TIN TỨC KHÁC

Trường Mầm non Thịnh Liệt: Chọn và chế biến các loại rau xanh an toàn trong chế biến bữa ăn cho trẻ ở trường mầm non
Ngày đăng 24/08/2019 | 15:55  | View count: 59

Sáng kiến kinh nghiệm: Chọn và chế biến các loại rau xanh an toàn trong chế biến bữa ăn cho trẻ ở trường mầm non

A - ĐẶT VẤN ĐỀ

     Chúng ta ai cũng biết rằng giáo dục mầm non là nền tảng phát triển cho trẻ, trẻ có khỏe mạnh thì mới có thể phát triển một cách toàn diện nhưng tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị các bệnh do thiếu các chất dinh dưỡng ở nước ta hiện còn rất cao. Điều này gây ảnh hưởng xấu tới sự phát triển thể lực và sức khỏe của trẻ, ngoài ra nó còn ảnh hưởng đến sự phát triển tinh thần và trí tuệ con người. Nhiệm vụ phòng chống suy dinh dưỡng là mối quan tâm đặc biệt của toàn xã hội. Trên thực tế từ năm 2002 Sở Giáo dục đào tạo Hà Nội, Phòng Giáo dục đào tạo quận Hoàng Mai đã chỉ đạo triển khai thực hiện chuyên đề: “Vệ sinh an toàn thực phẩm” nhằm giúp các trường mầm non nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, tăng cường sức khỏe cho trẻ.

     Bên cạnh nguồn năng lượng cung cấp cho cơ thể chủ yếu từ các chất P, L, G, Vitamin và khoáng chất có vai trò quan trọng đối với cơ thể. Bởi vì chất khoáng là thành phần quan trọng của tổ chức xương, có tác dụng duy trì áp lực thẩm thấu, có nhiều tác dụng trong hoạt động của các chức phận sinh lý và chuyển hóa cơ thể, tham gia duy trì độ pH của máu.

     Là một người được phân công nhiệm vụ giao nhận thực phẩm và trực tiếp nấu ăn hàng ngày cho trẻ trong trường mầm non Thịnh Liệt. Bản thân tôi nhận thức được: muốn cho trẻ phát triển tốt về tinh thần cũng như thể chất, nâng cao sức khỏe cho trẻ ta phải chú trọng đến vấn đề nuôi dưỡng chăm sóc sức khỏe cho trẻ theo khoa học. Đảm bảo bữa ăn hàng ngày của trẻ cần phải đa dạng, có đầy đủ các chất dinh dưỡng, cân đối giữa các loại thức ăn.

     Qua thực tế chế biến món ăn hàng ngày cho trẻ tôi thấy: nhóm thực phẩm cung cấp Vitamin và chất khoáng từ rau xanh (đặc biệt là rau ăn lá) thì vấn đề đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm luôn phải được coi trọng và đặt lên hàng đầu. Nhưng để có được rau sạch quả là không dễ trong thời kinh tế thị trường. Trước thực trạng người trồng rau nhiều khi còn vì lợi ích trước mắt, hám rẻ mua các loại thuốc có độc tố cao, phun nhiều lần trong 1 vụ, thời gian cách ly từ lần cuối đến khi thu hái còn ngắn, không đảm bảo dễ gây ngộ độc cho trẻ ngay sau khi sử dụng cũng như về lâu dài. Nhiều người chuyển sang ăn rau củ quả như: bí, su hào, cà rốt... với suy nghĩ rằng chúng an toàn và có thể thay thế bằng rau xanh.

     Vì những lý do trên tôi đã suy nghĩ làm thế nào để trẻ đủ lượng rau xanh để cung cấp và bổ sung lượng Vitamin và khoáng chất cần thiết cho cơ thể mà đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Và tôi chọn đề tài “Chọn và chế biến các loại rau xanh an toàn trong chế biến bữa ăn cho trẻ ở trường mầm non”.

B - GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

     I. Cơ sở lý luận:

     Rau xanh ăn lá là một trong những nhóm thực phẩm cung cấp năng lượng không nhiều, không được xếp vào thành phần cung cấp năng lượng chính. Song rau xanh cung cấp cho cơ thể 3 thành phần dưỡng chất quan trọng là Vitamin, khoáng chất và chất sơ. Các chất đạm, bột, béo nhờ sự góp sức của Vitamin và khoáng chất để tham gia vào các men xúc tác trong quá trình chuyển hóa thành năng lượng. Chất sơ kích thích nhu động của ruột để tăng bài tiết, tăng đào thải chất cặn bã những sản phẩm trung gian độc hại. quan trọng hơn kéo Cholesterol ra ngoài cơ thể.

