giải thích như thế nào? Tại sao để cải tạo đất ở một số ruộng chua người ta thường bón vôi bột và còn rất nhiều những câu hỏi khác ta có thể đặt ra nhằm kích thích sự tò mò, ham tìm hiểu của các em từ đó các em biết được khi học tập môn Hóa học thì nó rất gần gũi với môi trường ta đang sinh  sống.
- Nguyên nhân thứ hai là do: vì kỹ năng làm bài tập của các em chưa được tốt nên khi giảng dạy giáo viên thường chú ý đến việc giải các bài tập mà quên đi việc tích hợp những nội dung về môi trường trong các bài học cụ thể. Ở nguyên nhân này ta cần khắc phục bằng cách không nên quá “ôm đồm” và chú trọng quá sâu vào việc giải bài tập của các em. Ta nên định hướng để các em có khả năng tự học và thay vào đó là khi soạn giáo án ở những bài học có thể tích hợp nội dung về môi trường thì ta nên tìm hiểu và tích hợp những nôi dung ấy vào vừa giúp các em có những kiến thức nhất định về cuộc sống xung quanh vừa tăng thêm lòng yêu thích, say mê.

     3. Giải pháp thực hiện

     a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp

- Giáo dục bảo vệ môi trường phải phù hợp với mục tiêu đào tạo của tiết học. Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường phải chú ý khai thác tình hình thực tế môi trường của từng địa phương.

- Nội dung và phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường phải chú trọng thực hành, hình thành các kĩ năng, phương pháp hành động cụ thể để học sinh có thể tham gia có hiệu quả vào các hoạt động bảo vệ môi trường của địa phương phù hợp với độ tuổi.

- Phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường nhằm tạo cho người học chủ động tham gia vào các quá trình học tập, tạo điều kiện cho học sinh phát hiện các vấn đề môi trường và tìm hướng giải quyết vấn đề với sự tổ chức và hướng dẫn của giáo viên.

- Vận dụng cơ hội để giáo dục bảo vệ môi trường nhưng phải đảm bảo kiến thức cơ bản của môn học, tính logic của nội dung, không làm quá tải lượng kiến thức và tăng thời gian của tiết học.

- Mục tiêu và nội dung của bài học phải phù hợp hoàn toàn với mục tiêu và nội dung của giáo dục bảo vệ môi trường.

- Chỉ có một phần bài học có mục tiêu và nội dung giáo dục bảo vệ môi trường.

     b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp trên.

     Từ thực tế giảng dạy tôi nhận thấy rằng để nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh ta cần phải:

     * Thứ nhất: Lồng ghép, đặt câu hỏi và hướng dẫn học sinh đưa ra hiểu biết của mình về các vấn đề của môi trường rồi từ đó đề ra các biện pháp bảo vệ chống ô nhiễm môi trường nhằm kích thích sự tò mò của các em cụ thể như:

1.Khi dạy bài 2 “Một số oxit quan trọng” ta lồng ghép nội dung về: Hiệu ứng nhà kính. Như sau:

- Giáo viên đưa ra câu hỏi: Em hiểu gì về hiệu ứng nhà kính?

- Học sinh giải thích theo hiểu biết của mình.

- Giáo viên chốt kiến thức và bổ sung: Hiệu ứng nhà kính là hiện tượng Trái đất bị nóng dần lên do nồng độ khí cacbonic (CO2), lưu huỳnh đioxit (SO2) trong khí quyển tăng cao. Khi ánh sáng mặt trời chiếu vào Trái Đất, một phần được Trái Đất hấp thu và một phần được phản xạ vào không gian, các khí nhà kính sẽ giữ lại nhiệt của mặt trời, không cho nó phản xạ đi. Nếu các khí nhà kính tồn tại vừa phải thì chúng giúp cho nhiệt độ của Trái Đất không quá lạnh nhưng nếu chúng quá nhiều trong khí quyển thì kết quả là Trái Đất nóng lên. Nồng độ các khí nhà kính tăng cao do sự xả thải của các nhà máy, xí nghiệp, phương tiện giao thông, cháy rừng, đun nấu trong sinh hoạt. Nhiệt độ trái đất tăng cao dẫn đến tình trạng băng ở hai địa cực tan ra, nước biển dâng cao. Trong 30 năm tới nếu không ngăn chặn “hiệu ứng nhà kính” sẽ kéo theo một số làng mạc gần bờ biển sẽ chìm trong nước biển. Để hạn chế hiệu ứng này, cần thiết là phải giảm hàm lượng các khí nhà kính trong khí quyển.

