TIN TỨC KHÁC

Trường THCS Giáp Bát: Thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập cho chương 1 - các loại hợp chất vô cơ-hóa học 9 theo hướng tiếp cận Pisa
Ngày đăng 23/08/2019 | 15:25  | View count: 1422

Sáng kiến kinh nghiệm: Thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập cho chương 1 - các loại hợp chất vô cơ-hóa học 9 theo hướng tiếp cận Pisa

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

     1. Lý do chọn đề tài

     Đổi mới giáo dục là một trong những vấn đề mang tính thời sự, được mọi tầng lớp xã hội hiện nay rất quan tâm. Chính vì vậy, trong những năm gần đây, giáo dục Việt Nam đang tập trung đổi mới, hướng tới một nền giáo dục tiến bộ, hiện đại, hòa nhập với xu hướng của các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới.

     Ở trường trung học cơ sở (THCS), môn Hóa học dù được đưa vào giảng dạy muộn nhất trong hệ thống các môn khoa học nhưng có vai trò rất quan trọng trong cuộc sống của chúng ta. Các kiến thức hoá học không chỉ cung cấp những tri thức hóa học phổ thông, cơ bản mà còn cho người học thấy được mối liên hệ qua lại giữa công nghệ hoá học, môi trường và con ngư­ời. Chính vì vậy, để góp phần thực hiện mục tiêu “Hoạt động giáo dục phải thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” và để tạo dựng niềm đam mê học tập, giúp hóa học gần hơn với thực tiễn thì việc sử dụng bài tập môn hóa học trong dạy học ở trường THCS có vai trò rất quan trọng. Tuy nhiên, các bài tập môn hóa học đã và đang sử dụng hiện nay ở trường THCS phần nào còn mang tính hàn lâm, nghèo nàn về nội dung hóa học, chưa thực sự đáp ứng được nhiệm vụ, sứ mệnh to lớn của môn hoá học trong nhà trường THCS. Hầu hết HS học xong cấp học THCS chưa thực sự biết vận dụng kiến thức hóa học vào thực tế, chưa thấy được vai trò của hóa học trong đời sống. Và cũng một phần vì đó, các em chưa có nhiều niềm đam mê, say sưa trong học tập, đặc biệt là với môn Hóa học.

     Giáo dục Việt Nam trong năm 2012 có một dấu ấn quan trọng khi lần đầu tiên nước ta có khoảng 5.100 HS ở độ tuổi 15 của 162 trường thuộc 59 tỉnh, thành phố, cùng với hơn 70 quốc gia khác trên thế giới tham gia vào cuộc khảo sát chính thức của PISA 2012 - (viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Programme for International Student Assessment”, được dịch là “Chương trình đánh giá HS quốc tế” do tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (“Organization for Economic Co-operation and Development”, thường được viết tắt là OECD) khởi xướng và triển khai­­) từ ngày 12 đến ngày 14 tháng 4 năm 2012. Cho tới nay, PISA là cuộc khảo sát giáo dục duy nhất trên thế giới có tính chu kì (3 năm 1 lần) để đánh giá kiến thức và kỹ năng của HS ở độ tuổi 15 - độ tuổi kết thúc giáo dục bắt buộc ở hầu hết các quốc gia. PISA nổi bật nhờ quy mô toàn cầu và tính chu kỳ. Mục tiêu của chương trình PISA nhằm kiểm tra xem, khi đến độ tuổi kết thúc phần giáo dục bắt buộc, HS đã được chuẩn bị để đáp ứng các thách thức của cuộc sống sau này ở mức độ nào. Nội dung đánh giá của PISA hoàn toàn được xác định dựa trên các kiến thức, kỹ năng cần thiết cho cuộc sống tương lai, không dựa vào nội dung các chương trình giáo dục quốc gia. Thay vì kiểm tra sự thuộc bài theo các chương trình giáo dục cụ thể, PISA xem xét khả năng của HS ứng dụng các kiến thức và kỹ năng trong lĩnh vực chuyên môn cơ bản, khả năng phân tích, lý giải và truyền đạt một cách có hiệu quả khi họ xem xét, diễn giải và giải quyết các vấn đề. Theo nhận định của nhiều chuyên gia, PISA được đánh giá là cuộc khảo sát tin cậy về năng lực của HS.