     Song ăn thế nào cho tốt và hợp lý vẫn chưa được nhiều người chú ý tới. Mỗi lứa tuổi và thể trạng khác nhau nên có chế độ ăn uống riêng hợp lý. Với trẻ nhỏ do bộ máy tiêu hóa hoạt động chưa tốt nên chọn loại rau xanh sơ mịn, có mầu sắc sẫm để tận dụng tốt nhất các sinh tố và chất sơ. Trung bình trẻ mẫu giáo cần ăn 30-50 gam rau xanh /ngày.

     II. Cơ sở thực tiễn:

     1. Đặc điểm tình hình

- Trường mầm non Thịnh Liệt có 3 cơ sở với 3 bếp ăn

- 3 bếp ăn nấu cho 1033 trẻ và hơn 80 cán bộ - giáo viên - nhân viên

- Dưới sự điều hành, chỉ đạo của Ban Giám hiệu nhà trường, giáo viên, nhân viên trong trường luôn thực hiện tốt mọi nhiệm vụ, đảm bảo giờ nào việc nấy; đảm bảo an toàn tuyệt đối về thể chất lẫn tinh thần cho trẻ, trong những năm qua không để xảy ra một vụ ngộ độc thực phẩm nào. Số lượng giáo viên – nhân viên và học sinh của nhà trường ngày một tăng lên.

- Khi thực hiện nghiên cứu đề tài này tôi thấy có rất nhiều thuận lợi song cũng không ít những khó khăn .

     a. Thuận lợi:

+ Được sự quan tâm, tạo điều kiện của Uỷ ban nhân dân quận Hoàng Mai nhà trường đã được mua nhận thực phẩm của một công ty uy tín; Công ty thực phẩm Việt Cường.

+  Được sự quan tâm của Ban giám hiệu nhà trường , cơ sở vật chất của bếp luôn đầy đủ, khu bếp sạch sẽ, có đủ đồ dùng, dụng cụ phục vụ cho công tác chế biến.

+ Có đội ngũ giáo viên nhiệt tình, yêu nghề mến trẻ, 100% cô nuôi trong nhà trường đã đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn, luôn tìm tòi kinh nghiệm về chế biến món ăn .

+ Đội ngũ cô nuôi trẻ, khỏe, yêu nghề thương trẻ nhỏ có tinh thần trách nhiệm trong công việc cao. Các cô được trang thiết bị đầy đủ bảo hộ như: Tạp dề, mũ, khẩu trang đảm bảo luôn sạch sẽ, gọn gàng, hợp vệ sinh.

+ Nhà trường đã huy động được số trẻ ăn bán trú tại trường là 100%

+ Được sự quan tâm của các cấp, các ngành và sự ủng hộ nhiệt tình của các bậc cha mẹ phụ huynh học sinh, đặc biệt là các con là nguồn động viên lớn nhất cho các cô nuôi chúng tôi. Đây là động lực để các cô hoàn tốt công việc của mình trong năm học 2018 - 2019.

+ Phụ huynh học sinh rất quan tâm đến vấn đề chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ nên thường xưyên trao đổi với các cô về tình hình ăn uống của con mình ở nhà. Để các cô có thể hiều hơn về tâm lý và sở thích món ăn của các cháu từ đó làm cho công tác nuôi dưỡng của trường tôi được tốt hơn.

     b. Khó khăn:

+ Nhiều trẻ còn kén ăn, chưa biết ăn đa dạng thực phẩm do chưa được quan tâm, rèn kỹ năng ăn ở nhà.

+ Nhiều trẻ có những sở thích đặc biệt, mới đi học nên chưa kịp bắt nhịp môi trường lớp học.

+ Nhiều phụ huynh còn chưa có sự quan tâm đúng đến chế độ dinh dưỡng ở nhà trẻ đã ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe trẻ.

+ Sự phối hợp của nhiều phụ huynh trong việc trao đổi về sở thích ăn uống của trẻ với cô giáo, cô nuôi còn nhiều hạn chế.

     Trước tâm sự của phụ huynh có trẻ gửi đến trường khi tôi trao đổi về vấn đề dinh dưỡng đối với trẻ, họ có chung tâm sự: trẻ về nhà rất lười, không chịu ăn rau xanh.

     Với những thuận lợi và khó khăn trên tôi đã suy nghĩ làm thế nào để phát huy những điểm mạnh của bản thân, phát huy những thuân lợi với trường, hạn chế khó khăn. Tôi đã trao đổi với Ban giám hiệu và tổ nuôi đưa ra một số biện pháp nhằm giải quyết vấn đề một cách hiệu quả nhất.

