TIN TỨC KHÁC

Trường THCS Giáp Bát: Thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập cho chương 1 - các loại hợp chất vô cơ-hóa học 9 theo hướng tiếp cận Pisa
Ngày đăng 23/08/2019 | 15:25  | View count: 79

Sáng kiến kinh nghiệm: Thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập cho chương 1 - các loại hợp chất vô cơ-hóa học 9 theo hướng tiếp cận Pisa

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

     1. Lý do chọn đề tài

     Đổi mới giáo dục là một trong những vấn đề mang tính thời sự, được mọi tầng lớp xã hội hiện nay rất quan tâm. Chính vì vậy, trong những năm gần đây, giáo dục Việt Nam đang tập trung đổi mới, hướng tới một nền giáo dục tiến bộ, hiện đại, hòa nhập với xu hướng của các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới.

     Ở trường trung học cơ sở (THCS), môn Hóa học dù được đưa vào giảng dạy muộn nhất trong hệ thống các môn khoa học nhưng có vai trò rất quan trọng trong cuộc sống của chúng ta. Các kiến thức hoá học không chỉ cung cấp những tri thức hóa học phổ thông, cơ bản mà còn cho người học thấy được mối liên hệ qua lại giữa công nghệ hoá học, môi trường và con ngư­ời. Chính vì vậy, để góp phần thực hiện mục tiêu “Hoạt động giáo dục phải thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” và để tạo dựng niềm đam mê học tập, giúp hóa học gần hơn với thực tiễn thì việc sử dụng bài tập môn hóa học trong dạy học ở trường THCS có vai trò rất quan trọng. Tuy nhiên, các bài tập môn hóa học đã và đang sử dụng hiện nay ở trường THCS phần nào còn mang tính hàn lâm, nghèo nàn về nội dung hóa học, chưa thực sự đáp ứng được nhiệm vụ, sứ mệnh to lớn của môn hoá học trong nhà trường THCS. Hầu hết HS học xong cấp học THCS chưa thực sự biết vận dụng kiến thức hóa học vào thực tế, chưa thấy được vai trò của hóa học trong đời sống. Và cũng một phần vì đó, các em chưa có nhiều niềm đam mê, say sưa trong học tập, đặc biệt là với môn Hóa học.

     Giáo dục Việt Nam trong năm 2012 có một dấu ấn quan trọng khi lần đầu tiên nước ta có khoảng 5.100 HS ở độ tuổi 15 của 162 trường thuộc 59 tỉnh, thành phố, cùng với hơn 70 quốc gia khác trên thế giới tham gia vào cuộc khảo sát chính thức của PISA 2012 - (viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Programme for International Student Assessment”, được dịch là “Chương trình đánh giá HS quốc tế” do tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (“Organization for Economic Co-operation and Development”, thường được viết tắt là OECD) khởi xướng và triển khai­­) từ ngày 12 đến ngày 14 tháng 4 năm 2012. Cho tới nay, PISA là cuộc khảo sát giáo dục duy nhất trên thế giới có tính chu kì (3 năm 1 lần) để đánh giá kiến thức và kỹ năng của HS ở độ tuổi 15 - độ tuổi kết thúc giáo dục bắt buộc ở hầu hết các quốc gia. PISA nổi bật nhờ quy mô toàn cầu và tính chu kỳ. Mục tiêu của chương trình PISA nhằm kiểm tra xem, khi đến độ tuổi kết thúc phần giáo dục bắt buộc, HS đã được chuẩn bị để đáp ứng các thách thức của cuộc sống sau này ở mức độ nào. Nội dung đánh giá của PISA hoàn toàn được xác định dựa trên các kiến thức, kỹ năng cần thiết cho cuộc sống tương lai, không dựa vào nội dung các chương trình giáo dục quốc gia. Thay vì kiểm tra sự thuộc bài theo các chương trình giáo dục cụ thể, PISA xem xét khả năng của HS ứng dụng các kiến thức và kỹ năng trong lĩnh vực chuyên môn cơ bản, khả năng phân tích, lý giải và truyền đạt một cách có hiệu quả khi họ xem xét, diễn giải và giải quyết các vấn đề. Theo nhận định của nhiều chuyên gia, PISA được đánh giá là cuộc khảo sát tin cậy về năng lực của HS.

     Là người trực tiếp giảng dạy bộ môn hóa học ở trường THCS, tôi nhận thấy, việc sử dụng hệ thống bài tập theo hướng tiếp cận PISA trong dạy học môn hóa học ở trường THCS là quan trọng, mang tính thiết thực cao. Tuy nhiên, thực tế hiện nay, các bài tập hóa học ở trường THCS được xây dựng theo hướng này gần như rất ít. Giáo viên là người trực tiếp giảng dạy nhưng cũng có rất ít tài liệu để có thể sử dụng tham khảo trong quá trình dạy học của mình. Bản thân tôi cũng muốn tự xây dựng cho mình một tài liệu có thể sử dụng trong quá trình dạy học. Tuy nhiên với khuôn khổ đề tài sáng kiến kinh nghiệm này, tôi xin mạnh dạn giới thiệu đề tài: “Thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập cho chương 1- Các loại hợp chất vô cơ - hóa học 9 theo hướng tiếp cận PISA”. Sau đề tài, tôi cũng mong muốn có thể phát triển tiếp đề tài với các chương tiếp theo của môn Hóa học lớp 9 nói riêng và Hóa học cấp THCS nói chung.

     2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

     2.1. Mục đích nghiên cứu

     Thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập cho chương 1 - Các loại hợp chất vô cơ - hóa học 9 theo hướng tiếp cận PISA nhằm làm cho việc dạy học hóa học gắn với thực tiễn cuộc sống, tạo hứng thú, say mê học tập môn Hóa học cho học sinh, từ đó nâng cao hiệu quả dạy học Hóa học ở trường THCS.

     2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

     2.2.1. Nghiên cứu các vấn đề lý luận của đề tài

- Nghiên cứu lý luận về bài tập hóa học trong dạy học hóa học.

     2.2.2. Tìm hiểu về chương trình đánh giá HS quốc tế (PISA)

     2.2.3. Thiết kế hệ thống bài tập hóa học trong chương 1- Các loại hợp chất vô cơ – hóa học 9 theo hướng tiếp cận PISA.

     2.2.4. Đề xuất cách sử dụng hệ thống bài tập trong chương 1- Các loại hợp chất vô cơ – hóa học 9 theo hướng tiếp cận PISA trong dạy học hóa học ở trường THCS.

     3. Phạm vi nghiên cứu

- Chương trình hóa học lớp 9 hiện hành.

- Nghiên cứu trong trường THCS.

     4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

     4. 1. Khách thể nghiên cứu

     Quá trình dạy và học hóa học ở trường THCS.

     4. 2. Đối tượng nghiên cứu

     - Học sinh lớp 9 trường THCS.

     5. Giả thuyết khoa học

     Nếu thiết kế được và sử dụng hợp lý hệ thống bài tập theo hướng tiếp cận PISA trong dạy học hóa học lớp 9 thì sẽ làm cho việc dạy học hóa học gắn với thực tiễn cuộc sống hơn, HS có hứng thú, say mê học tập môn hóa học, từ đó nâng cao hiệu quả dạy học môn hóa học ở trường THCS.

     6 . Phương pháp nghiên cứu

     6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận

     6.1.1. Nghiên cứu tài liệu lý luận dạy học có liên quan đến việc sử dụng bài tập trong dạy học Hóa học ở trường THCS.

     6.1.2. Nghiên cứu tài liệu lý luận dạy học có liên quan đến việc thiết kế bài tập mới trong dạy học Hóa học ở trường THCS.

     6.1.3. Nghiên cứu các tài liệu về chương trình đánh giá HS quốc tế PISA.

     6.1.4. Nghiên cứu nội dung, cấu trúc, chương trình hóa học lớp 9.

     6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

     6.2.1. Phương pháp quan sát: tiến hành quan sát các hoạt động dạy và học có sử dụng bài bập hóa học tại trường THCS nhằm phát hiện vấn đề nghiên cứu.

     6.2.2. Phương pháp đàm thoại: trao đổi với GV và HS để tìm hiểu ý kiến, quan niệm, thái độ ... của họ về việc sử dụng bài tập hóa học trong dạy và học ở trường THCS, cũng như những thuận lợi và khó khăn mà GV và HS đã gặp phải.

     6.2.3. Phương pháp điều tra: điều tra thực trạng việc sử dụng bài tập của GV và HS trong quá trình dạy và học môn Hoá học lớp.

     6.2.4. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: tham khảo ý kiến của các chuyên gia, các giảng viên và GV có nhiều kinh nghiệm về việc sử dụng bài tập trong giảng dạy hóa học trước kia và hiện nay.

     7. Dự kiến đóng góp mới của đề tài

- Xây dựng hệ thống bài tập cho chương 1- Các loại hợp chất vô cơ hóa học 9 theo hướng tiếp cận PISA.

- Đề xuất cách sử dụng hệ thống bài tập cho chương 1- Các loại hợp chất vô cơ hóa học 9 theo hướng tiếp cận PISA trong dạy học hóa học lớp 9 để làm cho việc dạy học hóa học gắn với thực tiễn cuộc sống hơn, HS có hứng thú, say mê học tập, từ đó nâng cao hiệu quả dạy học môn hóa học ở trường THCS.

PHẦN 2: NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP CHO CHƯƠNG 1- CÁC LOẠI HỢP CHẤT VÔ CƠ HÓA HỌC 9 THEO HƯỚNG TIẾP CẬN PISA

     1.1. Đổi mới phương pháp dạy học

     1.1.1. Đổi mới phương pháp dạy học trên thế giới

     Trên thế giới hiện nay, việc đổi mới PPDH đang được tiến hành theo một số phương hướng như tích cực hoá quá trình dạy học; cá thể hoá việc dạy học; dạy học lấy HS làm trung tâm; dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học.

      Việc tích hợp kiến thức chuyên ngành vào phương pháp tư duy có thể được thấy rõ trong năm mục tiêu học tập then chốt được nêu ra bởi UNESCO, giúp làm rõ các mục tiêu dạy học của phát triển bền vững (ESD). Năm mục tiêu đó là: (1) học để bi ế t, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của những kiến thức hàm chứa nội dung ý nghĩa và chính xác; (2) học để làm, tập trung vào tầm quan trọng của việc ứng dụng, sự xác đáng và những kỹ năng; (3) học để sống cùng nhau, trong đó thừa nhận tầm quan trọng của động lực xã hội tích cực; (4) học cách tồn tại, tập trung vào tầm quan trọng của trách nhiệm, phát triển cá nhân, siêu nhận thức; (5) học cách thay đổi bản thân và xã hội, tập trung vào sự thay đổi nhận thức như là phương tiện cam kết quan trọng. Học không chỉ bó hẹp trong phạm vi một quốc gia hay một trường học nào.

     1.1.2. Đổi mới phương pháp dạy học ở Việt Nam       

      Hơn 20 năm qua, Đảng ta đã nêu ra một loạt quan điểm về giao dục (GD), phù hợp với yêu cầu và đường lối đổi mới kinh tế - xã hội của đất nước, Đại hội VII khẳng định “GD-ĐT, cùng với khoa học và công nghệ, là quốc sách hàng đầu”. Sau đó đã xác định sứ mạng của GD là “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Về đầu tư, Đảng ta coi đầu tư cho GD là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển, tạo điều kiện để GD đi trước và phục vụ đắc lực sự phát triển kinh tế, xã hội. Nhưng nhìn lại, những quan điểm đúng đắn đó mới dừng ở nhận thức ban đầu, chưa được cụ thể hóa và quán triệt đầy đủ trong hành động. Vì vậy, giáo dục chưa thực sự chuyển biến. Tình trạng yếu kém, lạc hậu về giáo dục đang là nỗi bức xúc của cả xã hội và là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự yếu kém, lạc hậu trong phát triển kinh tế, xã hội nói chung. Đến nay, Đại hội XI đã đặt vấn đề: đổi mới căn bản, toàn diện nền GD. Qua đó có thể nói, Đảng đã thấy rõ và chỉ ra sự cấp bách và bức xúc của vấn đề này.