     Là người trực tiếp giảng dạy bộ môn hóa học ở trường THCS, tôi nhận thấy, việc sử dụng hệ thống bài tập theo hướng tiếp cận PISA trong dạy học môn hóa học ở trường THCS là quan trọng, mang tính thiết thực cao. Tuy nhiên, thực tế hiện nay, các bài tập hóa học ở trường THCS được xây dựng theo hướng này gần như rất ít. Giáo viên là người trực tiếp giảng dạy nhưng cũng có rất ít tài liệu để có thể sử dụng tham khảo trong quá trình dạy học của mình. Bản thân tôi cũng muốn tự xây dựng cho mình một tài liệu có thể sử dụng trong quá trình dạy học. Tuy nhiên với khuôn khổ đề tài sáng kiến kinh nghiệm này, tôi xin mạnh dạn giới thiệu đề tài: “Thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập cho chương 1- Các loại hợp chất vô cơ - hóa học 9 theo hướng tiếp cận PISA”. Sau đề tài, tôi cũng mong muốn có thể phát triển tiếp đề tài với các chương tiếp theo của môn Hóa học lớp 9 nói riêng và Hóa học cấp THCS nói chung.

     2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

     2.1. Mục đích nghiên cứu

     Thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập cho chương 1 - Các loại hợp chất vô cơ - hóa học 9 theo hướng tiếp cận PISA nhằm làm cho việc dạy học hóa học gắn với thực tiễn cuộc sống, tạo hứng thú, say mê học tập môn Hóa học cho học sinh, từ đó nâng cao hiệu quả dạy học Hóa học ở trường THCS.

     2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

     2.2.1. Nghiên cứu các vấn đề lý luận của đề tài

- Nghiên cứu lý luận về bài tập hóa học trong dạy học hóa học.

     2.2.2. Tìm hiểu về chương trình đánh giá HS quốc tế (PISA)

     2.2.3. Thiết kế hệ thống bài tập hóa học trong chương 1- Các loại hợp chất vô cơ – hóa học 9 theo hướng tiếp cận PISA.

     2.2.4. Đề xuất cách sử dụng hệ thống bài tập trong chương 1- Các loại hợp chất vô cơ – hóa học 9 theo hướng tiếp cận PISA trong dạy học hóa học ở trường THCS.

     3. Phạm vi nghiên cứu

- Chương trình hóa học lớp 9 hiện hành.

- Nghiên cứu trong trường THCS.

     4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

     4. 1. Khách thể nghiên cứu

     Quá trình dạy và học hóa học ở trường THCS.

     4. 2. Đối tượng nghiên cứu

     - Học sinh lớp 9 trường THCS.

     5. Giả thuyết khoa học

     Nếu thiết kế được và sử dụng hợp lý hệ thống bài tập theo hướng tiếp cận PISA trong dạy học hóa học lớp 9 thì sẽ làm cho việc dạy học hóa học gắn với thực tiễn cuộc sống hơn, HS có hứng thú, say mê học tập môn hóa học, từ đó nâng cao hiệu quả dạy học môn hóa học ở trường THCS.

     6 . Phương pháp nghiên cứu

     6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận

     6.1.1. Nghiên cứu tài liệu lý luận dạy học có liên quan đến việc sử dụng bài tập trong dạy học Hóa học ở trường THCS.

     6.1.2. Nghiên cứu tài liệu lý luận dạy học có liên quan đến việc thiết kế bài tập mới trong dạy học Hóa học ở trường THCS.