  1. Khảo sát tình trạng sức khỏe trẻ đầu năm:

     Bảng khảo sát trẻ suy dinh dưỡng thấp còi trường mầm non Thịnh Liệt đầu năm học 2018-2019 trên tổng số 400 học sinh tại cơ sở 2:

Lứa tuổi

Trẻ suy dinh dưỡng

Trẻ thấp còi

Trẻ suy dinh dưỡng và thấp còi

Số lượng

Tỉ lệ (%)

Số lượng

Tỉ lệ(%)

Số lượng

Tỉ lệ (%)

Nhà trẻ

  1.  
  1.  
  1.  
  1.  
  1.  
  1.  

Mẫu giáo bé

  1.  
  1.  
  1.  
  1.  
  1.  
  1.  

Mẫu giáo nhỡ

  1.  
  1.  
  1.  
  1.  
  1.  
  1.  

Mẫu giáo lớn

  1.  
  1.  
  1.  
  1.  
  1.  
  1.  

Tổng số

  1.  
  1.  
  1.  
  1.  
  1.  
  1.  

   III. Biện pháp giải quyết:

  1. Biện pháp 1: Tham gia các lớp tập huấn về dinh dưỡng và an toàn thực phẩm.

     Để có những kiến thức về dinh dưỡng cũng như an toàn thực phẩm, Ban giám hiệu nhà trường đã tạo điều kiện về mọi mặt để tôi được tham gia các lớp tập huấn về dinh dưỡng cũng như vệ sinh an toàn thực phẩm hàng năm do các đồng chí là trưởng các phòng, ban của quận trực tiếp bồi dưỡng.

     Ngoài ra bản thân tôi còn tự thu nhập thêm các kiến thức từ sách báo, tài, liệu, qua trao đổi với tổ nuôi, thông qua các buổi họp về dinh dưỡng đối với trẻ ở trường. Tham gia các buổi tập huấn IPM về kỹ thuật trồng rau sạch do Trung tâm Khuyến nông Thành phố hướng dẫn nhằm nâng cao hiểu biết của mình để áp dụng vào thực tế.

     Bằng quan sát thực tế sản xuất rau xanh ở địa phương, qua quá trình tham gia các lớp tập huấn tôi đã tích lũy được một số kinh nghiệm chọn rau xanh ăn lá đảm bảo an toàn trong chế biến món ăn của trẻ. Cụ thể như sau:

  1. Chọn rau theo sắc màu:

     * Rau cải:

    Rau cải cũng có nhiều loại như rau cải ngọt, rau cải trắng, rau cải xanh. Rau cải ngọt có đặc điểm cuống và lá đều có màu xanh bánh tẻ, còn rau cải trắng có đặc điểm cuống màu trắng, lá màu xanh. Nhưng với rau cải xanh thì ngược lại, rau cải phải có lá màu vàng. Ta không nên chọn rau cải xanh có màu lá bánh tẻ hay xanh đậm bởi đó là đặc điểm của rau đã bị quá lứa hoặc khô thiếu nước do đó rau cứng, già, khi nấu rau ăn sẽ có vị ngăm đắng, trẻ không thích. Với rau cải nói chung ta nên chọn rau có đủ cả gốc, rễ, không nên chọn rau đã cắt gốc bởi có thể đó là rau đã quá lứa.

     * Rau bắp cải:

Rau bắp cải nhìn chung có 3 loại:

  • Một là loại bắp cải có lá màu tím.
  • Hai là loại bắp cải khi cuốn trắng lá phẳng, mỏng.
  • Ba là loại bắp cải phần cuốn trắng, lá xoăn và dày hơn. 

   Nhưng phổ biến nhất là 2 loại bắp cải có lá cuốn màu trắng và loại bắp cải cuốn trắng lá xoăn và dày sẽ ăn ngon hơn.

     * Rau ngót:

Rau ngót thường có hai loại:

  • Loại 1: rau lá to, mỏng. đặc điểm của lá thường có màu xanh sẫm.
  • Loại 2: rau lá nhỏ hơn và dày hơn. Đặc điểm có màu xanh sậm hoặc hơi ngà vàng.

    Khi chọn rau cho trẻ ăn, ta chọn loại rau ngót lá nhỏ, dày vì rau này có đặc điểm ăn mềm và ngon hơn. Tuy vậy, ta cũng phải lưu ý: rau ngót tuy không bị sâu nhiều như các loại rau khác nhưng có một đặc điểm rất hay bị xoăn lá do vậy ta không nên ăn rau ngót lá to, màu xanh mỡ màng.

