TIN TỨC KHÁC

Trường Tiểu học Đại Từ: Một số biện pháp lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường vào bài dạy môn tự nhiên và xã hội lớp 1
Ngày đăng 28/08/2019 | 16:11  | View count: 1853

Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường vào bài dạy môn tự nhiên và xã hội lớp 1

     Trong suốt 5 năm công tác trong ngành Giáo dục, ngoài việc đứng lớp giảng dạy, tôi cũng đã dành nhiều thời gian nghiên cứu, tìm tòi và đóng góp được một số SKKN về các lĩnh vực như: Toán, Tiếng Việt, Tự nhiên và Xã hội. Năm học 2018-2019 vừa qua, tôi cũng đi sâu nghiên cứu về lĩnh vực Tự nhiên và Xã hội lớp 1.

     Là một giáo viên được phân công giảng dạy lớp 1 ở một trường Tiểu học. Điều kiện thuận lợi còn hạn chế, hơn nữa ý thức của người dân chưa cao, dẫn đến môi trường bị ô nhiễm ảnh hưởng đến sức khoẻ của mọi người. Vì thế mà tôi thấy việc giáo dục cho học sinh tiểu học có ý thức bảo vệ môi trường là một việc làm rất cần thiết. Bởi trẻ em được giáo dục cách tôn trọng và bảo vệ môi trường xung quanh sẽ góp phần tác động tới suy nghĩ và sự phát triển nhân cách của các em, từ đó góp phần gìn giữ môi trường trên trái đất này. Đó là lý do tại sao giáo dục môi trường được coi là yếu tố quan trọng trong chương trình giáo dục tiểu học. Lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường vào giảng dạy các môn học ở trường tiểu học là cách tiếp cận cho thế hệ trẻ có những quyết định đúng đắn với môi trường. Đồng thời cũng nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi học sinh đối với quê hương đất nước. Đó chính là một phần, một khâu quan trọng của nhiệm vụ giáo dục ở bậc tiểu học.

     Xuất phát từ ý nghĩ đó nên tôi luôn trăn trở, suy nghĩ để tìm ra các biện pháp nhằm giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho các em thông qua các môn học sao cho hiệu quả nhất. Từ đó sáng kiến “Một số biện pháp lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường vào bài dạy môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1” đã hình thành trong quá trình dạy học của tôi. Đó cũng chính là lý do tôi chọn và nghiên cứu đề tài này.

ĐẶT VẤN ĐỀ

     I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

     Chúng ta đang sống ở thế kỷ XXI - Thế kỷ của sự phát triển vượt bậc về khoa học công nghệ, của công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Với nhịp độ phát triển như vũ bão của nền công nghiệp ở các quốc gia trên thế giới đã đem lại cuộc sống hiện đại với chất lượng cao và nhu cầu ngày càng tăng. Nhưng cũng chính sự phát triển nhanh - mạnh, vượt bậc ấy đã ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường sống. Trong tương lai có thể nó sẽ để lại hậu quả khó lường. Vấn đề môi trường giờ đây không chỉ là vấn đề riêng của mỗi quốc gia nữa mà là vấn đề có tính chất toàn cầu, có tính chất đặc biệt nghiêm trọng của toàn thế giới, trong đó có Việt Nam.

     Hiện nay có nhiều vấn đề về môi trường mà Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung đang phải đối đầu, trong đó những vấn đề nghiêm trọng nhất là nạn phá rừng, sự khai thác quá mức tài nguyên đất, việc bảo tồn nguồn nước ngọt kém hiệu quả và nạn ô nhiễm môi trường do ý thức của con người chưa cao, đó là chưa kể đến tác động lâu dài của chiến tranh đến môi trường. Những vấn đề ảnh hưởng đó đang ngày càng trầm trọng hơn do dân số tăng và nạn đói nghèo chưa được giải quyết một cách cơ bản. Bởi vậy điều đó quan trọng là phải đón trước những vấn đề môi trường có thể xảy ra mà công cuộc phát triển kinh tế đem lại. Đồng thời có những biện pháp đề phòng, giảm nhẹ hậu quả bằng cách thực hiện chiến lược môi trường phù hợp với phát triển bền vững và lôi cuốn được nhân dân tham gia bảo vệ môi trường. Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của cả cộng đồng xã hội.

    Chính vì điều đó mà các vấn đề môi trường ngày càng được coi trọng trong chương trình giáo dục Việt Nam, từ mầm non, phổ thông đến bậc đại học.

     “Đưa giáo dục bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân là nhiệm vụ hết sức cần thiết đảm bảo cho sự thành công của công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.”

       (Trích Quyết định số 1363/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 17 tháng 10 năm 200 1 )

      Bản thân tôi là một giáo viên được phân công giảng dạy lớp 1 ở một trường Tiểu học. Điều kiện thuận lợi còn hạn chế, hơn nữa ý thức của người dân chưa cao, dẫn đến môi trường bị ô nhiễm ảnh hưởng đến sức khoẻ của mọi người. Vì thế mà tôi thấy việc giáo dục cho học sinh tiểu học có ý thức bảo vệ môi trường là một việc làm rất cần thiết. Bởi trẻ em được giáo dục cách tôn trọng và bảo vệ môi trường xung quanh sẽ góp phần tác động tới suy nghĩ và sự phát triển nhân cách của các em, từ đó góp phần gìn giữ môi trường trên trái đất này. Đó là lý do tại sao giáo dục bảo vệ môi trường được coi là yếu tố quan trọng trong chương trình giáo dục tiểu học. Lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường vào giảng dạy các môn học ở trường tiểu học là cách tiếp cận cho thế hệ trẻ có những quyết định đúng đắn với môi trường. Đồng thời cũng nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi học sinh đối với quê hương đất nước. Đó chính là một phần, một khâu quan trọng của nhiệm vụ giáo dục ở bậc tiểu học.

     Xuất phát từ ý nghĩ đó nên tôi luôn trăn trở, suy nghĩ để tìm ra các biện pháp nhằm giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho các em thông qua các môn học sao cho hiệu quả nhất. Từ đó sáng kiến “Một số biện pháp lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường vào bài dạy môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1” đã hình thành trong quá trình dạy học của tôi. Đó cũng chính là lý do tôi chọn và nghiên cứu đề tài này.

    II/ MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

    1. Mục đích nghiên cứu:

    Vận dụng lý thuyết và thực tiễn để xây dựng kế hoạch lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường vào bài dạy môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1 nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập phù hợp với mục tiêu Giáo dục - Đào tạo trong giai đoạn hiện nay.

     2. Nhiệm vụ nghiên cứu:

        - Nghiên cứu một số một số vấn đề lý luận cơ bản về giáo dục bảo vệ môi trường.

        - Tìm hiểu về thực trạng môi trường ở trường, lớp và ở địa phương hiện nay.

        - Đề xuất một số biện pháp lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường vào bài dạy môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1.

     III/ PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

     1. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:

       - Phạm vi nghiên cứu: Chương trình môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1.

       - Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề giáo dục ý thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường của học sinh lớp 1 đối với trường lớp và nơi các em đang sinh sống.

       - Đối tượng thực nghiệm: Học sinh lớp 1 trường Tiểu học Đại Từ.

     2. Phương pháp nghiên cứu:

     Khi tiến hành nghiên cứu đề tài này tôi đã sử dụng các phương pháp sau đây:

     * Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận

     Tìm hiểu các khái niệm, nghị quyết có liên quan đến giáo dục bảo vệ môi trường trong nhà trường tiểu học nói riêng và trong các trường học phổ thông nói chung.

     Nghiên cứu các thông tin tư liệu, các tập san, báo chí và các bài giảng có liên quan đến giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học.

     * Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

       - Phương pháp quan sát

       - Phương pháp giảng giải - minh hoạ

       - Thảo luận nhóm

       - Tổ chức tham quan

       - Điều tra - khảo sát

       - Đóng vai theo tình huống

       - Trò chơi học tập

     3. Thời gian nghiên cứu:

       - Đề tài được thực hiện trong năm học 2018-2019

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN

     1. Khái niệm về giáo dục và bảo vệ môi trường:

     Môi trường là tập hợp tất cả những gì chúng ta thấy được hoặc cảm nhận được ở xung quanh chúng ta như: Các thành phần tự nhiên và thành phần nhân tạo, ảnh hưởng đến đời sống, sự tồn tại và phát triển của con người.

      Một môi trường xanh, sạch, đẹp là vô cùng cần thiết đối với cuộc sống của mỗi con người. Nó đảm bảo cho sự sống của chúng ta được tốt đẹp hơn.

     Giáo dục bảo vệ môi trường là quá trình tạo dựng cho con người những nhận thức và mối quan tâm đối với môi trường và các vấn đề môi trường sao cho mỗi người có đủ kiến thức, thái độ, ý thức và kĩ năng để có thể hoạt động một cách độc lập hoặc phối hợp nhằm tìm ra các giải pháp bảo vệ cho vấn đề môi trường hiện tại và ngăn chặn những vấn đề môi trường có thể xảy ra trong tương lai.

     2. Vai trò của việc lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường vào bài dạy môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1:

     Lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường vào nhà trường tiểu học nhằm thực hiện chính sách và chương trình hành động Quốc gia về tăng cường công tác giáo dục bảo vệ môi trường. Đồng thời đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đảm bảo sự thành công của công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước để bảo vệ và phát triển môi trường bền vững. Bảo vệ môi trường phát triển bền vững là chiến lược sống còn của nhân loại trong thế kỉ XXI.

     Lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường vào giảng dạy các môn học ở trường tiểu học nói chung và ở môn Tự nhiên và Xã hội nói riêng nhằm nâng cao nhận thức, thái độ, kĩ năng, hành động bảo vệ và phát triển môi trường bền vững không chỉ cho hiện tại mà cho cả tương lai. Mỗi hành động của học sinh vì môi trường, về môi trường và trong môi trường sẽ góp phần cải thiện môi trường sống ở gia đình, làng quê, khu phố,…

     Mặt khác, việc lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường vào giảng dạy ở bậc tiểu học còn có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác dạy học và giáo dục của nhà trường. Môi trường sống vừa là phương tiện giáo dục, vừa là môi trường cần thiết để giáo dục và phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh, là điều kiện đảm bảo cho loài người một tương lai tươi sáng.

CHƯƠNG II: CƠ SỞ THỰC TIỄN

     1. Thực trạng vấn đề

     Bảo vệ môi trường là một vấn đề rất được quan tâm. Ở những nơi công cộng như trong công viên, trong khu vui chơi giải trí, trong rạp chiếu phim, trên đường phố... đều có những thùng rác công cộng vậy mà rác vẫn có ở khắp nơi, trôi nổi trên mặt hồ ao...

     Ở địa phương tôi cũng vậy, mặc dù đã có Công ty Môi trường Đô thị thường xuyên đi thu gom rác ở từng tổ dân phố, song những túi rác vẫn rải rác bị vứt ở ngoài đường trước sự thờ ơ chứng kiến của mọi người. Đặc biệt ở hồ, ao, sông, ngòi thì quá bẩn. Ý thức của người dân chưa cao, các chất thải đều đổ xuống hồ, ao, sông, ngòi làm cho nguồn nước bị ô nhiễm. Chính vì thế mà môi trường ngày càng bị ô nhiễm trầm trọng.

     Ở nhà trường, việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cũng đã được đề cập song một phần vì giáo viên còn nặng nề tâm lý lo giảng dạy kiến thức cơ bản mà xem nhẹ việc lồng ghép giáo dục ý thức thái độ cho học sinh; một phần học sinh lại dễ nhớ nhưng cũng nhanh quên (do đặc điểm tâm lý lứa tuổi). Hiện nay mỗi lớp học, mỗi nhà trường đều được trang bị tương đối đầy đủ các thiết bị vệ sinh đặc biệt là thùng rác. Nhưng hằng ngày chúng ta vẫn thấy rác vẫn có mặt ở khắp nơi như sân trường, hành lang, ngăn bàn... Điều đó chứng tỏ ý thức tự giác bảo vệ môi trường của học sinh chưa cao.

     Qua khảo sát thực tế học sinh ở lớp 1 tôi thấy:

       + Có khoảng 40 đến 45% số học sinh khi phát hiện giấy, rác… ở trường, lớp chưa tự giác nhặt bỏ vào nơi qui định.

       + 25% số học sinh chưa biết tự giác vệ sinh lớp học (lau bảng, giặt giẻ lau hoặc còn vứt giấy, rác ra lớp).

       + 15% số học sinh chưa biết tiết kiệm và bảo vệ nguồn nước ở trường.

       + 100% số học sinh chưa biết quét lớp học.

     2. Nguyên nhân của thực trạng

     Từ thực trạng trên tôi đã tìm hiểu và thống kê được một số nguyên nhân dẫn đến sự ô nhiễm môi trường:

       - Ý thức và trách nhiệm của mọi người chưa cao.

       - Trong nhà trường các thầy cô giáo luôn coi trọng giảng dạy kiến thức mà chưa thường xuyên nhắc nhở học sinh đến việc giữ gìn bảo vệ môi trường.

       - Phương pháp giáo dục học sinh có ý thức bảo vệ môi trường còn hạn chế.

       - Sự kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong việc giáo dục học sinh ý thức bảo vệ môi trường chưa được chặt chẽ.

       - Ý thức tự giữ vệ sinh trường, lớp (nói riêng) và bảo vệ môi trường (nói chung) của học sinh chưa cao.

       - Học sinh chưa được hướng dẫn quét nhà.