     6.1.3. Nghiên cứu các tài liệu về chương trình đánh giá HS quốc tế PISA.

     6.1.4. Nghiên cứu nội dung, cấu trúc, chương trình hóa học lớp 9.

     6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

     6.2.1. Phương pháp quan sát: tiến hành quan sát các hoạt động dạy và học có sử dụng bài bập hóa học tại trường THCS nhằm phát hiện vấn đề nghiên cứu.

     6.2.2. Phương pháp đàm thoại: trao đổi với GV và HS để tìm hiểu ý kiến, quan niệm, thái độ ... của họ về việc sử dụng bài tập hóa học trong dạy và học ở trường THCS, cũng như những thuận lợi và khó khăn mà GV và HS đã gặp phải.

     6.2.3. Phương pháp điều tra: điều tra thực trạng việc sử dụng bài tập của GV và HS trong quá trình dạy và học môn Hoá học lớp.

     6.2.4. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: tham khảo ý kiến của các chuyên gia, các giảng viên và GV có nhiều kinh nghiệm về việc sử dụng bài tập trong giảng dạy hóa học trước kia và hiện nay.

     7. Dự kiến đóng góp mới của đề tài

- Xây dựng hệ thống bài tập cho chương 1- Các loại hợp chất vô cơ hóa học 9 theo hướng tiếp cận PISA.

- Đề xuất cách sử dụng hệ thống bài tập cho chương 1- Các loại hợp chất vô cơ hóa học 9 theo hướng tiếp cận PISA trong dạy học hóa học lớp 9 để làm cho việc dạy học hóa học gắn với thực tiễn cuộc sống hơn, HS có hứng thú, say mê học tập, từ đó nâng cao hiệu quả dạy học môn hóa học ở trường THCS.

PHẦN 2: NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP CHO CHƯƠNG 1- CÁC LOẠI HỢP CHẤT VÔ CƠ HÓA HỌC 9 THEO HƯỚNG TIẾP CẬN PISA

     1.1. Đổi mới phương pháp dạy học

     1.1.1. Đổi mới phương pháp dạy học trên thế giới

     Trên thế giới hiện nay, việc đổi mới PPDH đang được tiến hành theo một số phương hướng như tích cực hoá quá trình dạy học; cá thể hoá việc dạy học; dạy học lấy HS làm trung tâm; dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học.

      Việc tích hợp kiến thức chuyên ngành vào phương pháp tư duy có thể được thấy rõ trong năm mục tiêu học tập then chốt được nêu ra bởi UNESCO, giúp làm rõ các mục tiêu dạy học của phát triển bền vững (ESD). Năm mục tiêu đó là: (1) học để bi ế t, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của những kiến thức hàm chứa nội dung ý nghĩa và chính xác; (2) học để làm, tập trung vào tầm quan trọng của việc ứng dụng, sự xác đáng và những kỹ năng; (3) học để sống cùng nhau, trong đó thừa nhận tầm quan trọng của động lực xã hội tích cực; (4) học cách tồn tại, tập trung vào tầm quan trọng của trách nhiệm, phát triển cá nhân, siêu nhận thức; (5) học cách thay đổi bản thân và xã hội, tập trung vào sự thay đổi nhận thức như là phương tiện cam kết quan trọng. Học không chỉ bó hẹp trong phạm vi một quốc gia hay một trường học nào.

     1.1.2. Đổi mới phương pháp dạy học ở Việt Nam       

      Hơn 20 năm qua, Đảng ta đã nêu ra một loạt quan điểm về giao dục (GD), phù hợp với yêu cầu và đường lối đổi mới kinh tế - xã hội của đất nước, Đại hội VII khẳng định “GD-ĐT, cùng với khoa học và công nghệ, là quốc sách hàng đầu”. Sau đó đã xác định sứ mạng của GD là “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Về đầu tư, Đảng ta coi đầu tư cho GD là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển, tạo điều kiện để GD đi trước và phục vụ đắc lực sự phát triển kinh tế, xã hội. Nhưng nhìn lại, những quan điểm đúng đắn đó mới dừng ở nhận thức ban đầu, chưa được cụ thể hóa và quán triệt đầy đủ trong hành động. Vì vậy, giáo dục chưa thực sự chuyển biến. Tình trạng yếu kém, lạc hậu về giáo dục đang là nỗi bức xúc của cả xã hội và là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự yếu kém, lạc hậu trong phát triển kinh tế, xã hội nói chung. Đến nay, Đại hội XI đã đặt vấn đề: đổi mới căn bản, toàn diện nền GD. Qua đó có thể nói, Đảng đã thấy rõ và chỉ ra sự cấp bách và bức xúc của vấn đề này.