     1.2. Một số xu hướng đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông hiện nay

     Đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) được xem là một khâu rất quan trọng trong việc đổi mới giáo dục. Bởi lẽ, PPDH có hợp lý thì hiệu quả của việc dạy học mới cao, phương pháp có phù hợp thì mới có thể phát huy được khả năng tư duy, sáng tạo của người học. Chính vì vậy, vấn đề đổi mới PPDH đã được đặt ra đối với tất cả các cấp học trong hệ thống giáo dục phổ thông. Đặc biệt, khi chúng ta đang chuẩn bị tích cực cho lộ trình đổi mới căn bản, toàn diện GD Việt Nam trong những năm tới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI thì vấn đề đổi mới PPDH đã trở thành một yêu cầu cấp thiết.

     Định hướng chung về đổi mới PPDH đã được thể chế hóa trong Luật giáo dục 2005, điều 28.2: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS.”

     Có thể nói, cốt lõi của đổi mới PPDH ở trường THCS là hướng tới giúp HS học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, từ bỏ thói quen học tập thụ động, ghi nhớ máy móc. Đổi mới PPDH bao gồm từ đổi mới mục tiêu; đổi mới hoạt động của GV; đổi mới hoạt động học tập của HS; đổi mới các hình thức tổ chức dạy học và sử dụng phương tiện dạy học đến đổi mới  việc kiểm tra - đánh giá.

     1.3. Cơ sở lý luận của việc sử dụng bài tập trong dạy học Hóa học ở trường THCS

     1.3.1.Ý nghĩa của việc sử dụng bài tập hóa học trong dạy học Hóa học ở trường THCS

     Việc sử dụng bài tập trong dạy học là một trong những biện pháp kiểm tra - đánh giá quan trọng, thiết thực, rất có giá trị, đã và đang được sử dụng không chỉ đối với môn hóa học mà còn đối với cả các môn học khác ở trường phổ thông.

     Bài tập hóa học có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo chung và mục tiêu riêng của môn Hóa học. Bài tập hóa học vừa là mục đích, vừa là nội dung, lại vừa là phương pháp dạy học hiệu nghiệm.

     Bài tập hóa học có những ý nghĩa, tác dụng to lớn về nhiều mặt: ý nghĩa trí dục; ý nghĩa phát triển và ý nghĩa giáo dục.

     1.3.2. Phân loại các dạng bài tập dùng trong dạy học môn hóa học ở trường THCS

     Bài tập hóa học dùng trong dạy học môn hóa học ở trường THCS có thể phân chia thành nhiều loại phụ thuộc vào nội dung, hình thức, kiến thức, mục đích, yêu cầu kiểm tra - đánh giá Có thể chia như sau:

- Bài tập trắc nghiệm khách quan (câu hỏi trắc nghiệm ).

- Bài tập trắc nghiệm tự luận (câu hỏi tự luận) .

      1.4. Cơ sở lý luận về việc xây dựng bài tập hóa học mới trong dạy học Hóa học ở trường THCS

     1.4.1. Ý nghĩa của việc xây dựng các bài tập hóa học mới

      Trong quá trình dạy học, bài tập hóa học đã và đang phát huy những vai trò quan trọng của mình. Tuy nhiên, các bài tập hóa học sử dụng trong nhà trường phổ thông hiện nay còn nặng về kiến thức toán học, nghèo nàn về kiến thức hóa học. Hầu hết các bài tập hóa học hiện nay mới chỉ chủ yếu đánh giá HS về kiến thức lý thuyết hoá học, chưa đánh giá nhiều về kĩ năng cơ bản môn hoá học như: kĩ năng học tập tích cực bộ môn Hóa học, kĩ năng thực hành hóa học, kĩ năng vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn. Đồng thời, bài tập hóa học hiện nay chưa chú trọng đến việc phát huy khả năng tư duy sáng tạo, lập kế hoạch, giải quyết vấn đề trong học tập hoá học và thực tiễn đời sống, chưa chú trọng đến việc phát triển năng lực tư duy hóa học, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề của HS.   

     Chính vì vậy, việc xây dựng nên những bài tập hóa học mới phù hợp với định hướng đổi mới của môn hóa học nói riêng và định hướng đổi mới giáo dục nói chung là rất quan trọng và có ý nghĩa thiết thực.

     1.4.2. Một số định hướng trong việc xây dựng bài tập hóa học mới

- Bài tập hóa học phải đa dạng, phải có nội dung hóa học thiết thực trên cơ sở của định hướng xây dựng chương trình hóa học phổ thông

Nội dung bài tập phải ngắn gọn, súc tích, không quá nặng về tính toán mà cần chú ý tập trung vào rèn luyện và phát triển các năng lực nhận thức, tư duy hóa học và hành động cho HS.

Bài tập hóa học cần chú ý đến việc mở rộng kiến thức hóa học và các ứng dụng của hóa học trong thực tiễn. Thông qua các dạng bài tập này làm cho HS thấy được việc học hóa học thực sự có ý nghĩa, những kiến thức hóa học rất gần gũi thiết thực với cuộc sống. Đồng thời, các bài tập hóa học cần khai thác các nội dung về vai trò của hóa học với các vấn đề kinh tế, xã hội môi trường và các hiện tượng tự nhiên, kích thích được sự đam mê, hứng thú học tập của HS đối với môn hóa học.

- Bài tập hóa học định lượng được xây dựng trên quan điểm không phức tạp hóa bởi các thuật toán, mà cần chú trọng đến nội dung hóa học và các phép tính được sử dụng nhiều trong tính toán hóa học.

- Đa dạng hóa các hình thức câu hỏi, bài tập, như: sử dụng bảng biểu, sơ đồ, văn bản, hình ảnh, câu hỏi trắc nghệm khách quan, câu hỏi tự luận ngắn, câu hỏi mở.

     Như vậy, xu hướng phát triển của bài tập hóa học hiện nay hướng đến rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức, phát triển khả năng tư duy hóa học cho HS ở các mặt: lí thuyết, thực hành và ứng dụng. Những bài tập có tính chất học thuộc trong các bài tập lí thuyết sẽ giảm dần mà được thay bằng các bài tập đòi hỏi sự tư duy, tìm tòi.

     1.5. Tìm hiểu về chương trình đánh giá HS quốc tế PISA

     1.5.1. Đặc điểm của PISA

- Quy mô của PISA là rất lớn và có tính toàn cầu. Ngoài các nước thuộc khối OECD, còn có nhiều quốc gia là đối tác của các nước thuộc khối OECD  tham gia - trong đó có Việt Nam, tham gia vào PISA năm 2012 (trong 3 ngày 12, 13 và 14 tháng 4 năm 2012, tại 162 trường thuộc 59 tỉnh, thành phố với khoảng 5.100 HS ở tuổi 15)

- PISA được thực hiện đều đặn theo chu kỳ ba năm một lần tạo điều kiện cho các quốc gia có thể theo dõi sự tiến bộ của nền giáo dục đối với việc phấn đấu đạt được các mục tiêu giáo dục cơ bản. Cứ sau một năm kể từ ngày điều tra, vào lúc 10 giờ sáng - giờ Paris, ngày 04 tháng 12, kết quả điều tra sẽ được công bố trên toàn thế giới.

- Cho đến nay, PISA là khảo sát giáo dục duy nhất đánh giá về năng lực phổ thông của HS độ tuổi 15 - độ tuổi kết thúc giáo dục bắt buộc ở hầu hết các quốc gia. PISA là một trong những nỗ lực đầu tiên xây dựng một hệ thống đánh giá mang theo triết lý giáo dục, đường hướng và phương pháp giảng dạy đáp ứng những nhu cầu của thời đại.

-  PISA thu nhập và cung cấp cho các quốc gia các dữ liệu có thể so sánh được trên bình diện quốc tế cũng như xu hướng của dữ liệu quốc gia về năng lực đọc hiểu, năng lực Toán học và khoa học của HS độ tuổi 15, từ đó giúp chính phủ các nước tham gia PISA rút ra những bài học về chính sách đối với giáo dục phổ thông.

-  PISA chú trọng xem xét và đánh giá một số vấn đề sau:

+ Chính sách công: “Nhà trường của chúng ta đã chuẩn bị đầy đủ cho những người trẻ tuổi trước những thách thức của cuộc sống trưởng thành chưa ?”, “Phải chăng một số loại hình học tập và giảng dạy của những nơi này hiệu quả hơn những nơi khác ?”…

+ Hiểu biết phổ thông: Thay vì kiểm tra sự thuộc bài theo các chương trình giáo dục cụ thể, PISA xem xét khả năng của HS ứng dụng các kiến thức và kĩ năng trong các lĩnh vực chuyên môn và khả năng phân tích, lý giải, truyền đạt một cách có hiệu quả khi họ xem xét, diễn giải và giải quyết các vấn đề.

+ Học suốt đời: HS không thể học tất cả mọi thứ cần biết trong nhà trường. Để trở thành những người học suốt đời có hiệu quả, HS không những phải có kiến thức và kỹ năng mà còn có cả ý thức về lý do và cách học. PISA không những khảo sát kỹ năng của HS về học hiểu, toán và khoa học mà còn đòi hỏi HS cả về động cơ, niềm tin về bản thân cũng như các chiến lược học tập.

- Bài tập của PISA: Các câu hỏi của PISA đều là các câu hỏi dựa trên các tình huống của đời sống thực và không chỉ giới hạn bởi cuộc sống thường ngày của các em trong nhà trường, và nhiều tình huống được lựa chọn không phải chỉ để HS thực hiện các thao tác về tư duy, mà còn để HS ‎ ý thức về các vấn đề xã hội (như là sự nóng lên của trái đất, phân biệt giàu nghèo). Dạng thức của câu hỏi phong phú, không chỉ bao gồm các câu hỏi lựa chọn đáp án mà còn yêu cầu HS tự xây dựng nên đáp án của mình. Chất liệu được sử dụng để xây dựng các câu hỏi này cũng đa dạng, ví dụ như: bài tập đọc hiểu của PISA có thể xây dựng trên bảng biểu đồ, tranh ảnh quảng cáo, văn bản, bài báo.

     1.5.2. Mục tiêu đánh giá

     PISA tập trung vào đánh giá 3 mảng năng lực chính: Năng lực toán học phổ thông (Mathematical literacy); Năng lực đọc hiểu phổ thông (Reading literacy); Năng lực khoa học phổ thông (Science literacy) - Đó là những kiến thức và kỹ năng tối cần thiết cho một HS bước vào cuộc sống trưởng thành. Và đó cũng là những kỹ năng và kiến thức nền tảng không thể thiếu cho quá trình học tập suốt đời của mỗi người.

     1.5.2.1. Năng lực toán học phổ thông:

     Là năng lực của một cá nhân để nhận biết và hiểu về vai trò của toán học trong thế giới, biết dựa vào toán học để đưa ra những suy đoán có nền tảng vững chắc vừa đáp ứng được các nhu cầu của đời sống cá nhân, vừa như một công dân biết suy luận, có mối quan tâm và có tính xây dựng. Đó chính là năng lực phân tích, lập luận và truyền đạt ý tưởng (trao đổi thông tin) một cách hiệu quả thông qua việc đặt ra, hình thành và giải quyết vấn đề toán học trong các tình huống và hoàn cảnh khác nhau.