   CHƯƠNG III: MỘT SỐ BIỆN PHÁP ÁP DỤNG LỒNG GHÉP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀO BÀI DẠY MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 1

     I/ Một số biện pháp áp dụng lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường vào bài dạy môn Tự nhiên và xã hội lớp 1 

     1. Tìm hiểu mục tiêu, nội dung, chương trình môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1

     1.1 Mục tiêu:

       Môn Tự nhiên và Xã hội ở trường Tiểu học nói chung và ở lớp 1 nói riêng là một môn học mang tính tổng thể, đa dạng và phong phú. Nó cung cấp cho học sinh:                                        

       - Có những kiến thức cơ bản, ban đầu về:

       + Con người và sức khoẻ (cơ thể người, cách giữ vệ sinh cơ thể và phòng tránh bệnh tật, tai nạn).

       + Một số sự vật, hiện tượng đơn giản trong Tự nhiên và Xã hội.

       - Bước đầu hình thành và phát triển những kĩ năng:

       + Tự chăm sóc sức khỏe cho bản thân. Biết ứng xử hợp lí trong đời sống để phòng tránh một số bệnh tật và tai nạn.

       + Quan sát, nhận xét, nêu thắc mắc, đặt câu hỏi, biết cách diễn đạt những hiểu biết của mình về các sự vật, hiện tượng đơn giản trong Tự nhiên và Xã hội.

       - Hình thành và phát triển những thái độ và hành vi:

       + Có ý thức thực hiện các qui tắc giữ vệ sinh, an toàn cho bản thân, gia đình và cộng đồng.

       + Yêu thiên nhiên, gia đình, trường học và quê hương.

     1.2. Nội dung chương trình

       Chủ đề: Con người và sức khỏe

       Cơ thể người và các giác quan (các bộ phận chính, vai trò nhận biết thế giới xung quanh của các giác quan; vệ sinh cơ thể và các giác quan; vệ sinh răng miệng). Ăn no, uống đủ nước.

       Chủ đề: Xã hội

       - Gia đình: Các thành viên trong gia đình (ông, bà, cha, mẹ, anh, chị, em ruột). Nhà ở và đồ dùng trong nhà (địa chỉ nhà ở, chỗ ăn, ngủ, làm việc, học tập, tiếp khách... và các đồ dùng cần thiết khác trong nhà). Giữ nhà ở sạch sẽ. An toàn khi ở nhà (phòng tránh đứt tay, chân…, điện giật).

       - Lớp học: Các thành viên trong lớp học, các đồ dùng trong lớp học, giữ lớp học sạch, đẹp.

       - Thôn, xóm, xã hoặc phố, phường nơi đang sống: Phong cảnh và hoạt động sinh sống của nhân dân. An toàn giao thông.

       Chủ đề: Tự nhiên

       - Thực vật và động vật: Một số cây và một số con vật phổ biến (tên gọi, đặc điểm và ích lợi hoặc tác hại đối với con người).

       - Hiện tượng tự nhiên: Một số hiện tượng phổ biến của thời tiết (nắng, mưa, gió, nóng, rét).

     1.3. Chương trình môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1

       Sách giáo khoa Tự nhiên và Xã hội 1 gồm ba chủ đề với 35 bài, ứng với 35 tiết của 35 tuần thực học. Trong đó có 32 bài học mới và 3 bài ôn tập, được phân phối như sau:

       Con người và sức khỏe: 10 bài

       Xã hội                        : 11 bài

       Tự nhiên                      : 14 bài

        Dựa vào chương trình môn Tự nhiên và Xã hội 1 được cấu trúc theo 3 chủ đề lớn: Con người và sức khỏe, Xã hội, Tự nhiên. Tôi nhận thấy mỗi chủ đề đều có thể tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường. Cụ thể như sau:

       - Chủ đề: Con người và sức khỏe

       Giúp học sinh hiểu được mối quan hệ giữa môi trường và sức khỏe con người, hình thành ý thức và thói quen giữ vệ sinh thân thể, vệ sinh ăn uống, vệ sinh môi trường xung quanh.

       - Chủ đề: Xã hội

       Nội dung các bài học về gia đình, nhà trường, làng quê và đô thị trang bị cho học sinh: Những hiểu biết về quê hương, đất nước; tìm hiểu về mối quan hệ giữa con người và môi trường, sự tác động qua lại giữa các yếu tố môi trường gần gũi với cuộc sống của học sinh. Trên cơ sở đó, bồi dưỡng cho học sinh tình yêu làng bản, phố phường, ý thức và hành vi bảo vệ môi trường.

       - Chủ đề: Tự nhiên

       Giúp học sinh nhận biết sự phong phú của các loài cây, con vật và các điều kiện sống của chúng. Sự cần thiết phải bảo vệ và cách bảo vệ chúng.

       Trong quá trình thực hiện các nội dung kiến thức của từng bài dạy cụ thể, tôi thấy nếu hiểu rõ kiến thức về vấn đề cơ bản của môi trường từ quá trình đọc - tham khảo tài liệu thì giáo viên có thể lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường vào bài dạy hiệu quả, bổ ích cho các đối tượng là học sinh lớp 1. Để từ đó, tôi xác định được mục tiêu của bài học có lồng ghép nội dung giáo dục bảo vệ môi trường:

       - Về kiến thức:

       Giáo dục bảo vệ môi trường giúp học sinh hiểu một số kiến thức cần thiết về các vấn đề cơ bản của môi trường như: Không khí, nước, cây cối, con vật, rác thải, ô nhiễm, mối quan hệ giữa môi trường đối với con người, tác động của con người đối với môi trường. Mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường với nhau, quan hệ phụ thuộc của các loài động vật, thực vật với nhau tạo nên hệ thống sinh thái đa dạng, phong phú và có quan hệ phụ thuộc chặt chẽ với nhau, mối quan hệ giữa dân số, xoá đói giảm nghèo với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

       - Về kĩ năng :

       Hình thành cho học sinh một số kĩ năng đơn giản về giáo dục bảo vệ môi trường như: Kỹ năng quan sát, mô tả, đánh giá, làm việc theo nhóm, giao tiếp, kỹ năng bày tỏ ý kiến, kỹ năng phát hiện những dấu hiệu và nguyên nhân của các sự cố về môi trường. Ví dụ như: Sự ô nhiễm của không khí, nước, cây cối...

       Bên cạnh đó, giáo dục bảo vệ môi trường còn hình thành cho học sinh một số hành vi giữ gìn, chăm sóc và bảo vệ môi trường ở gia đình làng xóm, nơi công cộng. Các em biết nhắc nhở những người xung quanh cùng bỏ rác đúng nơi qui định, biết giữ gìn vệ sinh cá nhân và nơi công cộng, biết tiết kiệm nước, điện tiêu dùng, biết sử dụng và tái chế từ một số sản phẩm đơn giản, biết bảo vệ môi trường, nguồn nước trong sạch.

       - Về thái độ:

       Hình thành cho học sinh tình cảm yêu thiên nhiên như yêu cây cối, hoa lá, động vật, yêu môi trường, có thái độ tích cực và sẵn sàng trong công việc chăm sóc, bảo vệ môi trường, thích hợp tác với cô giáo và bạn bè để tìm hiểu, chăm sóc thiên nhiên.