* Rau mồng tơi:

Rau mồng tơi lứa đầu có ngọn to, lá dày có màu xanh ngà vàng. Từ lứa thứ 2 trở đi, ngọn nhỏ hơn, lá màu xanh sậm (nhất là vào mùa hè) trừ những ngày mưa nhiều lá rau chuyển sang màu xanh ngà vàng. Nếu gặp nắng to lâu ngày rau dễ bị bã chè. Bởi vậy, ta cũng không nên chọn rau mồng tơi có màu lá vàng (nhất là vàng bóng) bởi vì đó là rau có sử dụng nhiều thuốc mỡ lá.

* Rau đay, rau cải cúc, rau dền, rau khoai lang:

Đối với các loại rau này, nhìn chung độ an toàn thưc phẩm cao bởi vì chúng có đặc điểm chung là ít sâu bệnh (nhất là rau cải cúc, rau đay) chỉ cần tưới đủ nước hàng ngày, gieo trồng đúng thời vụ, nhiều khi không cần phun thuốc rau cũng phát triển tốt.

  1. Chọn rau theo mùa:

Ngoài yếu tố chăm sóc của con người, yếu tố thời tiết, môi trường cũng ảnh hưởng rất nhiều tới sự sinh trưởng và phát triển của rau xanh. Bởi vậy ta chọn mùa nào rau ấy sẽ đảm bảo hơn. Vì rau trái vụ thường rất nhiều sâu bệnh, người trồng rau phải phun nhiều thuốc hóa chất cao để diệt trừ sâu bệnh vì thế chất lượng rau không đảm bảo. Do vậy, tôi đã tìm hiểu và nắm được thời vụ chính của các loại rau cụ thể như sau:

* Rau cải:

Ta nên cho trẻ ăn rau cải chính vụ là từ tháng 4 đến tháng 10 đó là vụ hè thu, rau cải hợp thời tiết, phát triển nhanh nếu rau được tưới đủ nước, không cần phun thuốc bảo vệ thực vật rau vẫn phát triển tốt, ít sâu bệnh, độ an toàn cao. Từ tháng 11 đến tháng 1đặc điểm giai đoạn này thời tiết khô hanh và mưa xuân, rau hay bị chết dóc và sâu bệnh phát triển nhiều. Do đó người sản xuất phải phun nhiều lần thuốc bảo vệ thực vật trong một lứa, thời gian cách ly từ lần phun cuối đến khi thu hoạch ngắn, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật tồn đọng trong rau còn cao. Vì vậy ta không nên cho trẻ ăn.

* Rau bắp cải:

Rau bắp cải thường xuất hiện từ tháng 6 (rau bắp cải Đà Lạt)

Rau bắp cải trái vụ miền Bắc có từ tháng 7 đến tháng 9.

Rau chính vụ có từ đầu tháng 10 đến tháng 2.

    Theo tôi ta chỉ nên cho trẻ ăn rau bắp cải chính vụ từ tháng 10 đến tháng 2. Đặc điểm thời tiết giai đoạn này là trời lạnh, nhiệt độ thấp, thuận lợi cho rau bắp cải phát triển, rau cuốn chắc, ít sâu bệnh, rau ít phải phun thuốc bảo vệ thực vật, chất lượng rau đảm bảo. Rau bắp cải trái vụ hoặc rau bắp cải Đà Lạt không nên cho trẻ ăn bởi vì rau bắp cải trái vụ có đặc điểm lớp cuốn ít, các lá cuốn cứng, rau ăn không mềm và không ngon. Hay rau cuối vụ, ngoài yếu tố sâu bệnh nhiều còn có đặc điểm: rau hay bị nổ, vỡ. Khi phun thuốc bảo vệ thực vật có thể ngấm cả vào bên trong lớp lá cuốn trắng. Khi ăn dễ bị ngộ độc. Còn những cây không bị nổ vỡ thì bên trong thường có lớp lá thối, hỏng xen kẽ, ta không nên ăn.

* Rau ngót:

Khác với loại rau thông thường, mùa xuân thường có nhiều sâu bệnh thì mùa xuân lại là mùa thuận lợi cho rau ngót phát triển do vậy ta có thể cho trẻ ăn rau ngót vào mùa xuân từ tháng 2 đến mùa thu (hết tháng 10).

 * Rau mồng tơi, rau dền, rau đay:

Các loại rau này thường xuất hiện từ đầu mùa xuân (tháng 2) đến mùa thu (tháng 10). Ngoài sâu bệnh từ khoảng tháng 2 đến tháng 3 ta có thể cho trẻ ăn rau mồng tơi từ tháng 4 đến hết tháng 10.