- Giáo viên đưa ra một số hình ảnh về hậu quả của “Hiệu ứng nhà kính”

- Giáo viên yêu cầu học sinh đưa ra các biện pháp khắc phục:

+ Cần hạn chế khí thải công nghiệp và các khí thải sinh hoạt vào không khí. Các nhà máy, xí nghiệp cần có biện pháp để xử lí các khí độc hại trước khi thải vào môi trường.

+ Trồng nhiều cây xanh.

+ Bảo vệ rừng và thảm thực vật tự nhiên.

2. Khi dạy bài 4 “Một số axit quan trọng” ta lồng ghép nội dung về mưa axit.

 - Giáo viên đặt câu hỏi: Mưa axit là gì? Nguyên nhân, tác hạivà biện pháp phòng tránh mưa axit?

 + Học sinh dựa vào hiểu biết để trả lời.

 + Giáo viên chốt và bổ sung:

     Mưa axit là hiện tượng mưa mà trong nước mưa có độ pH dưới 5,6 được tạo ra bởi khí thải như CO2, SO2 và NOx từ các quá trình phát triển sản xuất con người tiêu thụ nhiều than đá, dầu mỏ và các nhiên liệu tự nhiên khác.

     Nguyên nhân: Các chất khí này khi gặp và kết hợp với hơi nước trong bầu khí quyển trở thành các axit: axit cacbonic, axit sunfuric, axit nitric rơi xuống đất theo mưa. Chúng ta có thể gặp trong thực tế các trận mưa to, mưa xám (nước mưa màu đen, xám) hoặc vị chua của nước mưa. Mưa axit gắn chặt với nơi có nền sản xuất công nghiệp cao, chất thải khí lớn và nơi có nhu cầu về năng lượng ô tô, dùng than rẻ tiền. Tuy nhiên các chất ô nhiễm có thể “di chuyển “trong khí quyển qua biên giới các quốc gia, do vậy việc kiểm soát mưa axit là vấn đề quốc tế.

     Tác hại: Mưa axit có tác động lớn đến nhà cửa, các công trình xây dựng, cây cối, đất đai, hồ và tôm cá cùng thủy sinh vật. Mưa axit cũng làm tăng tỷ lệ ăn mòn các kim loại, đặc biệt là sắt, thép và đồng. Mưa axit làm giảm tuổi thọ các công trình xây dựng, làm lở loát bề mặt bằng đá của các công trình. Đặc biệt, nó làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người. Nó có thể làm hại chúng ta thông qua không khí và ô nhiễm đất, nguồn nước  rồi thâm nhập vào chuỗi thực phẩm. Thực phẩm bị ô nhiễm này có thể gây tổn hại các dây thần kinh ở trẻ hoặc thâm chí dẫn đến tổn thương não nghiêm trọng, thậm chí tử vong.

     Biện pháp khắc phục: Trồng thêm nhiều cây xanh, tăng cường rừng phòng hộ, phủ xanh đất trống đồi trọc. Rừng chính là lá phổi của trái đất vì vậy cần có biện pháp hữu hiệu để bảo vệ.

3. Khi dạy bài 11 “phân bón hóa học” ta lồng ghép nội dung về ô nhiễm đất hiện nay.

 - Giáo viên yêu cầu học sinh nêu tình hình về việc sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp? Việc làm đó sẽ dẫn đến hậu quả gì?Và cho biết biện pháp khắc phục?

+ Sau khi học sinh trả lời giáo viên chốt lại kiến thức:

Tình trạng lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học trong sản xuất nông nghiệp hiện nay đáng báo động.

Hậu quả: mất an toàn thực phẩm, gây ô nhiễm môi trường, thoái hóa đất làm  cho đất bị chua, cứng đất gây ảnh hưởng đến năng suất cây trồng. Việc ô nhiễm đất có thể kéo theo việc ô nhiễm trực tiếp nguồn nước và có thể cả không khí. Việc sử dụng quá liều thuốc bảo vệ thực vật còn có thể làm cho con người và các loài động vật bị nhiễm độc nếu tiêu thụ các thực phẩm đó.

Biện pháp khắc phục: Hạn chế sử dụng các hóa chất bảo vệ thực vật và phân bón hóa học. Nếu sử dụng thì cần phải có sự cân đối, hợp lí.