       Mục tiêu về giáo dục bảo vệ môi trường được kết hợp và thống nhất với mục tiêu của bài dạy, đảm bảo phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh, tránh tách riêng mục tiêu của bài dạy với mục tiêu giáo dục bảo vệ môi trường.

       Để tăng cường hiệu quả của nội dung giáo dục bảo vệ môi trường tôi căn cứ vào mục tiêu của bài dạy lồng ghép để lựa chọn và xác định các phương pháp dạy học, các phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường, các hình thức tổ chức dạy học cần thiết.

       - Một số phương pháp dạy học tích cực thường dùng trong môn Tự nhiên và Xã hội là: Phương pháp thảo luận nhóm - lớp, đóng vai theo tình huống, đàm thoại, giảng giải, quan sát, trò chơi…

       - Một số phương pháp thường dùng trong giáo dục bảo vệ môi trường là: Phương pháp giảng giải, giải thích, minh hoạ, quan sát, trực quan, thảo luận nhóm, tham quan, điều tra, khảo sát…

       - Một số hình thức tổ chức dạy học thường dùng trong môn Tự nhiên và Xã hội là: Dạy theo nhóm, dạy cho cả lớp, dạy ở trên lớp, dạy ở vườn trường (sân trường), dạy thông qua tham quan…

       Trên cơ sở đó, tôi cân nhắc cách phối kết hợp như thế nào để đạt được mục tiêu của bài dạy, đồng thời phù hợp với nội dung của bài, phù hợp với đặc điểm phát triển tâm sinh lý của học sinh lớp 1, tránh tham lam vận dụng nhiều phương pháp dạy học và phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường trong mỗi tiết dạy.

     2. Xây dựng kế hoạch bài dạy lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường

     Để xây dựng được kế hoạch lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường vào bài dạy thì trước hết tôi rà soát tất cả các bài trong môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1 theo chương trình qui định, tìm các bài có nội dung trực tiếp trùng với giáo dục bảo vệ môi trường. Trong 35 bài học ứng với 35 tiết của sách giáo khoa môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, tôi đã thống kê được 19 bài có thể lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường. Cụ thể là:

 

TÊN BÀI

 

NỘI DUNG TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

Bài 8

Ăn uống hàng ngày

Bài 9

Hoạt động và nghỉ ngơi

- Biết mối quan hệ giữa môi trường và sức khoẻ.

- Biết yêu quý, chăm sóc cơ thể của mình.

- Hình thành thói quen giữ vệ sinh thân thể, vệ sinh ăn uống, vệ sinh môi trường xung quanh.

B ài 12

Nhà ở

- Biết nhà là nơi sinh sống của mỗi người.

- Sự cần thiết phải giữ sạch môi trường nhà ở.

- Ý thức giữ gìn nhà cửa sạch sẽ, ngăn nắp, gọn gàng.

Bài 13

Công việc ở nhà

- Biết mọi người trong gia đình đều phải làm tùy theo sức của mình.

- Kể tên các công việc em thường làm để giúp đỡ gia đình.

Bài 14

An toàn khi ở nhà

- Xác định một số vật trong nhà có thể gây nóng, bỏng và cháy (bàn là, phích nước, bếp..).

- Biết số điện thoại báo cứu hỏa (114) để giảm tình trạng cháy, nổ lan rộng.

 

 

 

Bài 17

Giữ gìn lớp học sạch, đẹp

- Biết sự cần thiết phải giữ gìn môi trường lớp học sạch, đẹp.

- Biết các công việc cần phải làm để lớp học sạch, đẹp.

- Có ý thức giữ gìn lớp học sạch sẽ, không vứt rác, vẽ bậy bừa bãi…

- Sắp xếp đồ dùng học tập cá nhân và đồ dùng của lớp gọn gàng, không vẽ lên bàn, lên tường; biết trang trí lớp học.

Bài 18, 19

Cuộc sống xung quanh

- Hiểu biết về cảnh quan thiên nhiên và xã hội xung quanh.

Bài 22,23,24

Cây rau, cây hoa, cây gỗ

  • - Biết được ích lợi của cây rau, cây hoa, cây lấy gỗ trong cuộc sống.

- Có ý thức bảo vệ cây cối: không bẻ cành, ngắt lá, ngắt hoa… để bảo vệ môi trường.

Bài 25

Con cá

  • - Biết có cách đánh cá bằng điện, bằng mìn gây nguy hiểm đến tính mạng và làm ô nhiễm nguồn nước. Giữ vệ sinh môi trường nước (ao, hồ, sông, suối,…).

Bài 26

Con gà

 

 

- Biết giữ gìn vệ sinh chuồng gà để không làm ô nhiễm môi trường.

- Không vứt xác gà bệnh ra ao, hồ, ruộng… làm ô nhiễm môi trường và lây lan dịch bệnh.

 

Bài 27

Con mèo

- Biết lợi ích của việc nuôi mèo (diệt chuột).

- Có ý thức chăm sóc mèo (nếu nhà em nuôi mèo).

Bài 28

Con muỗi

- Biết nơi sống và tác hại của muỗi.

- Có ý thức tham gia diệt trừ muỗi (vệ sinh nhà cửa sạch sẽ, khơi thông cống rãnh, đậy kín bể, chum đựng nước không cho muỗi đẻ trứng...).

 

Bài 29

Nhận biết về cây cối và con vật

- Biết cây cối, con vật là thành phần của môi trường tự nhiên.

- Tìm hiểu một số loài cây quen thuộc và biết lợi ích.

- Phân biệt các con vật có ích và các con vật có hại đối với sức khoẻ con người.

- Yêu thích, chăm sóc cây cối, các con vật nuôi trong nhà.

Bài 30

Trời nắng, trời mưa

Bài 33

Trời nóng, trời rét.

Bài 34

Thời tiết

 

- Thời tiết nắng, mưa, gió, nóng, rét là một yếu tố của môi trường. Sự thay đổi của thời tiết có thể làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người.

- Có ý thức giữ gìn sức khoẻ khi thời tiết thay đổi.

     Khi xác định được những bài học có lồng ghép nội dung giáo dục bảo vệ môi trường. Tôi xác định mục tiêu cần đạt được cả về kiến thức, kĩ năng và thái độ của những bài học đó.

Ví dụ 1: Khi xây dựng kế hoạch dạy Bài 30: Trời nắng, trời mưa

       Tôi xác định mục tiêu có lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường như sau:

       - Kiến thức: Học sinh nhận biết được những dấu hiệu chính của trời nắng và trời mưa. Nắng mưa là những yếu tố của môi trường thiên nhiên. Nắng, mưa có thể ảnh hưởng tới sức khoẻ, cuộc sống con người.

       - Kỹ năng: Sử dụng vốn từ riêng của mình để mô tả bầu trời và những đám mây khi trời nắng, trời mưa.