* Rau cải cúc:

Đối với loại rau này chúng ta có thể hoàn toàn yên tâm khi ăn vì chúng ít sâu bệnh. Ngoài yếu tố chăm sóc và gieo trồng đúng thời vụ người trồng rau không phải sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Ăn chính vụ từ tháng 10 dến hết tháng 2.

Bên cạnh đó việc giao và nhận thực phẩm cũng được chú trọng hơn để có các nguyên liệu đảm bảo cho chế biến món ăn của trẻ.

     2. Biện pháp 2: Xây dựng khẩu phần ăn hợp lý thường xuyên sử dụng các loại rau xanh trong bữa ăn hàng ngày

     Ăn uống hợp lý nhằm cung cấp cho cơ thể đủ chất, các chất không quá thiếu cũng không quá thừa. Trong một đơn vị thời gian nhất định cơ thể cần một tỷ lệ cân đối các chất dinh dưỡng, nếu thiếu một chất thì các chất khác được hấp thụ rất hạn chế. Vì vậy trong khẩu phần ăn phải có hỗn hợp các lương thực, thực phẩm không những làm tăng hương vị thơm ngon bổ sung các chất dinh dưỡng cho nhau, mà còn có tác dụng hỗ trợ nhau, chất nọ làm tăng giá trị hấp thụ, đồng hóa của cơ thể đối với chất kia. Căn cứ vào nhu cầu dinh dưỡng và cơ cấu khẩu phần ăn của trẻ Ban giám hiệu và tổ nuôi đã xây dựng thực đơn cho trẻ hợp lý. Đảm bảo có 4 nhóm thức ăn hàng ngày trong mỗi bữa ăn, thay đổi món ăn cho trẻ ăn ngon miệng, thực đơn được thay đổi theo từng mùa và theo tình hình thực phẩm tại địa phương. Thường xuyên sử dụng các loại rau xanh ăn lá trong bữa ăn hàng ngày của trẻ.

     Sau đây là thực đơn theo mùa đã được áp dụng trong trường.

THỰC ĐƠN TUẦN CHẴN MÙA ĐÔNG 25000Đ/TRẺ/NGÀY

THỨ

SÁNG

CHIỀU

Nhà trẻ

Mẫu giáo

2

Cơm

Chả tôm hấp

Canh thịt nấu chua thả giá

Tráng miệng: Thanh long

Phở bò

Sữa bột

Phở bò

Sữa bột

3

Cơm

Trứng thịt hấp ngũ sắc

Su su xào

Canh bí nấu tôm

Tráng miệng: Sữa chua

Cơm

Thịt gà om nấm

Canh cải thảo nấu

Sữa bột

Bánh bao

Sữa bột

4

Cơm

Cá thịt sốt chua ngọt

Canh cá nấu chua

Tráng miệng: Váng sữa

Bún thịt

Sữa bột

Bún thịt

Sữa bột

5

Cơm

Thịt gà lợn nấu rôty

Bí xào

Canh thập cẩm

Tráng miệng: Sữa chua

Súp bí đỏ kem tươi

Sữa tươi

Súp bí đỏ kem tươi

Sữa tươi

6

Cơm

Thịt bò lợn sốt kiểu Ý

Canh bắp cải nấu thịt

Tráng miệng: Caramen

Ch áo cua bông cải

Sữa bột

Ch áo cua bông cải

Sữa bột

    

THỰC ĐƠN TUẦN LẺ MÙA HÈ 25000Đ/TRẺ/NGÀY

THỨ

SÁNG

CHIỀU

Nhà trẻ

Mẫu giáo

2

Cơm

Tôm,thịt, đậu hấp chua ngọt

Canh cải xanh nấu thịt

Tráng miệng: dưa hấu

Phở gà

Sữa bột

Phở gà

Sữa bột

3

Cơm

Trứng thịt hấp nấm

Bầu xào

Canh bí đỏ hầm bò

Tráng miệng: Sữa chua

Cơm

Thịt kho cốt dừa

Canh cải chíp nấu thịt

Sữa bột

Bánh bao

Sữa bột

4

Cơm

Cá thịt xào nấm tươi

Canh ca nấu chua

Tráng miệng: Váng sữa

Cháo chim

Sữa bột

Cháo chim

Sữa bột

5

Cơm

Thịt gà lợn nấu lê

Cải chíp xào

Canh bí nấu thịt

Tráng miệng: Sữa chua

Súp tôm

Sữa tươi

Súp tôm

Sữa tươi

6

Cơm

Thịt bò lợn sốt chanh leo

Canh cua nấu rau ngót

Tráng miệng: Caramen

Bún ngan

Sữa bột

Bún ngan

Sữa bột

     3) Biện pháp 3: Xây dựng kế hoạch tăng gia rau sạch tại khuôn viên hiện có của trường

     Là một ngôi trường mới được xây dựng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước. Nhìn bên ngoài rất bề thế khang trang, bên trong được trang bị tương đối đủ đồ dùng đồ chơi, các phương tiện hiện đại phục vụ cô và trẻ.