     1.2. Một số xu hướng đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông hiện nay

     Đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) được xem là một khâu rất quan trọng trong việc đổi mới giáo dục. Bởi lẽ, PPDH có hợp lý thì hiệu quả của việc dạy học mới cao, phương pháp có phù hợp thì mới có thể phát huy được khả năng tư duy, sáng tạo của người học. Chính vì vậy, vấn đề đổi mới PPDH đã được đặt ra đối với tất cả các cấp học trong hệ thống giáo dục phổ thông. Đặc biệt, khi chúng ta đang chuẩn bị tích cực cho lộ trình đổi mới căn bản, toàn diện GD Việt Nam trong những năm tới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI thì vấn đề đổi mới PPDH đã trở thành một yêu cầu cấp thiết.

     Định hướng chung về đổi mới PPDH đã được thể chế hóa trong Luật giáo dục 2005, điều 28.2: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS.”

     Có thể nói, cốt lõi của đổi mới PPDH ở trường THCS là hướng tới giúp HS học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, từ bỏ thói quen học tập thụ động, ghi nhớ máy móc. Đổi mới PPDH bao gồm từ đổi mới mục tiêu; đổi mới hoạt động của GV; đổi mới hoạt động học tập của HS; đổi mới các hình thức tổ chức dạy học và sử dụng phương tiện dạy học đến đổi mới  việc kiểm tra - đánh giá.

     1.3. Cơ sở lý luận của việc sử dụng bài tập trong dạy học Hóa học ở trường THCS

     1.3.1.Ý nghĩa của việc sử dụng bài tập hóa học trong dạy học Hóa học ở trường THCS

     Việc sử dụng bài tập trong dạy học là một trong những biện pháp kiểm tra - đánh giá quan trọng, thiết thực, rất có giá trị, đã và đang được sử dụng không chỉ đối với môn hóa học mà còn đối với cả các môn học khác ở trường phổ thông.

     Bài tập hóa học có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo chung và mục tiêu riêng của môn Hóa học. Bài tập hóa học vừa là mục đích, vừa là nội dung, lại vừa là phương pháp dạy học hiệu nghiệm.

     Bài tập hóa học có những ý nghĩa, tác dụng to lớn về nhiều mặt: ý nghĩa trí dục; ý nghĩa phát triển và ý nghĩa giáo dục.

     1.3.2. Phân loại các dạng bài tập dùng trong dạy học môn hóa học ở trường THCS

     Bài tập hóa học dùng trong dạy học môn hóa học ở trường THCS có thể phân chia thành nhiều loại phụ thuộc vào nội dung, hình thức, kiến thức, mục đích, yêu cầu kiểm tra - đánh giá Có thể chia như sau:

- Bài tập trắc nghiệm khách quan (câu hỏi trắc nghiệm ).

- Bài tập trắc nghiệm tự luận (câu hỏi tự luận) .