       - Thái độ: Có ý thức bảo vệ sức khoẻ khi đi dưới trời nắng hoặc trời mưa.

       Trong 19 bài học có nội dung lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường, không phải hoạt động nào trong bài cũng có thể dạy lồng ghép. Do vậy, việc tiếp theo, tôi xác định mục tiêu cụ thể từng hoạt động có lồng ghép nội dung giáo dục bảo vệ môi trường.

Ví dụ 2: Khi xây dựng kế hoạch Bài 29: Nhận biết cây cối và con vật.

       Tôi đã xác định mục tiêu của bài dạy lồng ghép với giáo dục bảo vệ môi trường và mục tiêu của hoạt động 1, 2 như sau:

       Mục tiêu của bài dạy :

        - Kiến thức:

       + Nhớ lại những kiến thức đã học về thực vật và động vật.

       + Biết động vật có có khả năng di chuyển còn thực vật thì không.

       + Biết được những hành động đúng để bảo vệ cây cối và con vật có ích.

- Kĩ năng:

       + Tập so sánh để nhận ra một số điểm giống và khác nhau giữa các cây, giữa các con vật.

       + Học sinh có được những ứng xử, hành động đúng bảo vệ cây cối, con vật.

       - Thái độ:

       + Học sinh yêu quý, bảo vệ cây cối và các con vật có ích.

       + Tuyên truyền cho mọi người có ý thức bảo vệ cây cối, con vật có ích và môi trường.

        - Mục tiêu của từng hoạt động :

       *Hoạt động 1:  Làm việc với các mẫu vật và tranh, ảnh .

       - Mục tiêu:

       + Học sinh ôn lại các cây và các con vật đã học.

       + Nhận biết một số cây và con vật mới.

        + Học sinh có những hiểu biết nhất định về ảnh hưởng của cây cối và con vật đối với sự sống con người.

       * Hoạt động 2: Trò chơi Đố bạn cây gì, con gì?

       - Mục tiêu:

       + Học sinh nhớ lại những đặc điểm chính của các cây và các con vật đã học.

       + Học sinh yêu quý, bảo vệ cây cối và các con vật có ích.

       Sau khi đã xác định rõ mục tiêu của bài dạy cũng như mục tiêu của từng hoạt động thì tôi bắt đầu thiết kế các hoạt động học tập với những phương pháp phù hợp, hình thức tổ chức, phương tiện tiến hành, thời gian thực hiện hợp lí,… để đạt được hiệu quả cao nhất trong bài dạy.

       Ví dụ 3: Khi xây dựng kế hoạch Bài 25: Con cá.

               Tôi lồng ghép nội dung giáo dục bảo vệ môi trường trong phần giới thiệu bài, hoạt động 3 và hoạt động 4.

       Tôi giới thiệu bài với bài thơ: “Rong và cá”. Tôi đưa video có đàn cá bơi lội trong hồ nước trong. Học sinh vừa được nghe đọc thơ, vừa được quan sát con vật xuất hiện trong video, qua đó các em biết bài học hôm nay tìm hiểu về con vật nào.  Học sinh sẽ quan sát và cùng trao đổi với nhau xem: cá bơi được trong môi trường nước như thế nào? Chỉ với 1-2 phút, tôi thấy học sinh không chỉ biết rõ tên bài học mới mà con biết cá bơi được trong hồ nước trong, nơi mà môi trường không bị ô nhiễm. Cách lồng ghép rất đơn giản mà đem lại hiệu quả rõ rệt.

       Khi xây dựng kế hoạch dạy hoạt động 3: Làm việc với sách giáo khoa. Tôi lồng ghép nội dung giáo dục bảo vệ môi trường khi mở rộng các hình thức đánh bắt cá. Tôi sưu tầm hình ảnh đánh bắt cá bằng mìn, bằng điện. Với hình ảnh cá chết nổi trên các mặt ao, hồ, biển…học sinh sẽ thấy được tác hại của 2 hình thức đánh bắt cá và nâng cao ý thức bảo vệ môi trường sống của cá.

       Với hoạt động 4 của bài, tôi dự kiến chuẩn bị giấy vẽ, bút màu để học sinh có thể vẽ con cá mà mình yêu thích. Bằng phương pháp quan sát con cá có đầy đủ các bộ phận chính bên ngoài và cùng thảo luận với người bạn cùng bàn, học sinh sẽ vẽ và tô màu. Khi kết thúc thời gian hoạt động, học sinh lên giới thiệu về bức tranh của mình cho cả lớp quan sát và nhận xét. Bức tranh nào có vẽ con cá đầy đủ các bộ phận chính bên ngoài và có thêm rong, rêu,… được chọn giới thiệu trước lớp. Tôi sẽ giảng giải cho học sinh biết bức tranh được giới thiệu đã thể hiện rất tốt kiến thức được học và biết bảo vệ môi trường sống của cá. Học sinh sẽ hiểu rõ rằng nhờ môi trường nước trong sạch, không có rác thải hay bị ô nhiễm nên cá mới tự do bơi lội và qua đó nâng cao ý thức bảo vệ và giữ sạch môi trường sống của cá.

     3. Thực hiện dạy lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường vào bài dạy môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1

     Sau khi xây dựng được kế hoạch bài dạy lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường, tôi thực hiện dạy lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường vào bài dạy môn Tự nhiên và Xã hội. Tôi chú ý phát huy khả năng hợp tác, tính tích cực, chủ động, sáng tạo nhận thức và hành động của học sinh. Trong tiết dạy lồng ghép, học sinh được bày tỏ ý kiến, thái độ, hành động thử nghiệm theo tình huống cụ thể mà giáo viên đưa ra. Trong lớp, học sinh được phối hợp, làm việc cùng nhau, giáo viên ít giảng giải, thuyết trình. Tôi thực hiện dạy lồng ghép ở những hoạt động khác nhau: giới thiệu bài, các hoạt động chính, liên hệ, mở rộng của các bài học.

     3.1. Lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường ở Hoạt động khởi động (giới thiệu bài)

       Đây là hoạt động đầu tiên của bài học mới. Với hình thức thông qua 1 trò chơi, bài thơ, bài hát,… có lồng nội dung giáo dục bảo vệ môi trường để khởi động dễ gây hứng thú cho học sinh lớp 1 và các em hiểu bài học hôm nay là gì một cách dễ dàng, nhanh chóng nhất.

Ví dụ 1: Khi dạy Bài 28: Con muỗi

       Để giới thiệu bài học mới thông qua trò chơi vui, tôi hướng dẫn cách chơi, vừa nói vừa làm các động tác và hướng dẫn học sinh làm theo:

        + Khi nói: “Muỗi bay, muỗi bay”, hai bàn tay giơ lên vẫy vẫy. Học sinh hô: “Vo ve, vo ve”.

        + Khi nói: “Muỗi đậu vào tay em”, học sinh nhìn xuống tay mình đập nhẹ một cái.