     Phải làm như thế nào để nhanh chóng có vườn rau sạch, phủ xanh vườn trường, tạo cảnh quan sư phạm để trẻ được sinh hoạt và học tập, trải nghiệm tại trường một cách đầy đủ khoa học, phát huy trí tụê một cách toàn diện cho trẻ. Đồng thời, bếp ăn có thêm rau sạch phục vụ trẻ.

     Bếp ăn cơ sở 2 của nhà trường có diện tích không lớn nên việc trồng các loại rau chủ yếu là trong thùng xốp, thường trồng các loại rau ngắn ngày như hành lá, rau mùi ta. Xen kẽ với việc trồng các loại rau thơm thì các đồng chí nhân viên còn trồng thêm các loại rau leo giàn như bầu, su su để phục vụ thêm món xào cho bữa ăn của trẻ  phong phú hơn.

     Bên cạnh việc nhận  các loại thực phẩm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm  thì vấn đề vệ sinh nhà bếp cũng rất là quan trọng trong việc chế biến các thực phẩm vì vậy chúng ta phải tuân thủ thực hiện theo quy trình bếp một chiều và sắp xếp bếp một cách hợp lý, hàng ngày phải thường xuyên quét dọn lau chùi bếp sạch sẽ, sắp xếp bếp gọn gàng,  ngăn nắp. Thùng đựng rác phải có nắp đậy và được xử lý hàng ngày. Ngoài ra các cô nuôi cũng phải đảm bảo vệ sinh trong quá trình chế biến như: đầu tóc, quần áo phải gọn gàng sạch sẽ, phải mặc tạp dề, đeo khẩu trang, đội mũ và đặc biệt khi sơ chế và chế biến các cô phải đi găng tay và phải cắt móng tay, không được để móng tay dài vì như vậy các vi khuẩn trong móng tay sẽ xâm nhập vào thực phẩm làm mất vệ sinh.

     Từ đó mà chúng ta thấy được tầm quan trọng của việc lựa chọn thực phẩm đảm bảo vệ sinh và phù hợp với trẻ mẫu giáo. Nếu chúng ta lựa chọn những thực phẩm không đảm bảo vệ sinh , tươi ngon thì bữa ăn của chúng ta không mang lại giá trị dinh dưỡng cao.

     4) Biện pháp 4: Kết hợp với giáo viên làm tốt công tác thông tin hai chiều giữa nhà trường và gia đình chăm sóc nuôi dưỡng trẻ.

     Nhằm tuyên truyền phụ huynh nuôi con theo khoa học, giáo dục trẻ ý thức sử dụng rau xanh trong bữa ăn tránh phá vỡ thói quen khi cô cung cấp ở trường, lớp. Ban giám hiệu nhà trường phát tài liệu cho cán bộ, giáo viên, công nhân viên, phụ huynh trong đó có những cuốn sách: Nuôi con khỏe, dạy con ngoan, Phòng chống suy dinh dưỡng ở trẻ, Cần cho trẻ ăn uống đủ chất.

     Xây dựng góc tuyên truyền về kiến thức nuôi dạy trẻ theo khoa học ở góc sân nhà trường.

Ví dụ : Bảng tuyên truyền: “Những lời khuyên dinh dưỡng hợp lý”, “Mười lời khuyên không ngộ độc”, “Tháp dinh dưỡng”, “Những thông tin dinh dưỡng dành cho trẻ”.

Kết hợp với các giáo viên trên lớp lồng giáo dục dinh dưỡng thông qua các bài dạy, hoạt động vui chơi, giờ ăn phù hợp.

Với các buổi họp phụ huynh, tôi kết hợp với Ban giám hiệu mời chuyên gia phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em về trò chuyện với phụ huynh vấn đề chăm sóc trẻ theo khoa học và hướng dẫn làm một số món ăn đủ chất theo khoa học mà trẻ thích.

  1. Biện pháp 5: Cách chế biến các loại rau ăn lá:

     Cũng như tất cả các loại thực phẩm khác khi đã chọn được thực phẩm tươi ngon đảm bảo thì chế biến thành món ăn cho trẻ. Đặc thù món ăn của trẻ mầm non là tất cả các loại món ăn đều phải thái nhỏ, rau xanh ăn lá cũng vậy. Nhằm tránh hao hụt lượng vitamin và khoáng chất cần thiết.