     * Các câu hỏi ở 3 nhóm (cấp độ):

+ Nhóm 1: Tái hiện (lặp lại).

+ Nhóm 2: Kết nối và tích hợp.

+ Nhóm 3: Tư duy toán học; khái quát hóa và nắm được những tri thức toán học ẩn dấu bên trong các tình huống và các sự kiện.

     1.5.2.2. Năng lực đọc hiểu phổ thông:

     Là năng lực hiểu, sử dụng và phản hồi lại ý kiến của một cá nhân sau khi đọc một văn bản. Khái niệm học và đặc biệt là học suốt đời đòi hỏi phải mở rộng cách hiểu về việc biết đọc. Biết đọc không chỉ còn là yêu cầu của suốt thời kì tuổi thơ trong nhà trường phổ thông, thay vào đó nó còn trở thành một nhân tố quan trọng trong việc xây dựng, mở rộng những kiến thức cá nhân, kĩ năng và chiến lược của mỗi cá nhân trong suốt cuộc đời khi họ tham gia vào các tình huống khác nhau cũng như trong mối quan hệ với người xung quanh.

     * Các câu hỏi được đánh giá ở 3 nhóm/cấp độ:

+ Thu thập thông tin.

+ Phân tích, lí giải văn bản.

+ Phản hồi và đánh giá.

     1.5.2.3. Năng lực khoa học phổ thông:

     Là năng lực của một cá nhân biết sử dụng kiến thức khoa học để xác định các câu hỏi và rút ra kết luận dựa trên chứng cứ để hiểu và đưa ra quyết định về thế giới tự nhiên thông qua hoạt động của con người thực hiện việc thay đổi thế giới tự nhiên.

     * Các câu hỏi ở 3 cấp độ/nhóm sau:

+ Nhận biết các vấn đề khoa học: HS nhận biết các vấn đề mà có thể được khám phá một cách khoa học, nhận ra những nét đặc trưng chủ yếu của việc nghiên cứu khoa học.

+ Giải thích hiện tượng một cách khoa học: HS có thể áp dụng kiến thức khoa học vào tình huống đã cho, mô tả, giải thích hiện tượng một cách khoa học và dự đoán sự thay đổi.

+ Sử dụng các chứng cứ khoa học, lí giải các chứng cứ để rút ra kết luận.

* Kỹ năng giải quyết vấn đề (Được đưa vào PISA từ năm 2003) được thiết kế thành một đề riêng, các quốc gia có quyền lựa chọn đăng ký tham gia.

* Mỗi kỳ đánh giá sẽ có một lĩnh vực kiến thức được lựa chọn để đánh giá sâu hơn. Năm 2012, trọng tâm đánh giá là năng lực Toán học.

     1.5.3. Nội dung đánh giá

     Nội dung đánh giá của PISA hoàn toàn được xác định dựa trên các kiến thức, kỹ năng cần thiết cho cuộc sống tương lai, không dựa vào nội dung các chương trình giáo dục quốc gia. Đây chính là điều mà PISA gọi là “năng lực phổ thông” (về làm toán, về khoa học, về đọc hiểu) - những năng lực cần thiết chuẩn bị cho cuộc sống trong một xã hội hiện đại.

Ví dụ một số ngữ cảnh trong đánh giá Khoa học của PISA:

Con người

Sức khỏe (duy trì sức khỏe, tai nạn, dinh dưỡng, v.v…).

Tài nguyên (việc tiêu thụ năng lượng và các tài nguyên).

Môi trường (thái độ thân thiện với môi trường, sử dụng và loại bỏ các loại vật liệu, v.v…).

Rủi ro (do thiên nhiên hay do con người, v.v…).

Các lĩnh vực khác (hứng thú với các giải thích về hiện tượng tự nhiên trong khoa học, các sở thích, hoạt động, thể thao, âm nhạc dựa trên khoa học…).

Xã hội

Sức khỏe (kiểm soát bệnh tật, sức khỏe cộng đồng, chọn lọc thức ăn, vận động xã hội v.v…).

Tài nguyên (duy trì dân số, chất lượng cuộc sống, an toàn, sản xuất và phân phối lương thực, cung cấp năng lượng v.v….)

Môi trường (phân bố dân số, xử lý rác thải, tác động của môi trường, thời tiết địa phương, v.v….).

Rủi ro (những thay đổi bất thường [động đất, thời tiết khắc nghiệt], các thay đổi chậm rãi và lâu dài [sự xói mòn khu vực bờ biển, trầm tích], đánh giá rủi ro).

Các lĩnh vực khác (các vật liệu mới, các thiết bị và quy trình, biến đổi gen, công nghệ vũ khí, vận tải).

Toàn cầu

Sức khỏe (bệnh dịch, sự lây lan của bệnh truyền nhiễm v.v….).

Tài nguyên (tài nguyên phục hồi được và không có khả năng phục hồi, các hệ sinh thái, tăng trưởng dân số, v.v….. ).

Môi trường (đa dạng sinh học, khả năng duy trì của hệ sinh thái, kiểm soát ô  nhiễm, việc sinh ra và mất đi của đất, ..).

Rủi ro (thay đổi khí hậu, tác động của chiến tranh hiện đại….).

Các lĩnh vực khác (sự tuyệt chủng của các loài, thám hiểm không gian, nguồn gốc và cấu trúc của vũ trụ).

 

     1.5.4. Cách đánh giá trong bài tập PISA

     1.5.4.1 Các kiểu câu hỏi được sử dụng

Câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn kiểu đơn giản.

Câu hỏi Đúng/ Sai phức hợp.

Câu hỏi mở đòi hỏi trả lời ngắn.

Câu hỏi mở đòi hỏi trả lời dài.

Câu hỏi đóng đòi hỏi trả lời.

Câu hỏi yêu cầu vẽ đồ thị, biểu đồ.

Câu hỏi yêu cầu HS dùng lập luận để thể hiện việc đồng tình hay bác bỏ một nhận định.

Câu hỏi liên quan đến việc HS phải đọc và trích rút thông tin từ biểu đồ, sơ đồ, hình vẽ để trả lời câu hỏi.

     1.5.4.2. Các mức trả lời

Mức tối đa

Mức chưa tối đa

Không đạt

- Sử dụng các mức này thay cho khái niệm “Đúng” hay “không đúng”.

* Tác động của PISA đến giáo dục các nước

Đối với hầu hết các nước trên thế giới, kết quả điều tra PISA lần đầu tiên sau khi được công bố là một sự “cảnh tỉnh thô bạo” về thực trạng nền giáo dục của các nước OECD và các nước tham gia PISA. Trước PISA, chưa từng có cuộc điều tra nào so sánh trình độ HS giữa các nước. Thực tế là các nước, đặc biệt là các cường quốc lớn như Đức, Anh, Pháp, Mỹ đều “tự hào” và cho rằng nền giáo dục của mình là ưu việt nhất, là cái nôi sản sinh ra những thiên tài, triết gia và các nhà bác học. Đặc biệt, nền giáo dục Đức - từng được xem là niềm tự hào của châu Âu, nơi sản sinh ra một số vĩ nhân của nhiều thời đại, nhưng kết quả yếu kém sau hai lần điều tra (đứng dưới mức trung bình của OECD) đã khiến toàn xã hội đứng trước tình trạng “tự vấn”. Nhận thức được thực trạng hệ thống giáo dục đã “lỗi thời”, nước Đức đã “mổ xẻ” những điểm yếu trong hệ thống giáo dục của mình và đưa ra những sửa đổi căn bản hệ thống giáo dục quốc gia của mình. Nước Đức là một trường hợp điển hình cho sự tác động tích cực của chương trình PISA đối với sự cải tổ, nâng cao chất lượng giáo dục.

     Từ thực tiễn giảng dạy hóa học ở trường THCS tôi nhận thấy:

- Hầu hết sự đánh giá của GV chỉ dựa vào điểm số các bài kiểm tra của HS. Nội dung của các bài kiểm tra lại theo một khuôn mẫu chung chung, lặp lại như: bài tập viết phương trình, bài tập nhận biết chất, bài tập tính toán. Nội dung các bài tập ít sáng tạo, nên dễ tạo lối mòn trong suy nghĩ hoặc nhiều khi lại quá phức tạp so với trình độ của các em, làm cho môn hóa học trở nên khó, ít hứng thú với HS.

- Đặc biệt, các bài tập mà hầu hết các GV hiện nay sử dụng mang tính hàn lâm, chỉ chú trọng đến đánh giá kiến thức lý thuyết hóa học. Những dạng bài tập liên quan đến những vấn đề thực tế của cá nhân và cộng đồng, những dạng bài tập phát huy năng lực, tư duy khoa học của HS, gần như chưa được GV sử dụng trong kiểm tra - đánh giá HS.

- Chưa khai thác triệt để các ứng dụng của hóa học trong thực tế và các vấn đề thực tiễn có liên quan đến kiến thức hóa học vào nội dung bài tập nên tính thực tiễn của môn học chưa cao.

- Chủ yếu GV sử dụng các nguồn bài tập có sẵn trong SGK và sách tham khảo mà chưa có phương pháp để thiết kế và xây dựng một cách đa dạng các loại bài tập, nên nội dung bài tập còn nghèo nàn, nhàm chán, chưa tạo hứng thú học tập cho HS.

Tiểu kết chương 1

     Từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài và thực tiễn giảng dạy bộ môn Hóa học ở trường THCS tôi thấy cần thiết phải xây dựng cho mình một bộ tài liệu có thể sử dụng trong việc giảng dạy bộ môn đem lại hiệu quả cao nhất và nhằm phát triển được năng lực của học sinh phù hợp với xu thế phát triển trên thế giới cũng như trong nước. Xây dựng hệ thống bài tập Hóa học theo hướng tiếp cận PISA trong dạy học môn Hóa học lớp 9 là một trong những cách có thể đáp ứng nhu cầu đã đặt ra trong dạy học môn Hóa học lớp 9 - THCS. Tuy nhiên, trong khuôn khổ thời gian có hạn và phạm vi của đề tài, hệ thống bài tập được xây dựng cho chương 1- Các loại hợp chất vô cơ - Hóa học lớp 9. Hướng nghiên cứu này sẽ tiếp tục được phát triển tiếp ở các chương còn lại của chương trình lớp 9 ở các đề tài tiếp theo.

CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI T ẬP CHO  C HƯƠNG 1- CÁC LOẠI HỢP CHẤT VÔ CƠ – HÓA HỌC 9 THEO HƯỚNG TIẾP CẬN PISA

     2.1 Phân tích chương trình hóa học 9

     2.1.1. Mục tiêu cơ bản của chương trình hóa học lớp 9

     Môn hóa học ở trường THCS có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo của nhà trường THCS. Môn hóa học cung cấp cho HS một hệ thống kiến thức phổ thông, cơ bản và thiết thực đầu tiên về hóa học, hình thành ở các em một số kĩ năng phổ thông, cơ bản và thói quen làm việc khoa học, góp phần hình thành và phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động, chuẩn bị cho HS học lên và đi vào cuộc sống lao động.

     Chương trình môn hóa học ở trường THCS phải giúp cho HS đạt các mục tiêu cụ thể sau đây:

     2.1.1.1. Về kiến thức

      HS có được một hệ thống kiến thức phổ thông, cơ bản ban đầu về hóa học bao gồm:

- Hệ thống khái niệm hóa học cơ bản, học thuyết, định luật hóa học; nguyên tử, phân tử, đơn chất, hợp chất, định luật bảo toàn khối lượng, mol, hóa trị, công thức và phương trình hóa học, dung dịch và nồng độ dung dịch.