      1.4. Cơ sở lý luận về việc xây dựng bài tập hóa học mới trong dạy học Hóa học ở trường THCS

     1.4.1. Ý nghĩa của việc xây dựng các bài tập hóa học mới

      Trong quá trình dạy học, bài tập hóa học đã và đang phát huy những vai trò quan trọng của mình. Tuy nhiên, các bài tập hóa học sử dụng trong nhà trường phổ thông hiện nay còn nặng về kiến thức toán học, nghèo nàn về kiến thức hóa học. Hầu hết các bài tập hóa học hiện nay mới chỉ chủ yếu đánh giá HS về kiến thức lý thuyết hoá học, chưa đánh giá nhiều về kĩ năng cơ bản môn hoá học như: kĩ năng học tập tích cực bộ môn Hóa học, kĩ năng thực hành hóa học, kĩ năng vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn. Đồng thời, bài tập hóa học hiện nay chưa chú trọng đến việc phát huy khả năng tư duy sáng tạo, lập kế hoạch, giải quyết vấn đề trong học tập hoá học và thực tiễn đời sống, chưa chú trọng đến việc phát triển năng lực tư duy hóa học, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề của HS.   

     Chính vì vậy, việc xây dựng nên những bài tập hóa học mới phù hợp với định hướng đổi mới của môn hóa học nói riêng và định hướng đổi mới giáo dục nói chung là rất quan trọng và có ý nghĩa thiết thực.

     1.4.2. Một số định hướng trong việc xây dựng bài tập hóa học mới

- Bài tập hóa học phải đa dạng, phải có nội dung hóa học thiết thực trên cơ sở của định hướng xây dựng chương trình hóa học phổ thông

Nội dung bài tập phải ngắn gọn, súc tích, không quá nặng về tính toán mà cần chú ý tập trung vào rèn luyện và phát triển các năng lực nhận thức, tư duy hóa học và hành động cho HS.

Bài tập hóa học cần chú ý đến việc mở rộng kiến thức hóa học và các ứng dụng của hóa học trong thực tiễn. Thông qua các dạng bài tập này làm cho HS thấy được việc học hóa học thực sự có ý nghĩa, những kiến thức hóa học rất gần gũi thiết thực với cuộc sống. Đồng thời, các bài tập hóa học cần khai thác các nội dung về vai trò của hóa học với các vấn đề kinh tế, xã hội môi trường và các hiện tượng tự nhiên, kích thích được sự đam mê, hứng thú học tập của HS đối với môn hóa học.

- Bài tập hóa học định lượng được xây dựng trên quan điểm không phức tạp hóa bởi các thuật toán, mà cần chú trọng đến nội dung hóa học và các phép tính được sử dụng nhiều trong tính toán hóa học.

- Đa dạng hóa các hình thức câu hỏi, bài tập, như: sử dụng bảng biểu, sơ đồ, văn bản, hình ảnh, câu hỏi trắc nghệm khách quan, câu hỏi tự luận ngắn, câu hỏi mở.

     Như vậy, xu hướng phát triển của bài tập hóa học hiện nay hướng đến rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức, phát triển khả năng tư duy hóa học cho HS ở các mặt: lí thuyết, thực hành và ứng dụng. Những bài tập có tính chất học thuộc trong các bài tập lí thuyết sẽ giảm dần mà được thay bằng các bài tập đòi hỏi sự tư duy, tìm tòi.

     1.5. Tìm hiểu về chương trình đánh giá HS quốc tế PISA

     1.5.1. Đặc điểm của PISA

- Quy mô của PISA là rất lớn và có tính toàn cầu. Ngoài các nước thuộc khối OECD, còn có nhiều quốc gia là đối tác của các nước thuộc khối OECD  tham gia - trong đó có Việt Nam, tham gia vào PISA năm 2012 (trong 3 ngày 12, 13 và 14 tháng 4 năm 2012, tại 162 trường thuộc 59 tỉnh, thành phố với khoảng 5.100 HS ở tuổi 15)

- PISA được thực hiện đều đặn theo chu kỳ ba năm một lần tạo điều kiện cho các quốc gia có thể theo dõi sự tiến bộ của nền giáo dục đối với việc phấn đấu đạt được các mục tiêu giáo dục cơ bản. Cứ sau một năm kể từ ngày điều tra, vào lúc 10 giờ sáng - giờ Paris, ngày 04 tháng 12, kết quả điều tra sẽ được công bố trên toàn thế giới.