     Khâu sơ chế đối với tất cả các loại rau ăn lá cần nhặt bỏ rễ, cuống già, chỗ sơ, lá úa vàng rồi mới đem rửa. Hàng ngày khi vo gạo ta tận dụng nước vo gạo đó cho vào rau rửa qua, sau đó rửa trôi qua 3 lần dưới vòi nước sạch là tốt nhất. Với các dung dịch khác như: nước muối, thuốc tím luôn đòi hỏi nồng độ lớn ta không nên ngâm rau thời gian dài quá ½ giờ vì chúng sẽ làm hỏng rau. Khi rửa rau nên nhẹ nhàng, rửa từng ít một. Để nguyên cả tầu lá, chú ý rửa kỹ các kẽ cuống lá vì hay dịnh đọng đất bẩn.

     Rửa song để giáo nước thái nhỏ rồi nấu ngay.

     Rau ăn lá chủ yếu chế biến thành canh trong bữa ăn của trẻ, tùy đặc tính từng loại rau mà ta có thời gian nấu canh cho thích hợp.

Ví dụ: Rau muống muốn rau xanh không bị đỏ khi nước đã sôi kỹ cho một ít muối vào sau đó mới thả rau vào nấu. Canh sôi từ 3 đến 5 phút bắc ra không để lâu rau sẽ bị nát và dần có màu đỏ.

Với rau ngót, rau cải, rau bắp cải thời gian chín lâu hơn do vậy canh sôi đều trở lại từ 3 – 5 phút mới bắc ra.

Rau mùng tơi, rau đay, rau dền, rau khoai lang : các loại rau này rất nhanh chín do vậy khi cho rau vào nấu, canh sôi đều trở lại ta phải bắc ra ngay nếu không rau sẽ bị nát nhừ, có mùi nồng ăn không ngon.

Lưu ý : Khi nấu xong canh bắc ra mở hé vung, tránh đậy vung kín rau sẽ bị đỏ, nát mất cảm quan

Trong các buổi họp Hội đồng sư phạm nhà trường, họp phụ huynh, qua ý kiến của các cô giáo, phụ huynh và kết quả khám sức khỏe đầu năm tôi thấy có một thực tế trẻ nhỏ rất hay bị táo bón. Tôi nghĩ phải bổ sung thêm rau xanh vào các bữa ăn phụ của trẻ bằng cách dùng máy say sinh tố say nhỏ các loại rau ăn lá, dùng nước rau đó nấu bột, cháo ... nhằm tô mầu tạo cảm quan hấp dẫn món ăn cho trẻ.

     6)  Biện pháp 6: Tăng cường sử dụng nấm sạch vào bữa ăn hàng ngày trong trường làm phong phú thực đơn của trẻ.

      - Từ lâu nhân dân ta thường dùng nấm trong thực phẩm hàng ngày, gồm các loại nấm truyền thống như nấm hương, nấm rơm. Đây là loại nấm bổ sung dinh dưỡng phù hợp với mọi lứa tuổi, nấm đem lại nguồn thực phẩm giàu đạm, đầy đủ các acicd amin thiết yếu, hàm lượng chất béo ít và những acid béo chưa bão hòa, do đó tốt cho sức khỏe, giá trị năng lượng cao, giàu chất khoáng và các vitamin. Ngoài ra trong nấm còn chứa nhiều hoạt chất có tính sinh học, góp phần ngăn ngừa và điều trị bệnh cho con người, vì hầu như các loại nấm ăn đều có tác dụng phòng ngừa và điều trị bệnh cho con người  như phòng chống u bướu, béo phì, sơ vữa động mạch, huyết áp, ung thư nếu mỗi tuần chúng ta ăn nấm ít nhất một lần thì cơ thể sẽ chậm lão hóa hơn và ngăn ngừa được các bệnh nêu trên. Từ đó ta thấy được nấm còn là thực phẩm chức năng của thế kỷ 21.               

      Việc xây dựng thực đơn đưa nấm vào khẩu phần ăn của trẻ là cần thiết. Có thể làm nhiều món ăn  cho trẻ từ nấm. Các món ăn từ nấm thơm ngon bổ dưỡng và rất dễ chế biến.

      Đồng thời, tránh được một số bệnh do tồn dư thuốc bảo quản thực vật, vì  nấm trồng chủ yếu bằng rơm rạ, mùn cưa, nước nên ăn nấm tương đối an toàn. Tuy nhiên khi nhập nấm vào trường cần chú ý chọn nấm non và tươi. tốt nhất là dùng trong 12 giờ sau thu hái, tránh ngộ độc từ nấm.