4. Khi dạy bài 17 “ Dãy hoạt động hóa học của kim loại” ta có thể lồng ghép nội dung về tác hại của một số kim loại với cơ thể người.

- Giáo viên giới thiệu cho học sinh khi sử dụng một số kim loại sau cần phải lưu ý như:

     Chì

- Chì là nguyên tố có độc tính cao đối với sức khỏe con người và động vật. Chì gây độc cho hệ thần kinh trung ương lẫn hệ thần kinh ngoại biên.
- Người bị nhiễm độc chì thường rối loạn một số chức năng cơ thể, thường là rối loạn bộ phận tạo huyết (tủy xương). Tùy theo mức độ nhiễm độc có thể gây nên những triệu chứng như đau bụng, đau khớp, viêm thận, cao huyết áp vĩnh viễn, tai biến mạch máu não, nếu nhiễm độc nặng có thể bị tử vong. Đặc tính nổi bật của chì là sau khi xâm nhập vào cơ thể nó không bị đào thải mà lại bị tích tụ theo thời gian.

- Chì đi vào cơ thể người qua nước uống, không khí, thức ăn bị nhiễm chì. Khi vào cơ thể nó tích tụ đến một lúc nào đó mới bắt đầu gây độc hại.

     Thủy ngân
- Thủy ngân là một nguyên tố có tự nhiên trong không khí, nước và đất.

- Tiếp xúc với thủy ngân, thậm chí một lượng nhỏ có thể gây ra những vấn đề sức khỏe nghiêm trọng và là mối đe dọa cho sự phát triển của trẻ trong tử cung và những năm đầu đời.

- Thủy ngân có thể có tác động độc hại lên hệ thần kinh, tiêu hóa, miễn dịch, lên phổi thận, da và mắt.

- WHO xem thủy ngân như một trong mười hóa chất hoặc nhóm hóa chất hàng đầu gây quan ngại cho sức khỏe cộng đồng.

- Con người chủ yếu bị phơi nhiễm methyl thủy ngân, một hợp chất hữu cơ khi họ ăn cá và hải sản có vỏ chứa hợp chất này.Công nhân hít phải hơi thủy ngân trong quá trình sản xuất công nghiệp.

5. Khi dạy bài 41 “Nhiên liệu” ta lồng ghép nội dung về vấn đề sử dụng nhiên liệu hiện nay.

- Giáo viên: Nhiên liệu đóng vai trò quan trọng trong đời sống và sản xuất. Nhưng khi nhiên liệu cháy không hoàn toàn sẽ vừa gây lãng phí, vừa làm ô nhiễm môi trường vì sinh ra các khí thải như: CO, CO2, NOx… còn có cả các hợp chất của chì. Vậy, làm thế nào để sử dụng nhiên liệu có hiệu quả?

+ Học sinh trả lời được: Để sử dụng nhiên liệu có hiệu quả cần phải đảm bảo các yêu cầu sau: cung cấp đủ không khí (oxi) cho quá trình cháy, tăng diện tích tiếp xúc của nhiên liệu với không khí hoặc oxi. Duy trì sự cháy ở mức độ cần thiết phù hợp với nhu cầu sử dụng.

- Giáo viên: Biện pháp triệt để nhất để tránh ô nhiễm do các chất khí thải ra từ nhiên liệu là tìm và sử dụng các nguồn nhiên liệu sạch như nhiên liệu hiđro. Khi vào trong xe, hiđro sẽ chuyển hóa năng lượng hóa học thành điện và cung cấp cho hoạt động của chiếc xe. Tất cả những gì xe thải ra trong quá trình vận hành sẽ chỉ là nước và không gây ô nhiễm môi trường.

6. Khi dạy bài 54 “polime” ta có thể lồng ghép nội dung về rác thải polime.

- Giáo viên thuyết trình:

 +Polime được ứng dụng nhiều trong đời sống và trong kĩ thuật. Tuy nhiên, rác thải từ polime bao gồm nhựa, túi nilon gây ảnh hưởng xấu đến môi trường. TTXVN dẫn theo báo cáo của Liên hợp quốc cho biết mỗi năm thế giới thải ra khoảng 300 triệu tấn rác thải nhựa, gần tương đương với trọng lượng của toàn bộ dân số toàn cầu. Gần 1/3 số túi nilon mà con người sử dụng không được thu gom và xử lý và hậu quả là rác thải nhựa và nilon phát sinh không ngừng, có mặt khắp nơi, gây thảm họa mà các nhà khoa học gọi là “ô nhiễm trắng”.