- Một số chất vô cơ và hữu cơ quan trọng, gần gũi với đời sống và sản xuất: oxi, không khí, hiđro, nước, kim loại, phi kim, oxit, axit, bazơ, muối, hidrocacbon, hợp chất hữu cơ có oxi, polime.

HS có được một số kiến thức cơ bản, kĩ thuật tổng hợp về nguyên liệu, sản phẩm, quá trình hóa học, thiết bị sản xuất hóa chất và môi trường.

      2.1.1.2. Về kĩ năng

     HS có được một số kĩ năng phổ thông, cơ bản và thói quen làm việc khoa học đó là:

- Kĩ năng cơ bản tối thiểu làm việc với các chất, dụng cụ hóa học quan sát, mô tả hiện tượng và tiến hành một số thí nghiệm  hỗn hợp đơn giản trong môn học.

- Biết cách làm việc khoa học, biết cách hoạt động để chiếm lĩnh kiến thực.

- Biết thu thập phân loại, tra cứu và sử dụng thông tin tư liệu

- Biết phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, có thói quen học tập và tự học.

- Có kĩ năng giải bài tập hóa học và tính toán.

- Biết vận dụng kiến thức để góp phần giải quyết một số vấn đề đơn giản của cuộc sống thực tiễn có liên quan đến hóa học.

     2.1.1.3. Về thái độ và tình cảm

     HS có được những tình cảm tích cực như:

- Có lòng ham thích học tập bộ môn hóa học, có niềm tin về sự tồn tại về sự biến đổi của vật chất, về khả năng nhận thức của con người, hóa học đã và đang góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống.

- Có ý thức tuyên truyền và vận dụng tiến bộ của khoa học nói chung và hóa học nói riêng vào đời sống sản xuất ở gia đình và địa phương.

- Có những phẩm chất, thái độ cần thiết của người lao động như cẩn thận, kiên trì, trung thực, tỉ mỉ, chính xác, trung thực.

- Có ý thức trách nhiệm với bản thân gia đình và xã hội để có thể hòa hợp với môi trường thiên nhiên và cộng đồng.

  1. Cấu trúc nội dung chương trình

Bảng 2.1. Nội dung chương trình Hóa học 9

Nội dung

Số tiết

Lí thuyết

Luyện tập

Thực hành

Ôn tập

Kiểm tra

Chương 1. Các loại hợp chất vô cơ

13

2

2

 

 

Chương 2. Kim loại

7

1

1

 

 

Chương 3. Phi kim. Sơ lược bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học

9

1

1

 

 

Chương 4. Hiđrocacbon - Nhiên liệu

8

1

1

 

 

Chương 5. Dẫn xuất của hiđrocacbon.

10

1

2

 

 

 Ôn tập đầu năm, học kì I và cuối năm

 

 

 

4

 

 Kiểm tra

 

 

 

 

6

Tổng số : 70 tiết

47

6

7

4

6

 

     2.2. Thiết kế hệ thống bài tập theo hướng tiếp cận PISA trong dạy học chương 1- Các loại hợp chất vô cơ hóa học 9

     2.2.1. Cơ sở và nguyên tắc

     2.2.1.1. Cơ sở

     Có hai cơ sở quan trọng để thiết kế bài tập cho chương 1- Các loại hợp chất vô cơ - hóa học 9 theo hướng tiếp cận PISA:

    * Cơ sở lý thuyết

- Các nội dung kiến thức lý thuyết chương 1- Các loại hợp chất vô cơ - hóa học 9, bao gồm:

+ Tính chất vật lý và tính chất hóa học cơ bản của các loại hợp chất vô cơ: Oxit axit, oxit bazơ, axit, bazơ, muối.

+ Tính chất vật lý và tính chất hóa học cơ bản, ứng dụng chủ yếu, nguyên tắc sản xuất chính của một số đơn chất, hợp chất vô cơ điển hình như: CaO, SO2, H2SO4, Ca(OH)2, NaCl.

- Mục tiêu đánh giá của PISA.

* Cơ sở thực nghiệm

- Các vấn đề trong thực tiễn đời sống của cá nhân HS, của cộng đồng, của xã hội liên quan đến kiến thức chương 1- Các loại hợp chất vô cơ - hóa học 9.

- Một số năng lực cơ bản, phổ thông (như: năng lực tư duy khoa học, năng lực toán học, đọc hiểu, kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn... để phát hiện và giải quyết các vấn đề) cần thiết cho cuộc sống tương lai của HS cần được rèn luyện và phát huy.

Như vậy, để thiết kế bài tập hóa học theo hướng tiếp cận PISA có thể xuất phát từ:

-  Những kiến thức và kĩ năng cần kiểm tra.

- Những tình huống, vấn đề thực tế trong đời sống có liên quan đến kiến thức hóa học.

-  Một số bài tập mẫu của PISA.

-  Một số bài tập hóa học cơ bản có sẵn.

     2.2.1.2. Nguyên tắc

     Dựa vào các cơ sở và những điểm xuất phát trên, có thể xây dựng được một bài tập hóa học có tính chất cơ bản, điển hình (gọi là bài tập gốc). Ta có thể biến đổi nội dung bài tập gốc thành nhiều bài tập khác nhau theo 6 cách sau đây:

     1. Nghịch đảo giữa điều kiện và yêu cầu.

     2. Thay đổi điều kiện.

     3. Thay đổi yêu cầu.

    4. Thay đổi cả điều kiện và yêu cầu.

     5. Tổ hợp nhiều bài tập.

     6. Chuyển bài tập dạng tự luận sang các dạng trắc nghiệm khách quan và ngược lại.

     Các nguyên tắc trên là cơ sở để phân hoá bài tập theo từng mục đích dạy học khác nhau, làm cho số lượng và chất lượng các bài tập hóa học được tăng lên. 

     2.2.2. Quy trình thiết kế hệ thống bài tập theo hướng tiếp cận PISA

     2.2.2.1. Lựa chọn đơn vị kiến thức

     Với những định hướng đổi mới trong kiểm tra đánh giá môn hóa học ở trường THCS và phát huy những điểm tích cực của PISA, khi xây dựng hệ thống bài tập cho chương 1- Các loại hợp chất vô cơ- hóa học 9 hướng cách tiếp cận PISA, cần lựa chọn những đơn vị kiến thức không chỉ có ý nghĩa về mặt hóa học mà còn gắn liền với thực tiễn, với đời sống của cá nhân và cộng đồng (như: mưa axit, ăn mòn kim loại, ô nhiễm môi trường không khí...), phát huy được năng lực khoa học, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề của HS nhưng không quá khó, quá trừu tượng, làm mất đi bản chất hóa học.

     2.2.2.2. Xác định mục tiêu giáo dục của đơn vị kiến thức

     Đơn vị kiến thức lựa chọn khi thiết kế bài tập theo hướng tiếp cận PISA cần thực hiện được mục tiêu giáo dục (về kiến thức, kĩ năng, thái độ - tình cảm) của môn hóa học nói riêng và mục tiêu giáo dục ở trường THCS nói chung.

     2.2.2.3. Thiết kế hệ thống bài tập theo mục tiêu

     Từ các bài tập hóa học và các bài tập của PISA đã có, cũng như các ý tưởng, nội dung kiến thức hóa học, thiết kế hệ thống bài tập hóa học theo các hướng như:

     Xây dựng các bài tập tương tự các bài tập đã có

      Khi một bài tập có nhiều tác dụng đối với HS, ta có thể dựa vào bài tập đó để tạo ra những bài tập khác tương tự theo các cách như:

- Giữ nguyên hiện tượng và chất tham gia phản ứng, chỉ thay đổi lượng chất

- Giữ nguyên hiện tượng và thay đổi chất tham gia phản ứng.

- Thay đổi các hiện tượng phản ứng và chất phản ứng, chỉ giữ lại những dạng phương trình hóa học cơ bản.

- Từ một bài toán ban đầu, ta có thể đảo cách hỏi giá trị của các đại lượng đã cho như: khối lượng, số mol, thể tích, nồng độ.

- Thay các số liệu bằng chữ để tính tổng tổng quát.

- Chọn những chi tiết hay ở các bài tập để phối hợp lại thành bài mới.

Xây dựng bài tập hoàn toàn mới

Thông thường, có hai cách xây dựng bài tập mới là:

- Dựa vào tính chất hóa học và các quy luật tương tác giữa các chất để đặt ra bài tập mới.

- Lấy những ý tưởng, nội dung, những tình huống hay và quan trọng ở nhiều bài, thay đổi nội dung, cách hỏi, số liệu để phối hợp lại thành bài mới.

    2.2.2.4. Kiểm tra thử

     Thử nghiệm áp dụng bài tập hóa học đã thiết kế trên đối tượng HS thực nghiệm để kiểm tra hệ thống bài tập đã thiết kế về tính chính xác, khoa học, thực tế của kiến thức hóa học, toán học cũng như độ khó, tính ưu việt, cũng như tính khả thi, khả năng áp dụng của bài tập.

     2.2.2.5. Chỉnh sửa

     Thay đổi, chỉnh sửa nội dung, số liệu, tình huống trong bài tập sau khi đã cho kiểm tra thử sao cho hệ thống bài tập có tính chính xác, khoa học về mặt kiến thức, kĩ năng, có giá trị về mặt thực tế, và phù hợp với đối tượng HS, với mục tiêu kiểm tra - đánh giá, mục tiêu giáo dục của môn hóa học ở trường THCS.

     2.2.2.6. Hoàn thiện hệ thống bài tập

      Sắp xếp, hoàn thiện hệ thống bài tập một cách khoa học.

     2.3. Hệ thống bài tập cho chương 1- Các loại hợp chất vô cơ- Hóa học 9 theo hướng tiếp cận PISA

Bài tập 1 : Hãy đọc đoạn văn bản trích dẫn sau:

Mưa axit

     Mưa axit được phát hiện ra đầu tiên năm 1952 nhưng đến những năm 1960 thì các nhà khoa học mới bắt đầu quan sát và nghiên cứu về hiện tượng này. Thuật ngữ “mưa axit” được đặt ra bởi Robert Angus Smith vào năm 1972. Trong thành phần các chất đốt tự nhiên như than đá và dầu mỏ có chứa một lượng lớn lưu huỳnh, còn trong không khí lại chứa nhiều nitơ. Quá trình đốt sản sinh ra các khí độc hại như - lưu huỳnh đioxit (SO2) và nitơ đioxit (NO2). Các khí này hòa tan với hơi nước trong không khí tạo thành các axit sunfuric (H2SO4) và axit nitric (HNO3). Khi trời mưa, các hạt axit này tan lẫn vào nước mưa, làm độ pH của nước mưa giảm. Nếu nước mưa có độ pH dưới 5,6 được gọi là mưa axit. Do có độ chua khá lớn, nước mưa có thể hoà tan được một số bụi kim loạioxit kim loại có trong không khí như oxit chì,... làm cho nước mưa trở nên độc hơn nữa đối với cây cối, vật nuôi và con người. Trong đề tài “Đánh giá hiện trạng mưa axit ở Việt Nam” của Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường, ở các thành phố công nghiệp lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP .HCM, lượng mưa axít luôn cao hơn gấp 2 tới 3 lần so với các khu vực có giá trị sinh thái cao như Cúc Phương, Nha Trang, Cà Mau...

     Câu 1: Theo em, hiện tượng mưa axit trong văn bản này đề cập đến những loại đơn chất, hợp chất nào?