       + Tương tự như vậy, tôi cho học sinh chơi vài lần nhưng thay đổi vị trí đậu của con muỗi để cho trò chơi vui vẻ.

       - Hướng dẫn luật chơi:

       + Tôi sẽ vừa nói vừa làm các động tác.

       + Lúc đầu làm đúng, về sau làm sai.

       + Học sinh có nhiệm vụ làm đúng các động tác.

       + Nếu học sinh nào thực hiện sai sẽ bị thua.

       - Cho học sinh chơi thử.

       - Cho học sinh chơi thật một số lần, sau mỗi lần “bắt” một số em làm sai. Những em làm sai sẽ bị “phạt” đứng trước cả lớp hát một bài.

        Qua trò chơi khởi động đó, tôi đặt ra các câu hỏi: Các con vừa chơi trò chơi đó có vui không? Sau trò chơi, bạn nào bắt được nhiều muỗi nhất? Vì sao chúng ta cần diệt trừ muỗi? Thông qua các câu trả lời của học sinh, tôi giới thiệu bài mới: Bài học hôm nay, cô trò mình sẽ cùng nhau tìm hiểu về con muỗi và tại sao khi trông thấy muỗi người ta lại diệt trừ muỗi.

      Qua hoạt động khởi động trên, trong thời gian ngắn nhưng học sinh đã cảm thấy hứng thú với giờ học và có ý thức tham gia diệt muỗi.

Ví dụ 2: Khi dạy Bài 25: Con cá.

       - Khi giới thiệu bài, tôi sử dụng đoạn video cá bơi trong hồ nước trong.

        - Tôi yêu cầu học sinh vừa lắng nghe bài thơ, vừa quan sát video cá đang bơi.

 

       - Tôi đọc bài thơ theo hiệu ứng của video để học sinh dễ theo dõi:

Rong và cá

                        Có cô rong xinh                              Một đàn cá nhỏ

                        Đẹp như tơ nhuộm                          Đuôi đỏ lụa hồng

                        Giữa hồ nước trong                          Quanh cô rong xinh

                       Nhẹ nhàng uốn lượn.                       Múa làm văn công.

       - Tôi đưa câu hỏi:

+ Bài thơ trên nhắc đến con vật nào? (Bài thơ nhắc đến con cá.)

+ Con cá sống ở đâu? (Con cá sống ở dưới nước.)

+ Trong bài thơ, đàn cá bơi xung quanh cây gì? (Đàn cá bơi xung quanh cây rong.)

       - Qua những câu trả lời của học sinh, tôi giới thiệu bài: Bài thơ trên đã nhắc đến con cá. Chúng ta cùng học Bài 25 để tìm hiểu con cá có những bộ phận chính bên ngoài nào và những lợi ích mà con vật này mang lại.

     Qua việc lồng ghép việc giáo dục học sinh có ý thức bảo vệ môi trường trong bài dạy Tự nhiên và Xã hội ở ngay phần khởi động (giới thiệu bài mới) bằng những trò chơi, bài thơ, bài hát…tôi thấy giáo viên ít phải thuyết trình mà học sinh hứng thú, tập trung, tích cực học với hiệu quả cao. Tôi tin rằng, với cách giới thiệu bài ngắn gọn, vui vẻ, thoải mải trên học sinh đã có ý thức giữ gìn và bảo vệ môi trường.

     3.2. Lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường ở các hoạt động chính của bài họ c

     Đây là phần quan trọng, chiếm phần lớn thời gian bài học và cần giáo viên có những hoạt động hợp lí và thực sự phù hợp với đối tượng học sinh của lớp. Việc làm này là thử thách đối với mỗi giáo viên khi dạy lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường vào từng hoạt động của bài.

Ví dụ 1: Khi dạy Bài 13: Công việc ở nhà

       Ở hoạt động 1, tôi đã áp dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học như sau:   

Hoạt động 1: Quan sát tranh

Bước 1: Tôi yêu cầu học sinh quan sát hình ở trang 28 trong SGK theo nhóm và nói

về nội dung từng hình.

 Bước 2: Gọi 2 - 3 nhóm trình bày.

- Tranh 1: Bạn nhỏ lau bàn ghế.

 

Bước 2: Gọi 2 - 3 nhóm trình bày.

      - Tranh 1: Bé lau bàn ghế

      - Tranh 2: Bố dạy con học bài.

- Tranh 3: Bạn nhỏ sắp xếp tủ đồ chơi.

- Tranh 4: Mẹ và con gái gấp quần áo.

Các nhóm khác nhận xét, bổ sung.

Bước 3 : Tôi yêu cầu học sinh thảo luận nhóm các câu hỏi trong sách giáo khoa.  

      - Kể tên một số công việc ở nhà của những người trong gia đình bạn?

      - Ở nhà, bạn làm gì để giúp bố m ẹ?

Bước 4 : Một số nhóm trình bày, nhóm khác bổ sung.

      - Những công việc ở nhà của ông, bà, bố, mẹ :

       - Những việc làm mà em thường  giúp ông bà, bố mẹ ở nhà:

       - Em có thể làm rất nhiều việc phù hợp với lứa tuổi của mình như: phụ bà tách hạt ngô, quét nhà, dọn bát đũa ăn cơm hay có bạn còn rửa được bát….

      Tôi nhấn mạnh: Những việc làm đó vừa giúp cho nhà cửa sạch sẽ, gọn gàng, vừa thể hiện sự quan tâm, gắn bó của những người trong gia đình với nhau.

Sau khi phân tích xong tôi kết luận:

       Nếu mỗi thành viên trong gia đình đều có ý thức trách nhiệm thì nhà cửa sẽ sạch sẽ hơn, ngăn nắp, gọn gàng hơn góp phần tạo nên môi trường trong sạch hơn.

        Với cách phối hợp các phương pháp dạy học, phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường và hình thức tổ chức dạy học như vậy thì tôi thấy học sinh không những biết được những hành vi đúng và hành vi sai trong việc giúp đỡ bố mẹ các công việc vừa sức trong gia đình tạo ra môi trường sống tốt mà còn phát huy được tính tích cực, chủ động trong học tập của các em.

Ví dụ 2 : Khi dạy Bài 18, 19: Cuộc sống xung quanh

        Bài này gồm 3 hoạt động nhưng trong đó chỉ có hoạt động 3 của bài là có nội dung lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường. Tôi thiết kế hoạt động 3 của bài như sau:

Hoạt động 3: Làm việc theo nhóm.

       Mục tiêu: Giúp học sinh:

       - Nhận ra được cuộc sống ở nông thôn và thành thị thông qua 2 bức tranh.

       - Có ý thức giữ cho môi trường công cộng và nơi mình ở sạch đẹp.

       Cách tiến hành:

       Bước 1: Học sinh thảo luận nhóm 3 với nhau theo các câu hỏi gợi ý:

- Chỉ vào 2 bức tranh và nói về những gì em nhìn thấy trong tranh?

- Chúng ta phải làm gì để giữ cho bầu không khí ở nơi công cộng cũng như ở nơi ta ở được trong lành ?