- Cho đến nay, PISA là khảo sát giáo dục duy nhất đánh giá về năng lực phổ thông của HS độ tuổi 15 - độ tuổi kết thúc giáo dục bắt buộc ở hầu hết các quốc gia. PISA là một trong những nỗ lực đầu tiên xây dựng một hệ thống đánh giá mang theo triết lý giáo dục, đường hướng và phương pháp giảng dạy đáp ứng những nhu cầu của thời đại.

-  PISA thu nhập và cung cấp cho các quốc gia các dữ liệu có thể so sánh được trên bình diện quốc tế cũng như xu hướng của dữ liệu quốc gia về năng lực đọc hiểu, năng lực Toán học và khoa học của HS độ tuổi 15, từ đó giúp chính phủ các nước tham gia PISA rút ra những bài học về chính sách đối với giáo dục phổ thông.

-  PISA chú trọng xem xét và đánh giá một số vấn đề sau:

+ Chính sách công: “Nhà trường của chúng ta đã chuẩn bị đầy đủ cho những người trẻ tuổi trước những thách thức của cuộc sống trưởng thành chưa ?”, “Phải chăng một số loại hình học tập và giảng dạy của những nơi này hiệu quả hơn những nơi khác ?”…

+ Hiểu biết phổ thông: Thay vì kiểm tra sự thuộc bài theo các chương trình giáo dục cụ thể, PISA xem xét khả năng của HS ứng dụng các kiến thức và kĩ năng trong các lĩnh vực chuyên môn và khả năng phân tích, lý giải, truyền đạt một cách có hiệu quả khi họ xem xét, diễn giải và giải quyết các vấn đề.

+ Học suốt đời: HS không thể học tất cả mọi thứ cần biết trong nhà trường. Để trở thành những người học suốt đời có hiệu quả, HS không những phải có kiến thức và kỹ năng mà còn có cả ý thức về lý do và cách học. PISA không những khảo sát kỹ năng của HS về học hiểu, toán và khoa học mà còn đòi hỏi HS cả về động cơ, niềm tin về bản thân cũng như các chiến lược học tập.

- Bài tập của PISA: Các câu hỏi của PISA đều là các câu hỏi dựa trên các tình huống của đời sống thực và không chỉ giới hạn bởi cuộc sống thường ngày của các em trong nhà trường, và nhiều tình huống được lựa chọn không phải chỉ để HS thực hiện các thao tác về tư duy, mà còn để HS ‎ ý thức về các vấn đề xã hội (như là sự nóng lên của trái đất, phân biệt giàu nghèo). Dạng thức của câu hỏi phong phú, không chỉ bao gồm các câu hỏi lựa chọn đáp án mà còn yêu cầu HS tự xây dựng nên đáp án của mình. Chất liệu được sử dụng để xây dựng các câu hỏi này cũng đa dạng, ví dụ như: bài tập đọc hiểu của PISA có thể xây dựng trên bảng biểu đồ, tranh ảnh quảng cáo, văn bản, bài báo.

     1.5.2. Mục tiêu đánh giá

     PISA tập trung vào đánh giá 3 mảng năng lực chính: Năng lực toán học phổ thông (Mathematical literacy); Năng lực đọc hiểu phổ thông (Reading literacy); Năng lực khoa học phổ thông (Science literacy) - Đó là những kiến thức và kỹ năng tối cần thiết cho một HS bước vào cuộc sống trưởng thành. Và đó cũng là những kỹ năng và kiến thức nền tảng không thể thiếu cho quá trình học tập suốt đời của mỗi người.

     1.5.2.1. Năng lực toán học phổ thông:

     Là năng lực của một cá nhân để nhận biết và hiểu về vai trò của toán học trong thế giới, biết dựa vào toán học để đưa ra những suy đoán có nền tảng vững chắc vừa đáp ứng được các nhu cầu của đời sống cá nhân, vừa như một công dân biết suy luận, có mối quan tâm và có tính xây dựng. Đó chính là năng lực phân tích, lập luận và truyền đạt ý tưởng (trao đổi thông tin) một cách hiệu quả thông qua việc đặt ra, hình thành và giải quyết vấn đề toán học trong các tình huống và hoàn cảnh khác nhau.