+ Chất thải nhựa kể cả được thu gom đưa đi chôn lấp lẫn vào đất vẫn tồn tại hàng trăm năm, làm thay đổi tính chất vật lý của đất, gây xói mòn đất, làm cho đất không giữ được nước, dinh dưỡng, ngăn cản oxi đi qua đất, ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây trồng…Trong khi đó các loài động, thực vật biển từ lâu đã “kêu cứu” khi có tới 13 triệu tấn chất thải nhựa đổ ra đại dương, gây tổn thương hệ san hô, đe dọa môi trường sống của các loài sinh vật biển. Rác thải nhựa được coi là “tử thần” của các loài sinh vật biển.

- Giáo viên yêu cầu học sinh đề ra các biện pháp để hạn chế rác thải từ nhựa, túi nilon?

 + Học sinh: Các biện pháp hạn chế rác thải nhựa, túi nilon: hạn chế sử dụng túi nilon, chai nhựa, ống hút dùng 1 lần nên sử dụng các sản phảm có thể phân hủy được hoặc dùng được nhiều lần. Tuyên truyền cho mọi người thấy được tác hại của rác thải nhựa, túi nilon.

     * Thứ hai: Giáo viên đưa ra mục tiêu cụ thể tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong môn Hóa học 9 qua các chương/ bài và kèm theo đó là những tài liệu, tư liệu để phục vụ tốt cho mục tiêu của bài học.

Bài

Nội dung tích hợp môi trường

Kiến thức

Thái độ

Kĩ năng

Bài 2: Một số axit quan trọng

+ SO2 gây độc hại cho con người. Là một trong những chất gây mưa axit.

+ Cách xử lí chất thải có chứa SO2, SO3 là dùng nước vôi.

Có ý thức xử lí chất độc hại sau khi thí nghiệm để chống ô nhiễm môi trường.

+ Xác định tác nhân gây độc hại, gây ô nhiễm.

+ Khử chất thải độc hại sau khi thí nghiệm.

Bài 4: Một số axit quan trọng

+ Axit H2SO4 nhất là axit H2SO4 đặc gây bỏng nặng, làm hỏng các giác quan nếu tiếp xúc với nó.

+ Chất thải gây ô nhiễm môi trường do sản xuất H2SO4.

Có ý thức giữ gìn an toàn khi làm việc với H2SO4 đặc.

+ Xác định được nguồn gây ô nhiễm và chất thải gây ô nhiễm.

+ Biết giải pháp chống ô nhiễm ở phòng thí nghiệm, nơi sản xuất.

 

Bài 11:

Phân bón hóa học

Phân bón hóa học và vấn đề ô nhiễm môi trường nước, đất và vệ sinh an toàn thực phẩm.

Có ý thức sử dụng các loại phân bón an toàn, hợp lí nhằm giảm ô nhiễm môi trường.

 

Bài 18:Nhôm

+ Phương pháp sản xuất nhôm từ quặng bôxit và vấn đề ô nhiễm môi trường.

+ Khả năng phản ứng với kim loại gây thiệt hại cho các đồ vật làm bằng kim loại và các công trình.

Ý thức được vai trò của môi trường với con người và tác động của con người với môi trường.

Nhận biết được nhôm và hợp chất nhôm trong chất thải công nghiệp.

Bài 20: Hợp kim sắt: Gang, thép

Vai trò của môi trường với con người và tác động của con người với môi trường tự nhiên thông qua sản xuất gang, thép.

 

Đề xuất sử dụng phế liệu và xử lí chất thải góp phần làm sạch môi trường.

Bài 21: Sự ăn mòn kim loại và bảo vệ kim loại không bị ăn mòn

+ Thành phần, tính chất hóa học của vật liệu quan trọng là kim loại.

+ Các phương pháp điều chế kim loại.

+ Bảo quản và sử dụng đồ dùng bằng kim loại.

+ Có ý thức sử dụng và bảo quản hợp lí, hiệu quả đồ dùng bằng kim loại một cách khoa học.

+ Sử dụng phế liệu kim loại và chống ô nhiễm môi trường.

+ Tìm hiểu tính chất vật lí, hóa học, phương pháp điều chế kim loại.

+ Đề xuất biện pháp xử lí phế liệu kim loại, góp phần bảo vệ môi trường.

Bài 26: Clo

+ Khí clo rất độc với con người, động thực vật.

+ Điều chế khí clo trong phòng thí nghiệm và biện pháp bảo vệ môi trường trong lớp học.