Đáp án:

- Mức đầy đủ :

Nêu được từ 8 đến 11 các đơn chất, hợp chất hóa học: Lưu huỳnh, nitơ, lưu huỳnh đioxit (SO2), nitơ đioxit (NO2), nước, không khí, axit sunfuric (H2SO4), axit nitric (HNO3, kim loại chì, oxit kim loạioxit chì

- Mức chưa đầy đủ:

Chỉ nêu được từ 5 đến 8 đơn chất, hợp chất hóa học

- Không đạt:

Nêu dưới 5 đơn chất, hợp chất hóa học hoặc  nêu không đúng, hoặc không trả lời

Câu 2: Có nhiều giải pháp được cho là góp phần ngăn ngừa hiện tượng mưa axit. Khoanh tròn “Có” hoặc “Không” ứng với mỗi trường hợp

Giải pháp này có góp phần ngăn ngừa hiện tượng mưa axit hay không?

Có hoặc không?

1. Cần tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về phát thải nhằm hạn chế tối đa phát tán SOx và NOx vào khí quyển.

/ Không

2. Lắp đặt các thiết bị khử và hấp phụ SOx và NOx.

/ Không

3. Không cho phép các nhà máy có lượng khí thải SOx, NOx ra ngoài môi trường được hoạt động.

Có/ Không

4. Nâng cao chất lượng nhiên liệu hóa thạch bằng cách loại bỏ triệt để lưu huỳnh và nitơ có trong dầu mỏ và than đá trước khi sử dụng.

/ Không

5. Các nhà máy phải xây dựng ống khói thật cao để các khí SOx, NOx phát tán được nhanh.

Có/ Không

- Mức đầy đủ: Trả lời đúng tất cả các câu theo thứ tự: Có, Có, Không, Có, Không.

- Mức chưa đầy đủ: Trả lời đúng 2 hoặc 3, 4 ý.

- Không đạt: Chỉ trả lời đúng 1 ý hoặc không trả đúng ý nào, hoặc không trả lời.

Câu 3 : Một điều nghịch lý là chính các biện pháp chống ô nhiễm, áp dụng ở khu vực xung quanh những cơ sở sản xuất điện, lại góp phần gieo rắc mưa axit trên diện rộng. Do các nhà máy buộc phải xây ống khói thật cao nhằm tránh ô nhiễm cho môi trường địa phương, các hóa chất gây mưa axit đã lan tỏa đi xa hàng trăm, thậm chí hàng nghìn km khỏi nguồn.

Có bạn cho rằng, nếu vậy không nên xây các ống khói cao ở các nhà máy vì tốn kém và góp phần gieo rắc mưa axit trên diện rộng. Ý kiến của em thì sao?

Đáp án:  

- Mức đầy đủ: Vẫn cần có các ống khói thải khí thải ở các nhà máy. Tuy nhiên, cần cải tiến các ống khói ở các nhà máy, xử lý tối ưu các khí thải trước khi thải ra ngoài môi trường.

- Mức chưa đầy đủ: Chỉ nêu được việc cần phải xây dựng các ống khói thải khí ở các nhà máy nhưng chưa nói đến việc xử lý các khí thải trước khi thải ra ngoài môi trường.

- Không đạt: Nếu đồng ý với ý kiến của bạn hoặc không đưa ra câu trả lời

Bài tập 2 :                             Tượng Caryatid

Hình vẽ dưới đây là những bức tượng Caryatid (tượng hình phụ nữ thay cho cột) được xây dựng ở Acropolis tại Athen hơn 2500 năm trước. Các bức tượng này được tạc từ một loại đá gọi là đá cẩm thạch. Đá cẩm thạch được tạo thành từ Canxi cacbonat. Năm 1980, những bức tượng nguyên bản đã được chuyển vào trong bảo tàng Acropolis và được thay thế bởi những bản sao đúng như thật. Những bức tượng nguyên bản đã bị ăn mòn bởi mưa axit.      

Em hãy đề xuất cách tiến hành thí nghiệm để tìm hiểu tác động của mưa axit lên đá cẩm thạch? (Cho biết giấm ăn có thành phần chính là axit axetic CH3COOH  và nước mưa có cùng nồng độ axit)

Đáp án:

- Mức đầy đủ:

Đề xuất và giải thích được ít nhất 2 mục đích của cách tiến hành thí nghiệm:

Đặt các mảnh đá cẩm thạch như nhau về khối lượng vào cốc 1 đựng giấm ăn, cốc 2 đựng nước cất (nước nguyên chất) qua một đêm. Khi đá cẩm thạch được cho vào trong giấm ăn, có những bọt khí được tạo ra. So sánh khối lượng của mảnh đá cẩm thạch được xác định trước và sau thí nghiệm.

Mục đích:

Để so sánh với thí nghiệm giữa giấm ăn và đá cẩm thạch và vì thế cho thấy axit (giấm ăn) là cần thiết cho phản ứng.

Để đảm bảo rằng nước mưa phải có tính axit như mưa axit thì mới gây ra phản ứng hóa học được.

Để xem liệu rằng còn có những lý do nào khác gây ra những lỗ trên các miếng đá cẩm thạch hay không.

Bởi vì thí nghiệm này cho thấy rằng các miếng đá cẩm thạch không phải phản ứng với bất kỳ chất lỏng nào do nước là trung tính.

Mức chưa đầy đủ: Đưa ra được cách tiến hành thí nghiệm nhưng chưa giải thích được hoặc mới chỉ đưa ra 1 mục đích của việc tiến hành thí nghiệm đó.

Không đạt: Đề xuất thí nghiệm không đúng hoặc không đề xuất thí nghiệm.

Bài tập 3:                            Những bức tượng đá

Những bức tượng bằng đá, hay đền thờ TaMaHan ở Ấn Độ bị phá huỷ một phần là một trong những vấn đề rất được quan tâm của các nhà khảo cổ, hay lịch sử học. Theo em, lý do nào được quan tâm đến nhiều nhất?

A. Không khí.                                                 B. Nhiệt độ.

C. Bão.                                                           D. Mưa axit.

Đáp án:

- Mức đầy đủ: Chọn đáp án D và giải thích: Mưa axit tác dụng với canxi cacbonat là thành phần chính của những bức tượng này.

- Mức chưa đầy đủ:

+ Chọn đáp án D nhưng không có lời giải thích. 

+ Hoặc: Đưa ra đáp án A có kèm theo lời giải thích: nếu không khí bị ô nhiễm càng nặng nề thì sự phá hủy càng nhanh.

- Không đạt: + Chọn đáp án D nhưng lời giải thích hoàn toàn sai, không đúng bản chất vấn đề, hoặc: đưa ra đáp án khác hoặc không trả lời.

Bài tập 4 :                              Thạch nhũ

 Một nhóm HS đi thăm quan du lịch vịnh Hạ Long. Các bạn thực sự ngạc nhiên khi được nhìn thấy những hang động nơi đây.

Bức ảnh dưới đây là một trong những hang động mà các bạn đã đến.

Bạn Hồng tự hỏi: Hang động này rất đẹp nhưng không biết những thạch nhũ này được hình thành như thế nào nhỉ?

Em hãy đưa ra lời giải đáp giúp bạn Hồng nhé.

Đáp án:

- Mức đầy đủ: Giải thích rõ sự tạo thành thạch nhũ gồm 2 quá trình:

+ Phá hủy đá vôi CaCO3 do tác dụng của nước mưa có hòa tan CO2 tạo ra muối Ca(HCO3)2 tan:          CaCO3   +   CO2  +  H2O  → Ca(HCO3)2

+ Sự phân hủy Ca(HCO3)2 theo các kẽ nứt chảy xuống các vòm hang và bị phân hủy tạo thành thạch nhũ:

          Ca(HCO3)2  →  CaCO3 ↓  +   CO2   +  H2O

- Mức chưa đầy đủ: Chỉ đưa ra được sự phân hủy Ca(HCO3)2 theo các kẽ nứt chảy xuống các vòm hang và bị phân hủy tạo thành thạch nhũ:

          Ca(HCO3)2  →  CaCO3 ↓  +   CO2   +  H2O

- Không đạt: Không đưa ra lời giải thích hoặc lời giải thích không đúng bản chất vấn đề.

Bài tập 5 :                                 Điều chế SO2

Hãy lựa chọn hoá chất và các dụng cụ cần thiết để điều chế khí SO2 tinh khiết. Vẽ sơ đồ thí nghiệm điều chế khí SO2 tinh khiết đó.

Đáp án:

- Mức đầy đủ:

Đưa ra đầy đủ hóa chất, dụng cụ và vẽ đúng sơ đồ và có giải thích lý do lựa chọn hóa chất và cách sắp xếp vị trí các dụng cụ, hóa chất.

Có thể đưa ra hóa chất, dụng cụ, sơ đồ và cách giải thích như sau: 

Hoá chất: Cu với H2SO4 đặc, hoặc dung dịch  Na2SO3 với  dung dịch H2SO4, CuSO4 khan, bông tẩm NaOH đặc.

Dụng cụ: Bình cầu đáy tròn có nhánh, giá thí nghiệm, 2 bình tam giác, ống dẫn khí, đèn cồn.

Giải thích:    

+ PTHH:      Cu + H2SO   CuSO4 + SO2 + H2O

           Hoặc: Na2SO3 + H2SO4  NaHSO4 + SO2 + H2O

+ Bình cầu đáy tròn: Để hóa chất tập trung vào đáy ống nghiệm, vị trí đun trên ngọn lửa đèn cồn.

+ Bình đựng CuSO4 khan: để hấp thụ hơi nước.

+ Bông tẩm xút NaOH: hấp thụ axit còn dư.

- Mức chưa đầy đủ:

+ Vẽ được sơ đồ thí nghiệm nhưng chưa giải thích cách lựa chọn hóa chất và cách thiết kế vị trí dụng cụ, hóa chất.

+ Hoặc: Chỉ nêu được dụng cụ, hóa chất và trình bày ý tưởng sắp xếp dụng cụ, hóa chất nhưng chưa vẽ được sơ đồ thí nghiệm.

- Không đạt:

+ Không vẽ đúng sơ đồ.

+ Có vẽ sơ đồ nhưng hóa chất, dụng cụ không hợp lý.

+ Không đưa ra phương án lựa chọn hóa chất, dụng cụ, sơ đồ thí nghiệm.

Bài tập 6:                             Khí SO2 trong không khí

Khí SO2 do nhà máy thải ra là nguyên nhân quan trọng nhất gây ô nhiễm không khí. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) quy định: Nếu lượng SO2 vượt quá 3.10-5 mol/m3 thì coi như không khí bị ô nhiễm SO2.Tiến hành phân tích 50 lít không khí ở một thành phố thấy 0,012 mg SO2 thì không khí đó có bị ô nhiễm SO2 hay không?

Đáp án:

- Mức đầy đủ: Kết luận đúng dựa trên tính toán như sau:

Đổi: 50 lít = 50.10-3 m3 . Số mol SO2 = 0,187.10-6 (mol).

Trong 50.10-3 m3 có 0,187.10-6 mol SO2 .

=>               1 m3                        có x mol SO2 .

=> x = 3,75.10-6 mol/ m3 < 30.10-6 mol/m=> Không khí không bị ô nhiễm.

- Mức chưa đầy đủ:

+ Khẳng định không khí không bị ô nhiễm nhưng chưa tính toán chứng minh được.

+ Hoặc tính toán đúng nhưng kết luận sai: không khí có bị ô nhiễm.

+ Hiểu đúng bản chất vấn đề, các bước tính toán đúng nhưng kĩ năng tính toán sai (có thể do viết sai).