Bước 2:

- Đại diện các nhóm lên trình bày kết quả của nhóm mình.

- Học sinh bổ sung, hoàn thiện phần trình bày của các nhóm.

     Tôi kết luận: Bức tranh ở Bài 18 vẽ về cuộc sống ở nông thôn, bức tranh ở Bài 19 vẽ về cuộc sống ở thành thị. Dù sống ở nông thôn hay thành thị, muốn cho môi trường xanh, sạch và đẹp chúng ta phải trồng, chăm sóc và bảo vệ cây xanh; vứt, đổ rác đúng nơi qui định; giữ vệ sinh môi trường xung quanh…Với phương pháp quan sát và giảng giải trên, tôi thấy học sinh đã hình thành và có ý thức giữ cho môi trường trong lành hơn rất nhiều.

     3. 3 . Lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường ở Hoạt động mở rộng

     Đây là hoạt động mở rộng cho đối tượng học sinh có khả năng vận dụng kiến thức vào liên hệ thực tế. Có thể nói, để mở rộng kiến thức bài học sao cho không vượt quá nhận thức của học sinh lớp 1 mà vẫn gần gũi, gắn bó với các em và gia đình trong cuộc sống hằng ngày là điều khiến giáo viên phài tìm tòi, nghiên cứu kĩ nội dung bài học.

Ví d : Khi dạy Bài 25: Con cá

       Tôi dạy lồng ghép nội dung bảo vệ môi trường ở hoạt động 3 (mở rộng).

       Hoạt động 3: Làm việc với sách giáo khoa

       Mục tiêu:

       - Học sinh biết đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi dựa trên các hình ảnh trong SGK.

       - Biết một số cách đánh bắt cá.

       - Biết ăn cá có lợi cho sức khỏe.

       Cách tiến hành:

       Bước 1:

       - Tôi hướng dẫn học sinh (theo cặp) quan sát tranh trong SGK và trả lời các câu hỏi trong bài.

       - Tôi giúp đỡ và kiểm tra hoạt động của học sinh. Đảm bào các em thay nhau hỏi và trả lời các câu hỏi trong SGK. Tôi sử dụng các câu hỏi phụ gợi ý học sinh:

       + Cá có những lợi ích gì?

       + Học sinh trả lời: Cá được dùng làm thức ăn, làm nước mắm, diệt bọ gậy, làm cảnh, làm xiếc, làm thuốc, đồ dùng...

       - Tôi chốt nội dung kiến thức và mở rộng thêm lợi ích của cá còn được dùng để

diệt bọ gậy làm môi trường trong sạch hơn.

       - Tôi nhắc lại việc ăn cá trong bữa ăn hàng ngày là rất tốt (vì thịt, cá có rất nhiều chất đạm), giúp cơ thể mau lớn, khỏe mạnh. Động viên, khen ngợi học sinh tích cực ăn cá. (Trong bữa ăn hàng ngày hay trong bữa ăn bán trú).

       Bước 2:

       - Tôi đưa câu hỏi: Kể tên một số cách đánh bắt cá mà em biết?

       - Học sinh nêu các cách đánh bắt cá: câu cá, kéo lưới, quăng chài, úp nơm...

       - Tôi lồng ghép giáo dục học sinh: Một số nơi vẫn còn cách đánh cá bằng điện, bằng mìn, gây ô nhiễm môi trường. Việc làm này sẽ được hạn chế khi các con lớn lên sẽ trở thành những tuyên truyền viên, vận động người dân không sử dụng hình thức đánh bắt cá này.

       Ngoài ra, tôi còn nhắc nhở học sinh, đặc biệt là những học sinh mà gia đình có ao nuôi cá. Không vứt túi ni lông, rác thải, xác động chết, vỏ thuốc trừ sâu, xuống ao để bảo vệ môi trường sống của cá. Nhắc nhở bố mẹ, người thân thường xuyên nhặt rác, vệ sinh sạch sẽ để không làm ô nhiễm môi trường sống của cá.

     3. 4 . Lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường ở Hoạt động liên hệ thực tế

     Đây là hoạt động giúp học sinh khắc sâu kiến thức và vận dụng kiến thức mình học được vào trong cuộc sống hiện tại. Khi dạy tốt hoạt động này, giáo viên đã gần đạt được thành công trong giờ dạy. Đặc biệt, khi lồng ghép giáo dục môi trường cho học sinh lớp 1 vào trong hoạt động này, ngoài việc xác định mục tiêu của hoạt động, phương pháp, hình thức tổ chức, giáo viên cần nắm được nơi ở, hoàn cảnh gia đình, sở thích cá nhân,… của học sinh để việc liên hệ thực tế đem lại hiệu quả cao.

Ví dụ 1: Khi dạy Bài 25: Con cá

      Tôi lồng ghép nội dung giáo dục bảo vệ môi trường ở hoạt động 4.

      Hoạt động 4: Vẽ tranh con cá

      Mục tiêu:

      -  Học sinh biết vẽ tranh các con cá mà mình biết.

 -  Biết các bộ phận chính bên ngoài của con cá mà mình vẽ.

 -  Biết bảo vệ môi trường sống của cá.

       Cách tiến hành:

      Bước 1:

      - Học sinh quan sát tranh trong SGK và tranh ảnh mà các em mang đến lớp. Gọi tên và nêu nơi sống của các con cá đó.

      - Tôi giúp đỡ và kiểm tra hoạt động của học sinh. Đảm bảo các em biết tên gọi và nơi sống của con cá mình định vẽ. Tôi sử dụng các câu hỏi phụ gợi ý học sinh:

      + Con sẽ vẽ con cá nào? Nó sống ở đâu? (Cá vàng sống ở ao, hồ, sông, suối,…)

      + Con vẽ con cá có những bộ phận chính bên ngoài nào? (Cá gồm đầu, mình, đuôi, các vây).

      Bước 2:

      - Tôi yêu cầu học sinh lấy giấy vẽ, bút màu rồi vẽ.

      - Lưu ý học sinh vẽ đầy đủ các bộ phận chính bên ngoài của cá. Khuyến khích học sinh vẽ thêm rong, rêu, ốc….

      - Tôi đi quan sát, hướng dẫn, giúp đỡ học sinh còn lúng túng.

     Bước 3:

      - Học sinh lên tự giới thiệu tranh mình vẽ.

- Tôi yêu cầu học sinh nhận xét các bức tranh.

- Sau đó, tôi yêu cầu học sinh nhận xét 3 bức tranh ở 3 mức độ khác nhau:

      + Tranh vẽ cá chưa đầy đủ các bộ phận chính bên ngoài.

      + Tranh vẽ cá đầy đủ các bộ phận bên ngoài của cá.

      + Tranh vẽ cá đầy đủ các bộ phận bên chính bên ngoài và có thêm rong, rêu, ốc,… rất sinh động.