+ Sản xuất clo trong công nghiệp và vấn đề ô nhiễm môi trường không khí.

+ Có ý thức bảo vệ môi trường trong cuộc sống và học tập hóa học.

+ Vận động mọi người thực hiện.

+ Nhận biết được các chất gây ô nhiễm.

+ Khử chất thải độ hại la khí clo, hợp chất của clo bằng nước vôi.

Bài 27: Cacbon

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

+ Các phản ứng của cacbon với oxi, với oxit kim loại đều sinh ra khí CO2 và tỏa nhiệt.

+ Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường trong quá trình sử dụng cacbon làm nhiên liệu, chất đốt.

Có ý thức bảo vệ môi trường không khí trong khi đun nấu, nung vôi…

+ Xác định nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường.

+ Đề xuất biện pháp bảo vệ môi trường căn cứ vào tính chất của chất thải.

Bài 28:

Các hợp chất của cacbon

+ Quá trình hình thành, tính chất các hợp chất CO, CO2 gây ô nhiễm môi trường. CO rất độc có thể nguy hại tới tính mạng con người ở một liều lượng nhất định.

+ CO2 là một trong những nguyên nhân gây hiệu ứng nhà kính.

Có ý thức xử lí chất thải sau thí nghiệm.

Xác định nguồn, nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường.

Bài 29:

Axit cacbonic và muối cacbonat

Trong tự nhiên C chuyển từ dạng này sang dạng khác, tạo thành chu trình khép kín do đó nếu không có cây xanh, chu trình này sẽ bị đứt đoạn, tạo nhiều CO2 gây hại môi trường.

Có ý thức bảo vệ môi trường.

+ Nhận biết vấn đề ô nhiễm môi trường do công nghiệp sản xuất xi măng, thủy tinh, gốm, sứ.

+ Đề xuất biện pháp bảo vệ môi trường.

Bài 30: Silic. Công nghiệp silicat

+ Muối silicat là nguyên liệu chính của công nghiệp silicat.

+ Vấn đề ô nhiễm môi trường do công nghiệp sản xuất xi măng, thủy tinh, gốm, sứ.

Có ý thức bảo vệ môi trường.

+ Nhận biết vấn đề ô nhiễm môi trường do công nghiệp sản xuất xi măng, thủy tinh, gốm, sứ.

+ Đề xuất biện pháp bảo vệ môi trường.

Bài 36: Metan

+ Khí metan là thành phần chính của khí thiên nhiên, khí mỏ dầu và dầu mỏ.

+ Khí metan được sử dụng trong cuộc sống khi đốt cháy tạo thành khí CO2 gây ảnh hưởng xấu đến môi trường.

 

 

Bài 39: Benzen

Benzen có độc tính, có thể gây ung thư và vô sinh.

Cẩn thận khi thí nghiệm hoặc tiếp xúc với benzen.

Chú ý xử lí chất thải sau thí nghiệm.

Bài 40: Dầu mỏ và khí thiên nhiên

+ Khai thác, chế biến dầu mỏ, khí thiên nhiên, khí mỏ dầu và chống ô nhiễm môi trường.

+ Hiện tượng dầu loang.

 

Vấn đề bảo vệ môi trường trong khai thác, vận chuyển, chế biến dầu mỏ.

Bài 47: Chất béo

Là chất không tan trong nước, khi để lâu dưới tác dụng của hơi nước, oxi, vi khuẩn gây mùi ôi, làm ô nhiễm môi trường gây hại sức khỏe.

 

 

Bài 52: Tinh bột và xenlulozơ

+ Vấn đề chống ô nhiễm môi trường trong sản xuất đường, giấy, rượu bia.

+ Quá trình quang hợp của cây xanh tạo thành tinh bột góp phần đảm bảo cân bằng môi trường.

 

 

Bài 54: Polime

Các biện pháp xử lí rác thải làm bằng vật liệu polime.

Có ý thức thu gom phế liệu, rác thải từ các đồ vật làm từ polime.

Đề xuất xử lí rác thải.

     Để các giải pháp trên có thể áp dụng thành công trong việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh thì trước hết bản thân giáo viên phải giảng dạy với tinh thần trách nhiệm cao, cần chịu khó tìm hiểu qua các tài liệu, tư liệu hay trên internet để có thêm kiến thức vừa rộng, vừa sâu.