- Không đạt:

+ Kết luận không khí không bị ô nhiễm nhưng tính toán sai bản chất vấn đề.

+ Tính toán sai và kết luận không khí bị ô nhiễm hoặc không làm bài.

Bài tập 7 :                    Phân bón hóa học

Trên các bao bì phân bón NPK thường kí hiệu bằng chữ số như: 20.10.10 hoặc 15.11.12. Kí hiệu này cho ta biết tỉ lệ khối lượng các thành phần của N, P2O5, K2O trong mẫu phân được đóng gói. Hình bên là một mẫu bao bì phân bón hiện đang bán trên thị trường:

Bạn An nhìn mẫu bão bì trên và cho rằng:

- Đây là loại phân bón kép.

- Trong loại phân bón này, hàm lượng của nguyên tố P cao nhất, sau đó đến nguyên tố N, thấp nhất là nguyên tố K.

Bạn Hoa nhìn mẫu bao bì trên và nói rằng:

Bạn cũng đồng ý với ý kiến của bạn An: đây là loại phân bón kép. Nhưng theo bạn, trong loại phân bón trên, hàm lượng của nguyên tố N cao nhất, rồi đến nguyên tố P, thấp nhất là K.

Em có nhận xét gì về ý kiến của hai bạn?

Đáp án:

- Mức đầy đủ: Khẳng định cả hai bạn cho rằng đây là phân bón kép là đúng, vì loại phân bón này chứa cả 3 nguyên tố dinh dưỡng: N, P, K và tính toán khẳng định kết luận của bạn Hoa là đúng:

+ Hàm lượng của nguyên tố N là 6%

Tỉ lệ của P trong P2O5 là:          

 Hàm lượng của nguyên tố P là: % P = 0,44 x 8% = 3.52 %

+ Tỉ lệ của K trong K2O là:

Hàm lượng của nguyên tố K này là: %K = 0,83 x 4% = 3,32%

Vậy, hàm lượng nguyên tố N trong loại phân bón này cao nhất, rồi đến P, thấp nhất là nguyên tố K

- Mức chưa đầy đủ:

+ Chỉ nêu được: Cả hai bạn cho rằng đây là phân bón kép là đúng, vì loại phân bón này chứa cả 3 nguyên tố dinh dưỡng: N, P, K

+ Chỉ tính toán để chỉ ra được hàm lượng nguyên tố N trong loại phân bón này cao nhất, rồi đến P, thấp nhất là nguyên tố K nhưng chưa khẳng định kết luận của bạn Hoa đúng.

+ Tính toán đúng nhưng kết luận sai

+ Đưa ra ý kiến đúng nhưng chưa tính toán và giải thích.

- Không đạt:  

Tính toán, giải thích sai bản chất vấn đề hoặc không đưa ra ý kiến, không tính toán và giải thích.

Bài tập 8 :                                Phân bón kép

Ba nguyên tố cơ bản là chất dinh dưỡng cho thực vật, đó là: Nitơ (N); Photpho (P); Kali (K).

Hợp chất của nitơ làm tăng trưởng lá cây và tinh bột trong ngũ cốc.

Hợp chất của photpho kích thích bộ rễ phát triển và hoa quả chín sớm.

Hợp chất của kali tăng cường sức chịu đựng cho thực vật.

Dưới đây là hàm lượng của N, P, K có trong 3 mẫu phân bón kép NPK:

MẪU PHÂN BÓN

% N

% P

% K

1

10

10

20

2

6

15

15

3

14

6

20

Dùng số liệu của bảng, hãy:

a) Vẽ biểu đồ biểu thị chất dinh dưỡng có trong loại phân bón 3.

b) Vẽ biểu đồ so sánh hàm lượng của nitơ có trong 3 loại phân bón.

c) Giới thiệu mẫu phân bón cho ngô, khoai để có hàm lượng nitơ bằng hàm lượng photpho và có hàm lượng kali cao.

Đáp án:

- Mức đầy đủ:  

+ Vẽ đúng biểu đồ 1 và 2:

Biểu đồ 1:                                          Biểu đồ 2:

+ Xác định được: mẫu phân bón số 1 cho ngô, khoai để có hàm lượng nitơ bằng hàm lượng photpho và có hàm lượng kali cao

- Mức chưa đầy đủ:

Vẽ được 1 hoặc 2 biểu đồ và xác định được mẫu phân bón số 1 cho ngô, khoai để có hàm lượng nitơ bằng hàm lượng photpho và có hàm lượng kali cao.

- Không đạt:  

Chỉ xác định được mẫu phân bón số 1 cho ngô, khoai để có hàm lượng nitơ bằng hàm lượng photpho và có hàm lượng kali cao hoặc không có câu trả lời.

Bài tập 9 :                        Bón phân đạm cho rau

Một người làm vườn đã dùng 300 gam (NH4)2SO4 để bón rau.

Hãy tính khối lượng của nguyên tố dinh dưỡng mà người làm vườn đã bón cho ruộng rau?

Đáp án:

- Mức đầy đủ: Đưa ra cách tính toán đúng, ví dụ có thể tính như sau:

(NH4)2SO4 → 2 N

          132 gam             28 gam.

          300 gam              x gam => x = (300.28)/132 ≈63,64 gam.

- Mức chưa đầy đủ: Cách tính toán đúng bản chất vấn đề nhưng quá trình tính toán có thể bị sai (do viết nhầm số, các phép tính sai kết quả ...)

- Không đạt:  Không tính toán hoặc tính sai bản chất vấn đề, hiểu sai đề bài.

Bài tập 10 :                       Bón vôi và phân đạm

Khử đất chua bằng vôi và bón phân đạm cho cây đúng cách là cách nào sau đây?

A. Cách nào cũng được.

B. Bón đạm cùng một lúc với vôi.

C. Bón vôi khử chua trước rồi vài ngày sau mới bón đạm.

D. Bón phân đạm trước rồi vài ngày sau mới bón vôi khử chua.

- Mức đầy đủ: đáp án B.

- Không đạt: đáp án khác hoặc không đưa ra đáp án.

Bài tập 11 :                                Thuốc nổ đen

Thuốc nổ đen được người Trung Quốc và Việt Nam sử dụng từ nhiều thế kỉ trước khi người Châu Âu biết đến thuốc nổ. Thuốc nổ đen là một trong những loại thuốc nổ được biết đến sớm và được sử dụng nhiều. Công thức kinh nghiệm của thuốc nổ đen là: “nhứt đồng thán, bán đồng sinh, lục đồng diêm”. Công thức này được hiểu là: thuốc nổ đen là hỗn hợp nghiền mịn, trộn đều của diêm tiêu KNO3, than gỗ C và lưu huỳnh S theo tỷ lệ khối lượng:

Để sản xuất 250 gam thuốc nổ đen, theo em, cần bao nhiêu gam khối lượng mỗi chất? 

Đáp án:

- Mức đầy đủ: Tính đúng khối lượng của các chất:

Khối lượng của KNO3 = 250 . 75% = 187,5 gam

Khối lượng của S = 250 . 12% = 30 gam

Khối lượng của C = 250 . 13% = 32,5 gam

- Mức chưa đầy đủ:

+ Tính đúng khối lượng của 2 trong 3 chất trên

+ Nêu cách tính toán 3 chất trên là đúng nhưng có sai sót trong quá trình tính

- Không đạt:

+ Chỉ tính đúng khối lượng của 1 chất

+ đưa ra kết quả tính có thể đúng nhưng cách tính không đúng bản chất

+ Không tính toán và đưa ra kết quả

 

Bài tập 12 :                         Muối Natriclorua

Ở bên hông một bao thực phẩm có ghi: " Không có hóa chất nhân tạo". Ở một bên khác, trong các thành phần được liệt kê, có "muối biển" là natri clorua có rất nhiều trong nước biển. Natri clorua cũng có thể điều chế nhân tạo bàng cách pha trộn hai hóa chất độc hại là Natri hidroxit và axit clohidric. Theo em, phát biểu nào dưới đây là đúng?

A. Có hai loại natri clorua, một loại nhân tạo và một loại có trong tự nhiên.

B. Muối biển luôn luôn là dạng natri clorua tinh khiết hơn natri clorua nhân tạo.

C. Natri clorua nhân tạo là chất nguy hiểm vì được tạo bởi các hóa chất độc, trong khi sử dụng muối biển hoàn toàn an toàn.

D. Không có khác biệt hóa học nào giữa natri clorua tinh khiết từ nguồn tự nhiên hoặc nhân tạo.

Đáp án:

- Mức đầy đủ: Chọn đáp án D và giải thích: Natri clorua tinh khiết từ nguồn tự nhiên hoặc nhân tạo thì đều là 1 chất có công thức hóa học là NaCl.

- Mức chưa đầy đủ:

+ Chọn đáp án D nhưng không đưa ra lời giải thích.

+ Giải thích đúng nhưng không chọn đáp án D.

- Không đạt:

+ Chọn đáp án D nhưng giải thích không đúng.

+ Lựa chọn đáp án khác D.

+ Không giải thích, không đưa ra đáp án trả lời.

Bài tập 13 :   Tốc độ phản ứng giữa kẽm và dung dịch axit sunfuric.

Bảng dưới đây cho biết kết quả của 6 thí nghiệm xảy ra giữa kẽm và dung dịch axit sunfuric loãng. Trong mỗi thí nghiệm, người ta dùng 0,2 gam kẽm tác dụng với thể tích bằng nhau của axit, nhưng có nồng độ khác nhau.

Thí nghiệm

Nồng độ axit

Nhiệt độ (oC)

Kẽm ở dạng

Thời gian phản ứng xong (s)

1

1M

25

190

2

2M

25

Bột

85

3

2M

35

62

4

2M

50

Bột

15

5

2M

35

Bột

45

6

3M

50

Bột

11

Những thí nghiệm nào chứng tỏ rằng:

a) Phản ứng xảy ra nhanh hơn khi tăng nhiệt độ?

b) Phản ứng xảy ra nhanh hơn khi tăng diện tích tiếp xúc?

c) Phản ứng xảy ra nhanh hơn khi tăng nồng độ axit?

Đáp án:

- Mức đầy đủ: Xác định đúng các thí nghiệm:

a) Thí nghiệm 2, 4, và 5

b) Thí nghiệm 3 và 5

c) Thí nghiệm 4 và 6

- Mức chưa đầy đủ: Chỉ xác định đúng thí nghiệm cho 2 trong 3 phần a, b, hoặc c

- Không đạt:

+ Không đưa ra hoặc chỉ đưa ra 1 thí nghiệm đúng trong 3 phần a, b, hoặc c.

+ Không đưa ra phương án lựa chọn nào cả.

Bài tập 14:                         Pha loãng axit sunfuric

Trong các quyển sách hóa học thường ghi câu sau để cảnh báo bạn đọc: “Trong bất kì tình huống nào cũng không được đổ nước vào axit sunfuric đậm đặc, mà chỉ được đổ từ từ axit sunfuric đặc vào nước”.

Theo em, vì sao lại có lời cảnh báo như vậy ?

Đáp án:

- Mức đầy đủ: Giải thích rõ ràng, đúng bản chất 1 trong 2 vấn đề sau:

+ Khi axit sunfuric gặp nước thì lập tức sẽ có quá trình hiđrat hóa xảy ra, đồng thời sẽ tỏa ra một nhiệt lượng lớn. Axit sunfuric đặc giống như dầu và nặng hơn trong nước. Nếu bạn cho nước vào axit, nước sẽ hòa tan và nổi trên bề mặt axit. Nhiệt tỏa ra, làm dung dịch axit sôi mãnh liệt và bắn tung tóe mang theo các giọt axit gây nguy hiểm.