     I. Kết quả đạt được:

     Dưới sự trực tiếp chỉ đạo của Ban giám hiệu nhà trường cùng với những kinh nghiệm công tác của bản thân. Bên cạnh chất lượng giáo dục trẻ, công tác chăm sóc nuôi dưỡng được chú trọng và phát triển. Mỗi cán bộ công nhân viên và phụ huynh học sinh nắm được kiến thức, kỹ năng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ.

     Hàng năm chưaxảy ra vụ ngộ độc thức ăn nào.

     Xây dựng được thực đơn theo mùa làm giảm tối đa thuốc bảo vệ thực vật vào cơ thể trẻ

    Bếp ăn được cung cấp rau sạch tự trồng trong vườn trường đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.

     Điều quan trọng và cũng là niềm vui, nguồn động viên tôi rất nhiều trong công tác đó là : Qua các đợt thăm quan, dự giờ, kiểm tra bếp ăn của phụ huynh đối với công tác chăm sóc nuôi dưỡng trong trường, một số phụ huynh đã nói với tôi “ở đây các cô chế biến món ăn rau xanh khéo thật, thảo nào mà các cháu về bảo tôi (mẹ, bà) phải nấu canh như cô giáo con ở trường con ăn mới ngon cơ”

Bảng khảo sát trẻ suy dinh dưỡng thấp còi cuối năm 2018-2019

Lứa tuổi

Trẻ suy dinh dưỡng

Trẻ thấp còi

Trẻ suy dinh dưỡng và thấp còi

Số lượng

Tỉ lệ(%)

Số lượng

Tỉ lệ(%)

Số lượng

Tỉ lệ(%)

Nhà trẻ

  1.  
  1.  
  1.  
  1.  
  1.  
  1.  

Mẫu giáo bé

  1.  
  1.  
  1.  
  1.  
  1.  
  1.  

Mẫu giáo nhỡ

  1.  
  1.  
  1.  
  1.  
  1.  
  1.  

Mẫu giáo lớn

  1.  
  1.  
  1.  
  1.  
  1.  
  1.  

Tổng số

  1.  
  1.  
  1.  
  1.  
  1.  
  1.  

     Sau khi kiến nghị các biện pháp lựa chọn và chế biến các loại rau xanh an toàn trong chế biến bữa ăn của trẻ mầm non thì số lượng  trẻ uy dinh dưỡng thấp còi đã giảm đi đáng kể nhờ vào việc đưa thêm các loại rau xanh chứa nhiều dinh dưỡng vào bữa ăn cho trẻ, một phần nữa là nhờ vào cách chế biến của các đồng chí nhân viên mà món ăn thơm ngon, màu sắc đẹp mắt kích thích việc ăn uống của trẻ.

PHẦN III – KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

     1. Kết luận:

Đạt được những kết quả như trên tôi thấy nguyên nhân chính là :

Coi trọng công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ như chăm sóc nuôi dưỡng chính con em mình.

Chú trọng bữa ăn và chăm lo sức khỏe thường xuyên cho trẻ.

Bản thân cô phải có kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm. Phải nắm rõ tầm quan trọng và rèn luyện bản thân có ý thức về sinh an toàn thực phẩm.

Luôn quan tâm đến chất lượng bữa ăn hàng ngày của trẻ.

Kết hợp chặt chẽ với Ban giám hiệu và tổ nuôi xây dựng thực đơn phong phú phù hợp với tình hình thực phẩm ở địa phương đảm bảo mùa nào rau ấy

Kết hợp với phụ huynh tuyên truyền và vận động phụ huynh cùng kết hợp với nhà trường trong việc chăm sóc, nuôi dạy trẻ.

Có ý thức tự học hỏi, bồi dưỡng nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ.

     2.Kiến nghị:

     Tôi kính mong phòng giáo dục thường xuyên mở rộng lớp tập huấn cho các cô nuôi cũng như giáo viên học hỏi về công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ.

- Cần cung cấp thêm cho các cô nuôi tài liệu về cách chế biến các món ăn cho trẻ mầm non.

- Có kế hoạch tổ chức cho các cô nuôi được học tập chuyên ngành nấu ăn. Tổ chức cho các cô nuôi đi thăm quan các điển hình làm tốt nhiệm vụ nuôi dưỡng trẻ.

thời tiết các vùng

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

Bình chọn

Đánh giá thái độ tiếp công dân của cán bộ Một cửa quận