     4. Kết quả thực hiện

- Học sinh nhận ra được các hành động thường ngày của mình cũng có thể góp phần hạn chế ô nhiễm môi trường.

- Ý thức học sinh đã được nâng cao hơn nên các em đã có những hành động tích cực hơn đối với môi trường xung quanh như: giữ vệ sinh lớp học, không xả rác bừa bãi, tích cực xây dựng khuôn viên trường học xanh, sạch, đẹp hơn…

- Các em tỏ ra thích thú với những hiểu biết mới của mình về môi trường nên có hứng thú tìm tòi, học tập hơn.

KẾT QUẢ THU ĐƯỢC SAU KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM VÀO GIẢNG DẠY

Năm học 2017-2018

STT

Câu hỏi

Câu trả lời

SốHS chọn

Tỷlệ (%)

1

Em đã làm gì nhằm bảo vệ môi trường sống của chúng ta?

A. Không xả rác.

B. Trồng cây xanh.

C. Đi xe đạp.

D. Cả A, B, C

5

10

5

80

 

5%

10%

5%

80%

2

Nguyên nhân của hiệu ứng nhà kính?

A. Sự phá hủy ozon trên tâng khí quyển.

B. Sự lưu giữ bức xạ hồng ngoại bởi lượng khí CO2 trong khí quyển.

C. Sự hiện diện của nitơoxit trong khí quyển.

D. Do có nhiều khí H2 trong khí quyển.

10

 

60

 

 

10

 

20

 

10%

 

60%

 

 

10%

 

20%

3

Nhiên liệu nào sau đây thuộc loại nhiên liệu sạch đang được nghiên cứu sử dụng để thay thế một số nhiên liệu khác gây ô nhiễm môi trường?

A. Than đá

B. Xăng, dầu

C. Hidro

D. Than gỗ

3

15

70

12

3%

15%

70%

12%

4

Nguyên nhân gây mưa axit là gì?

A. Do bầu trời.

B. Do khói bụi

C. Do thủng tầng ozon

D. Do không khí bị ô nhiễm chứa các khí CO2, SO2, NOx

0

20

0

80

0%

20%

0%

80%

5

Nguyên nhân của biến đổi khí hậu hiện nay là gì?

A. Do sự thay đổi cường độ ánh sáng của Mặt Trời.

B. Do nước biển dâng.

C. Do hàm lượng khí CO2, CH4, N2O trong không khí quá nhiều.

D. Cả A và C

25

 

15

15

 

 

45

25%

 

15%

15%

 

 

45%

     III. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

     1. Kết luận

 - Việc triển khai đề tài “Tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường thông qua môn Hóa học 9” có tính khả thi và mang lại hiệu quả cao trong dạy và học nhất là phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh và nâng cao ý thức bảo vệ môi trường.

 - Giáo dục môi trường là một trong những nhiệm vụ vô cùng quan trọng và khẩn cấp. Việc giáo dục ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường cho học sinh không phải là một sớm một chiều. Hơn nữa, đây không chỉ là công việc của các giáo viên giảng dạy bộ môn Hóa học THCS mà là công việc chung của toàn thể những người làm công tác giảng dạy ở tất cả các bậc học, cấp học. Do đó, cần có sự phối hợp đồng bộ để việc giáo dục môi trường có hiệu quả hơn, góp phần cải thiện môi trường sống của nhân loại.

- Học sinh phải thích ứng với phương pháp tích cực, tự giác trong học tập, có ý thức trách nhiệm về kết quả học tập của mình và kết quả chung của lớp thông qua việc tích cực thực hành, thảo luận, suy nghĩ trong quá trình lĩnh hội tri thức, chiếm lĩnh nội dung học tập.

     2. Đề xuất và khuyến nghị

     Với mong muốn nội giáo dục môi trường được truyền tải đến học sinh một cách có hiệu quả, tôi có một số kiến nghị sau đây:

 + Đối với cấp trường: cung cấp thêm cho giáo viên những tư liệu có liên quan như sách, tạp chí, đĩa VCD về giáo dục môi trường.Thư viện nhà trường có thêm sách về các vấn đề liên quan đến môi trường để học sinh tham khảo góp phần mở rộng kiến thức.

+ Đối với cấp phòng: tổ chức thêm các buổi tập huấn giáo dục môi trường trong dạy học hóa học.  

chỉ đạo của Quận ủy - ubnd-HĐND

Thông báo

thời tiết các vùng

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

Bình chọn

Đánh giá thái độ tiếp công dân của cán bộ Một cửa quận