+ Khi cho axit sunfuric vào nước thì: axit sunfuric đặc nặng hơn nước, nếu cho từ từ axit vào nước, nó sẽ chìm xuống đáy nước, sau đó được khuấy đều trong toàn bộ dung dịch. Như vậy, nhiệt lượng sinh ra được phân bố đều trong dung dịch, nhiệt độ sẽ tăng từ từ không làm cho nước sôi lên một cách quá nhanh.

- Mức chưa đầy đủ: Hiểu đúng vấn đề nhưng giải thích diễn đạt chưa rõ ý.

- Không đạt: Giải thích không đúng bản chất vấn đề hoặc không giải thích.

Bài tập 15 :                               Thu khí HCl

Trong các hình vẽ sau, xác định hình vẽ đúng nhất mô tả cách thu khí HCl trong phòng thí nghiệm.

Đáp án:    

- Mức đầy đủ: Giải thích được phương pháp thu khí HCl trong phòng thí nghiệm là phương pháp đẩy không khí, được mô tả bằng hình 2 dựa vào tính chất vật lí và hoá học của khí HCl: nặng hơn không khí, không tác dụng với không khí và tan nhiều trong nước...

- Mức chưa đầy đủ: Nêu được hình 2 là hình vẽ đúng nhưng chưa giải thích được cách lựa chọn. Hoặc: Giải thích đúng nhưng không lựa chọn hình 2.

- Không đạt:

+ Chọn hình 2 nhưng giải thích sai bản chất vấn đề.

+ Giải thích và lựa chọn sai hoặc không giải thích, lựa chọn.

 

Bài tập 16:                Tính chất vật lý của SO2

Bình cầu chứa khí SO2 có cắm ống dẫn khí vào các cốc đựng nước có nhỏ thêm vài giọt quỳ tím. Khi mở khoá K hiện tượng quan sát được là:

  1. Nước không màu phun vào trong bình cầu.
  2.  Nước có màu hồng phun mạnh vào bình cầu.
  3.  Nước có màu xanh phun mạnh vào bình cầu.
  4. Không có hiện tượng gì xảy ra.

Đáp án:

- Mức đầy đủ:

Chọn phương án B và giải thích: Khí SO2 là khí tan nhiều trong nước, tạo thành dung dịch H2SO3 làm quỳ tím chuyển màu hồng, nên nước có màu hồng phun mạnh vào bình cầu.

- Mức chưa đầy đủ:

Chọn phương án B nhưng không giải thích hoặc giải thích đúng nhưng không lựa chọn phương án B.

- Không đạt:

Chọn phương án B nhưng giải thích sai bản chất vấn đề hoặc không lựa chọn, giải thích phương án nào cả.

Bài tập 17:                                      Bình cứu hỏa

Bình chữa cháy (bình cứu hỏa) phun bọt dạng axit - kiềm có cấu tạo như sau:

- Ống thủy tinh hở miệng đựng dung dịch axit sunfuric.

- Bình đựng dung dịch Natri hiđrocacbonat có nồng độ cao.

Bình thường, bình chữa cháy được để thẳng đứng, không được để nằm. Khi chữa cháy, phải dốc ngược bình lên.

1. Vì sao bình chữa cháy khi bảo quản phải để thẳng đứng nhưng khi chữa cháy lại phải dốc ngược bình lên?

2. Tính thể tích khí CO2 (đktc) tạo thành để dập tắt đám cháy nếu trong bình chữa cháy có dung dịch chứa 490 gam H2SO4 tác dụng hết với dung dịch NaHCO3.

Đáp án:

- Mức đầy đủ:

Giải thích và tính toán đúng.

1. Khi chữa cháy, phải dốc ngược bình để xảy ra phản ứng hóa học sau:

                   2 NaHCO3 + H2SO4 → Na2SO4 + 2 CO2 + 2 H2O.

Khí CO2 sinh ra nặng hơn không khí và không tác dụng với Oxi nên nó có tác dụng ngăn không cho vật cháy tiếp xúc với không khí để dập tắt đám cháy.

2. số mol CO2 = 2. số mol H2SO4 = 2. 490/98 = 10 (mol).

Thể tích CO2 ở đktc = 10 . 22,4 = 224 (lít).

- Mức chưa đầy đủ:  Chỉ làm đúng 1 trong 2 phần hoặc hiểu đúng bản chất cách giải thích và các quá trình tính toán nhưng bị sai do nhầm lẫn tính toán, do cách diễn đạt, viết nhầm lẫn số ...

- Không đạt:  Giải thích, tính toán không đúng bản chất vấn đề hoặc không làm bài.

Bài tập 18:                                      Bột nở

Bạn Quyên muốn tự làm 1 chiếc bánh mì để tặng mẹ nhân ngày sinh nhật. Trong cuốn sách dạy làm bánh, bạn đọc thấy phần hướng dẫn chuẩn bị nguyên liệu làm bánh như sau:

               Nguyên liệu:

- 1 muỗng canh dầu thực vật hoặc bơ.- 

- 2 muỗng canh bột mì làm bánh.

- 1 thìa bột nở.

- Muối, đường.

- 2 quả trứng.

Bạn Quyên thắc mắc: không biết bột nở có công thức hóa học là gì? Tại sao khi làm bánh mì lại cần có bột nở? Em hãy giải thích giúp bạn Quyên nhé.

Đáp án:

- Mức đầy đủ: Giải thích và viết phương trình hóa học đúng:

+ Bột nở có công thức hóa học là: (NH4)2CO3

+ Bột nở được dùng trong làm bánh vì khi trộn thêm vào bột mì, lúc nướng bánh (NH4)2CO3 phân huỷ thành các chất khí và hơi nên làm cho bánh xốp và nở.

          (NH4)2CO3                 2NH3­ + CO2 ­ + H2

- Mức chưa đầy đủ: Chỉ giải thích đúng hoặc viết phương trình hóa học đúng.

- Không đạt: Giải thích và viết phương trình hóa học sai bản chất vấn đề.

 

Bài tập 19:          Thí nghiệm nung nóng đồng (II) cacbonat

5 bạn HS An, Hồng, Lan, Hải, Long cùng tiến hành 1 thí nghiệm như sau:

Mỗi bạn chuẩn bị 1 ống nghiệm sạch chứa 24,8 gam muối đồng (II) cacbonat CuCO3. Các bạn đều biết rằng: khi đung nóng, muối này bị phân hủy dần theo phương trình phản ứng: CuCO3   CuO + CO2 (k).

Các bạn tiến hành nung nóng các ống nghiệm của mình, rồi để nguội, sau đó cân chất rắn còn lại trong ống nghiệm. Mỗi bạn lặp lại các thí nghiệm này 3 lần nữa để CuCO3 phân hủy hết. Các kết quả thí nghiệm của các bạn được ghi lại trong bảng sau:

ỐNG NGHỆM

Khối lượng chất rắn sau mỗi lần nung (gam)

Lần thứ 1

Lần thứ 2

Lần thứ 3

Lần thứ 4

Bạn An

17,2

17

16

16

Bạn Hồng

19,6

19

17

16

Bạn Lan

32

19,4

18,2

17

Bạn Hải

16

16

16

16

Bạn Long

24,8

24,8

24,8

24,8

Câu 1: Hãy dùng  kết quả ở bảng trên để trả lời những câu hỏi sau:

1. Ống nghiệm nào đã bị bỏ quên, không đun nóng?

2. Ống nghiệm nào có kết quả cuối cùng dự đoán là sai? Vì sao?

3. Vì sao khối lượng chất rắn trong ống nghiệm A là không đổi sau lần nung thứ 3 và thứ 4?

4. Ống nghiệm nào mà toàn lượng đồng (II) cacbonat đã bị phân hủy sau lần nung thứ nhất?

Đáp án:

- Mức đầy đủ: Trả lời đúng.

1. Ống nghiệm của bạn Long (khối lượng CuCO3 không thay đổi).

2. Ống nghiệm của bạn Lan, vì khác kết quả của những bạn khác.

3. Sau lần nung thứ 3, toàn bộ lượng CuCO3 đã bị phân hủy hết thành CuO.

4. Ống nghiệm của bạn Hải.

- Mức chưa đầy đủ: Trả lời đúng 2 hoặc 3 ý trên.

- Không đạt: Không có hoặc chỉ có 1 ý trả lời đúng; hoặc không đưa ra câu trả lời

Câu 2: Hãy tính toán để chứng minh kết quả thí nghiệm của những ống nghiệm nào là đúng.

Đáp án:

- Mức đầy đủ: Tính toán và kết luận đúng:

Theo phương trình hóa học:

124 gam CuCO3 sau khi bị phân hủy sinh ra 80 gam CuO

Vậy 24,8 gam CuCO3 sau khi bị phân hủy sinh ra:

Thí nghiệm được tiến hành trong các ống nghiệm của các bạn An, Hồng, Hải là đúng.

- Mức chưa đầy đủ: Tính toán đúng nhưng kết luận chưa đúng.

- Không đạt: Tính toán và đưa ra kết luận không đúng.

Bài tập 20:                         Thuốc muối - NaHCO3

Khi X trong vị dạ dày có nồng độ nhỏ hơn 0.00001 M thì mắc bệnh khó tiêu. Khi nồng độ lớn hơn 0.001 M thì mắc bệnh ợ chua. Trong một số thuốc chữa đau dạ dày có thuốc muối NaHCO3. X là :

A. NaCl.               B. HCl.                          C. CO2.                 D. NaOH.

Đáp án:

- Mức đầy đủ: Chọn đáp án B vì: HCl + NaHCO3 → NaCl + CO2 + H2O

- Mức chưa đầy đủ: Chọn đáp án B nhưng không đưa ra phương trình hóa học giải thích.

- Không đạt: Chọn đáp án B nhưng giải thích không đúng bản chất vấn đề hoặc chọn đáp án khác hoặc không đưa ra phương án lựa chọn.

     2.4. Sử dụng hệ thống bài tập cho chương 1- Các loại hợp chất vô cơ- Hóa học 9 theo hướng tiếp cận PISA

     Với đặc thù các bài tập hóa học theo hướng tiếp cận PISA đều là các bài tập dựa trên các tình huống của đời sống thực và không chỉ giới hạn bởi cuộc sống thường ngày của các em trong nhà trường, và nhiều tình huống được lựa chọn không phải chỉ để HS thực hiện các thao tác về tư duy, mà còn để HS ‎ ý thức về các vấn đề xã hội (như là sự nóng lên của trái đất, nước sinh hoạt sau lũ, v.v). Dạng thức của câu hỏi phong phú, không chỉ bao gồm các câu hỏi lựa chọn đáp án mà còn yêu cầu HS tự xây dựng nên đáp án của mình. Chất liệu được sử dụng để xây dựng các câu hỏi này cũng đa dạng, ví dụ như: bài tập đọc hiểu có thể xây dựng trên bảng biểu đồ, tranh ảnh quảng cáo, văn bản, bài báo. Chính vì vậy, việc sử dụng bài tập hóa học theo hướng tiếp cận PISA trong dạy học sẽ làm tăng hứng thú học tập, khơi dậy ở các em niềm đam mê, say sưa với học tập nói chung và môn hóa học nói riêng, đồng thời, góp phần làm cho hóa học gần hơn với thực tiễn.

     2.4.1. Sử dụng khi dạy bài mới

     Tiết học nghiên cứu tài liệu mới là tiết học trong đó HS tiếp thu được cái mà họ chưa biết từ trước hoặc biết một cách không rõ ràng, chính xác. Ở những tiết học này, HS tiếp thu nội dung kiến thức mới về khái niệm, định luật, tính chất lí hoá của các chất, hoặc có một cách hiểu mới về kiến thức đã học, hoặc thấy rõ phạm vi giới hạn áp dụng kiến thức đã biết.