     * Các câu hỏi ở 3 nhóm (cấp độ):

+ Nhóm 1: Tái hiện (lặp lại).

+ Nhóm 2: Kết nối và tích hợp.

+ Nhóm 3: Tư duy toán học; khái quát hóa và nắm được những tri thức toán học ẩn dấu bên trong các tình huống và các sự kiện.

     1.5.2.2. Năng lực đọc hiểu phổ thông:

     Là năng lực hiểu, sử dụng và phản hồi lại ý kiến của một cá nhân sau khi đọc một văn bản. Khái niệm học và đặc biệt là học suốt đời đòi hỏi phải mở rộng cách hiểu về việc biết đọc. Biết đọc không chỉ còn là yêu cầu của suốt thời kì tuổi thơ trong nhà trường phổ thông, thay vào đó nó còn trở thành một nhân tố quan trọng trong việc xây dựng, mở rộng những kiến thức cá nhân, kĩ năng và chiến lược của mỗi cá nhân trong suốt cuộc đời khi họ tham gia vào các tình huống khác nhau cũng như trong mối quan hệ với người xung quanh.

     * Các câu hỏi được đánh giá ở 3 nhóm/cấp độ:

+ Thu thập thông tin.

+ Phân tích, lí giải văn bản.

+ Phản hồi và đánh giá.

     1.5.2.3. Năng lực khoa học phổ thông:

     Là năng lực của một cá nhân biết sử dụng kiến thức khoa học để xác định các câu hỏi và rút ra kết luận dựa trên chứng cứ để hiểu và đưa ra quyết định về thế giới tự nhiên thông qua hoạt động của con người thực hiện việc thay đổi thế giới tự nhiên.

     * Các câu hỏi ở 3 cấp độ/nhóm sau:

+ Nhận biết các vấn đề khoa học: HS nhận biết các vấn đề mà có thể được khám phá một cách khoa học, nhận ra những nét đặc trưng chủ yếu của việc nghiên cứu khoa học.

+ Giải thích hiện tượng một cách khoa học: HS có thể áp dụng kiến thức khoa học vào tình huống đã cho, mô tả, giải thích hiện tượng một cách khoa học và dự đoán sự thay đổi.

+ Sử dụng các chứng cứ khoa học, lí giải các chứng cứ để rút ra kết luận.

* Kỹ năng giải quyết vấn đề (Được đưa vào PISA từ năm 2003) được thiết kế thành một đề riêng, các quốc gia có quyền lựa chọn đăng ký tham gia.

* Mỗi kỳ đánh giá sẽ có một lĩnh vực kiến thức được lựa chọn để đánh giá sâu hơn. Năm 2012, trọng tâm đánh giá là năng lực Toán học.

     1.5.3. Nội dung đánh giá

     Nội dung đánh giá của PISA hoàn toàn được xác định dựa trên các kiến thức, kỹ năng cần thiết cho cuộc sống tương lai, không dựa vào nội dung các chương trình giáo dục quốc gia. Đây chính là điều mà PISA gọi là “năng lực phổ thông” (về làm toán, về khoa học, về đọc hiểu) - những năng lực cần thiết chuẩn bị cho cuộc sống trong một xã hội hiện đại.

Ví dụ một số ngữ cảnh trong đánh giá Khoa học của PISA:

Con người

Sức khỏe (duy trì sức khỏe, tai nạn, dinh dưỡng, v.v…).

Tài nguyên (việc tiêu thụ năng lượng và các tài nguyên).

Môi trường (thái độ thân thiện với môi trường, sử dụng và loại bỏ các loại vật liệu, v.v…).

Rủi ro (do thiên nhiên hay do con người, v.v…).

Các lĩnh vực khác (hứng thú v