     Nói chung, bài tập hóa học theo hướng tiếp cận PISA được sử dụng trong tiết học nghiên cứu tài liệu mới là những bài tập khá đơn giản, cơ bản, thường dùng để củng cố, khắc sâu kiến thức và tạo niềm tin cho HS vào những gì đã học. Các bài tập này sẽ phát huy hiệu quả tốt khi GV sử dụng cùng với các phương pháp dạy học và kĩ thuật dạy học khác nữa như: vấn đáp, đàm thoại, hoạt động nhóm.

     Đối với tiết nghiên cứu tài liệu mới, kiến thức mới được hình thành sẽ chưa vững chắc nếu không được GV cũng cố ngay. Việc cũng cố các kiến thức vừa học trong bài bằng cách yêu cầu HS nhắc đi nhắc lại nhiều lần một khái niệm, một tính chất,  một phương pháp điều chế, thường không đem lại hiệu quả cao trong dạy học và tạo sự nhàm chán đối với HS khá, giỏi. Qua việc trao đổi kinh nghiệm với nhiều GV dạy giỏi và của bản thân, chúng tôi thấy việc củng cố các kiến thức vừa học trong bài bằng bài tập thường đem lại hiệu quả rất cao. Nội dung bài tập nhằm vào các tình huống HS dễ mắc sai lầm, muốn khắc sâu, mở rộng hoặc nâng cao một kiến thức, một kĩ năng nào đó. Bài tập cũng cố có thể đưa ra ngay sau một khái niệm, một định luật, một tính chất hoặc có thể để cuối bài dạy.

Ví dụ: Khi dạy Bài 2: Một số oxit quan trọng - B. Lưu huỳnh đioxit

Để khắc sâu kiến thức về tính chất vật lý của lưu huỳnh đioxit là chất khí nặng hơn không khí, ta có thể sử dụng: Bài tập 16: Tính chất vật lý của SO2.

Để nhấn mạnh kiến thức: SO2 là chất gây ô nhiễm không khí, ta có thể sử dụng: Bài tập 6: Khí SO2 trong không khí.

Để củng cố, khắc sâu kiến thức và kĩ năng về cách điều chế và thu khí SO2 trong phòng thí nghiệm, ta có thể sử dụng:

Bài tập 5: Điều chế SO2.

     2.4.2. Sử dụng khi luyện tập, ôn tập

     Hầu hết các bài tập hóa học theo hướng tiếp cận PISA đều được sử dụng trong tiết ôn tập, luyện tập. Các bài tập sử dụng trong giờ này phần lớn đều có tính chất tổng hợp, nâng cao nhằm cũng cố, phát triển các kiến thức và kĩ năng đã học. Ở những tiết dạy này, GV tuyệt đối không dạy lại kiến thức lí thuyết mà chỉ tái hiện lại kiến thức cho HS. Biện pháp hiệu quả nhất là GV sử dụng bài tập giao cho HS và yêu cầu các em giải quyết những bài tập đó. Trong quá trình giải bài tập, các em sẽ tự tái hiện lại kiến thức đã học hoặc các em sẽ tự ôn lại kiến thức bị quên. Để làm tốt điều này, GV cần kết hợp với phương pháp dạy học theo dự án. Tức là, GV phải có kế hoạch cho từng chương, từng kì mà chuẩn bị hệ thống bài tập tương ứng phù hợp với từng đối tượng HS. Hệ thống bài tập này có thể cho HS làm ngay tại lớp theo hình thức hoạt động nhóm hay cá nhân.

Ví dụ: Khi dạy bài 13: Luyện tập chương I - Các loại hợp chất vô cơ

+ Để củng cố về tính chất hóa học của muối (nhiệt phân hủy của muối), GV có thể cho HS thực hiện bài tập sau tại lớp

Bài tập 18: Bột nở.

+ Để rèn luyện kĩ năng tính toán hóa học và tăng tính thực tiễn của hóa học, GV có thể cho HS thực hiện bài tập sau tại lớp: Bài tập 17: Bình cứu hỏa.

+ Để củng cố, khắc sâu kiến thức về những loại phân bón hóa học thường dùng, GV có thể cho HS thực hiện bài tập sau tại lớp: Bài tập 7: Phân bón hóa học.

     2.4.3. Sử dụng khi tự học ở nhà

     Với những nội dung kiến thức mang tính thực tiễn, liên quan đến đời sống như: vấn đề về môi trường, hoặc những nội dung kiến thức, kĩ năng đòi hỏi cần có thời gian nghiên cứu dài hơn, GV có thể yêu cầu HS nghiên cứu, thực hiện bài tập trước ở nhà theo nhóm hoặc cá nhân, sau đó báo cáo tại lớp trong giờ ôn tập, luyện tập. Với thời lượng 1 tiết học 45 phút, mà việc rèn kĩ năng làm bài tập tính toán cho HS thường mất nhiều thời gian, để khắc phục vấn đề này, GV có thể cho các em làm bài tập cá nhân ở nhà, sau đó, GV có thể chấm, chữa bài tại lớp cho một vài bạn tại lớp để các bạn khác rút kinh nghiệm. Như vậy, các em có thời gian nghiên cứu, thảo luận nhóm và thực hiện bài tập tốt hơn.

Ví dụ: Khi dạy bài 13: Luyện tập chương I - Các loại hợp chất vô cơ

+ Để củng cố, khắc sâu kiến thức về tính chất hóa học của axit (axit tác dụng với muối), cũng như có giáo dục cho HS vai trò của hóa học đối với thực tiễn, GV có thể cho HS thực hiện theo nhóm (bàn) bài tập sau ở nhà và báo cáo tại lớp: Bài tập 2: Tượng Caryatid.

+ Để rèn kĩ năng tính toán hóa học cho HS, GV có thể yêu cầu cá nhân các em làm bài tập sau ở nhà sau đó báo cáo tại lớp: Bài tập 19: Thí nghiệm nung nóng đồng (II) cacbonat.

     2.4.4. Sử dụng khi kiểm tra, đánh giá

     Bài tập hóa học theo hướng tiếp cận PISA không chỉ được sử dụng trong tiết nghiên cứu tài liệu mới, GV có thể sử dụng bài tập này để kiểm tra, đánh giá kiến thức, kĩ năng của HS. Cùng với xu hướng chung của đổi mới giáo dục, kiểm tra - đánh giá không chỉ đánh giá đến kết quả học tập mà dần hướng đến quan điểm đánh giá sự phát triển năng lực, không chỉ giới hạn vào khả năng tái hiện tri thức mà cần chú trọng vào năng lực vận dụng tri thức trong việc giải quyết các nhiệm vụ phức hợp, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề của thực tiễn. Chính vì vậy, việc sử dụng bài tập hóa học theo hướng tiếp cận PISA khi kiểm tra, đánh giá đã góp phần vào việc thực hiện mục tiêu này.  

Cụ thể:

+ Trong các bài tập trắc nghiệm lựa chọn 1 đáp án đúng, hay lựa chọn câu đúng, sai: các em cần có sự giải thích cho sự lựa chọn đáp án của mình chứ không chỉ lựa chọn đáp án đơn thuần. Điều này tránh được sự lựa chọn đáp án dựa trên sự may rủi, ngẫu nhiên mà bài tập trắc nghiệm hiện nay đang sử dụng.

+ Trong các bài tập dạng đọc hiểu văn bản hay biểu đồ GV cần quan tâm nhiều đến năng lực học hiểu, diễn đạt của HS.

+ Đối với dạng bài tập trình bày một vấn đề - bài tập có câu hỏi mở: GV cần có sự động viên, khích lệ tinh thần các em HS, giúp các em tự tin, biết cách diễn đạt, trình bày trước tập thể, thể hiện quan điểm của mình.

Khi sử dụng bài tập hóa học theo hướng tiếp cận PISA để kiểm tra, đánh giá, GV cần chú ý như sau: Các bài tập hóa học theo hướng tiếp cận PISA thường được đánh giá theo 3 mức độ: Mức đầy đủ, mức chưa đầy đủ và không đạt. GV có thể sử dụng 3 mức độ này để đánh giá kết quả bài làm của HS. Hoặc, để thuận tiện cho cách đánh giá cho điểm như hiện nay ở các trường THCS đang áp dụng, GV có thể chấm điểm theo 3 mức độ tương ứng, phụ thuộc vào từng đơn vị kiến thức, từng dạng bài tập và mục đích của việc kiểm tra, đánh giá, ví dụ như:

+ Mức đầy đủ: tương ứng với 1,0 điểm hoặc 0,5 điểm

+ Mức chưa đầy đủ: tương ứng với 0,5 điểm hoặc 0,25 điểm

+ Không đạt: tương ứng với 0,0 điểm.

PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

     3.1. Kết luận:

     Qua quá trình nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đã:

     1. Nghiên cứu, làm sáng tỏ cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến đổi mới phương pháp dạy học.

- Nghiên cứu lý luận về bài tập hóa học trong dạy học hóa học.

- Tìm hiểu về chương trình đánh giá HS quốc tế (PISA).

     2. Đề xuất một số định hướng c ơ bản trong việc thiết kế bài tập cho chương 1- Các loại hợp chất vô cơ - Hóa học 9 theo hướng tiếp cận PISA

- Trình bày cơ sở và đề xuât một số định hướng cơ bản trong việc thiết kế bài tập cho chương 1- Các loại hợp chất vô cơ – Hóa học 9 theo hướng tiếp cận PISA.

- Minh hoạ qua 20 bài tập cho chương 1 - Các loại hợp chất vô cơ- Hóa học 9.

     3. Nghiên cứu việc sử dụng bài tập cho chương 1 - Các loại hợp chất vô cơ - Hóa học 9 theo hướng tiếp cận PISA

Đề xuất 4 hướng sử dụng hệ thống bài tập cho chương 1- Các loại hợp chất vô cơ - Hóa học 9 theo hướng tiếp cận PISA trong dạy học hóa học ở trường THCS:

Sử dụng khi dạy bài mới.

Sử dụng khi luyện tập, ôn tập.

Sử dụng khi kiểm tra, đánh giá.

Sử dụng khi tự học ở nhà.

     3.2. Khuyến nghị

     Để phát huy được tính đa dạng và những tác dụng tích cực của hệ thống bài tập hóa học vô cơ lớp 9 theo hướng tiếp cận PISA vào việc dạy và học môn hóa học ở trường THCS có hiệu quả hơn, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho GV và HS khi sử dụng hệ thống bài tập này, chúng tôi xin có một số khuyến nghị và đề xuất như sau:

     1. Tăng cường bài tập hóa học có nội dung thực tế và những bài tập rèn luyện các kỹ năng cần thiết cho cuộc sống như kĩ năng đọc hiểu văn bản, đồ thị, biểu đồ.

     2. Từng bước thay đổi nội dung và hình thức kiểm tra và đánh giá của môn hóa học ở bậc THCS như: không chỉ đánh giá về kiến thức mà còn đánh giá về năng lực, sử dụng câu hỏi dạng mở, Có những tài liệu tham khảo chính thức về PISA giúp GV và HS biết, hiểu và có thể khai thác sử dụng PISA vào việc dạy và học môn hóa học.

     3. Có định hướng bồi dưỡng nâng cao nhận thức về vai trò của hóa học trong thực tế và khả năng vận dụng kiến thức hóa học vào thực tế đời sống cho GV và sinh viên sư phạm ngành hóa học.

thời tiết các vùng

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

Bình chọn

Đánh giá thái độ tiếp công dân của cán bộ Một cửa quận