      - Tiếp theo, tôi sẽ đóng vai phóng viên phỏng vấn học sinh đã vẽ đầy đủ các bộ phận bên ngoài của cá và có thêm cả rong, rêu,…làm bức tranh rất sinh động.

      + Con đã vẽ những bộ phận chính bên ngoài nào? (Đầu, mình, đuôi, các vây).

      + Tại sao con vẽ thêm rong, rêu…? (Cá sống cùng rong, rêu,…).

      + Con vẽ cá ở dưới ao, con sẽ làm gì để môi trường sống của cá trong sạch?   (Không vứt rác, vỏ thuốc trừ sâu,…xuống ao cá).

      Qua những câu trả lời của học sinh, tôi vừa củng cố kiến thức cho học sinh những bộ phận chính bên ngoài của cá (đầu, mình, đuôi, vây). Đồng thời tôi đã lồng ghép giáo dục học sinh biết bảo vệ, giữ gìn môi trường sống của cá (ao, hồ, sông, suối,…) là không vứt rác, ném xác động vật chết,… xuống ao. Chỉ trong thời gian ngắn (5 - 7 phút), học sinh không chỉ tham gia hoạt động để củng cố kiến thức mà còn biết bảo vệ môi trường sống của cá. Kiến thức sẽ được khắc sâu và giúp các em vận dụng vào thực tế trong cuộc sống hàng ngày. Đối với những gia đình bạn nào có ao nuôi cá, học sinh ý thức giữ gìn, bảo vệ môi trường sống của cá được thể hiện rõ ràng hơn cả.

Ví dụ 2: Khi dạy Bài 13: Công việc ở nhà

      Hoạt động 3: Quan sát hình để liên hệ bản thân.

      Mục tiêu:

      Học sinh hiểu điều gì sẽ xảy ra khi trong nhà không có ai quan tâm dọn dẹp.

Cách tiến hành:

Bước 1: - Tôi hướng dẫn học sinh quan sát các hình ở trang 29 - sách giáo khoa và trả lời các câu hỏi:

      + Hãy tìm ra những điểm giống và khác nhau của hai hình?

      + Nói xem con thích căn phòng nào? Tại sao?

      + Để có được nhà cửa gọn gàng, sạch sẽ con phải làm gì giúp bố mẹ?

       - Học sinh làm việc theo nhóm 2, tôi khuyến khích học sinh đưa ra nhiều ý kiến giải thích về căn phòng bừa bộn (mẹ đi vắng, mẹ bận,…) và lí do để giải thích về căn phòng gọn gàng ngăn nắp (mấy bố con cùng dọn,…).

Bước 2: Đại diện các nhóm lên trình bày.

       - Tôi kết luận: Nếu mỗi người trong nhà đều quan tâm đến việc dọn dẹp nhà cửa, nhà ở sẽ gọn gàng, ngăn nắp.

        - Tôi yêu cầu học sinh liên hệ: Ngoài giờ học, để có được nhà ở gọn gàng sạch sẽ, con sẽ làm gì để giúp đỡ bố mẹ?

- Học sinh suy nghĩ, trả lời những việc làm tùy theo sức của mình.

        - Sau đó, tôi cho học sinh tập trang trí, sắp xếp góc học tập theo nhóm. Hết giờ, tôi dặn học sinh về nhà sắp xếp và trang trí góc học tập của mình. Bạn nào làm tốt sẽ mời cô và các bạn đến thăm.

      Thông qua hoạt động liên hệ thực tế của học sinh, tôi đã dạy lồng ghép được việc giáo dục học sinh ý thức biết bảo vệ môi trường một cách sâu sắc và triệt để nhất. Học sinh học và thực hành gắn với thực tế như vậy là đem lại hiệu quả cao cho tiết học.

     3.5. Kế hoạch một bài dạy Tự nhiên và Xã hội lớp 1 lồng ghép với giáo dục bảo vệ môi trường

     Qua quá trình giảng dạy và vận dung, tôi thấy việc lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1 là rất cần thiết và quan trọng, các em sẽ cảm thấy rất thoải mái và hứng thú khi tham gia vào việc chăm sóc và bảo vệ môi trường, làm cho các em yêu thích môn học hơn. Tuy nhiên, có bài học được lồng ghép vào 1, 2 hay 3 hoạt động. Nhưng cũng có bài được lồng ghép xuyên suốt trong từng hoạt động. Vậy lồng ghép như thế nào để có hiệu quả, tôi xin nêu một vài ví dụ về một giờ dạy Tự nhiên và Xã hội mà tôi đã áp dụng lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường:

BÀI 17: GIỮ GÌN LỚP HỌC SẠCH, ĐẸP

I/ Mục tiêu

* Kiến thức:

        - Học sinh nhận biết được thế nào là lớp học sạch, đẹp.

        - Học sinh biết tác dụng của việc giữ lớp học sạch, đẹp đối với sức khỏe và học tập.

* Kĩ năng:

- Học sinh biết làm một số công việc đơn giản để giữ lớp học sạch, đẹp như: lau bảng, bàn, quét lớp, trang trí lớp học.

* Thái độ:

- Học sinh có ý thức giữ lớp học sạch, đẹp và sẵn sàng tham gia vào những hoạt động làm cho lớp học của mình sạch, đẹp.

II/ Đồ dùng dạy học:

- Tranh, ảnh, sách giáo khoa.

- Một số đồ dùng và dụng cụ: chổi có cán, khẩu trang, khăn lau, hót rác, kéo, bút màu…

III/ Hoạt động dạy - học:

  1. Kiểm tra bài cũ. (4 phút).

- Cả lớp hát 1 bài.

- Phần kiểm tra bài cũ:

+ Con kể tên hoạt động được tổ chức ở trong lớp?

+ Hoạt động nào được tổ chức ngoài sân trường?

  Tôi nhận xét các câu trả lời và chốt nội dung kiến thức: Có nhiều hoạt động học tập khác nhau được tổ chức ở lớp học. Trong đó có những hoạt động được tổ chức trong lớp và có những hoạt động được tổ chức ở sân trường.

      Tôi mở rộng: Các con phải biết hợp tác, giúp đỡ và chia sẻ với các bạn trong các hoạt động học tập ở lớp.

  1. Bài mới .
    1. Giới thiệu bài (2 phút)

      Bài học mới  bắt đầu thông qua trò chơi : “Hãy làm theo lời tôi nói”.

      Tôi hướng dẫn cách chơi, vừa nói vừa làm các động tác và hướng dẫn học sinh làm theo:

      + Khi nói: “Hãy giơ tay lên cao”, hai bàn tay giơ lên trên đầu vẫy vẫy .

+ Khi nói: “Hãy bỏ rác vào thùng rác”, học sinh nhìn xuống chân mình xem có giấy rác không rồi nhặt bỏ vào thùng.

+ Khi nói: “Sắp xếp sách, vở gọn gàng”, học sinh nhanh tay sắp xếp lại sách, vở, hộp bút gọn gàng.

 + Khi nói “Hãy ngồi ngay ngắn”, học sinh khoanh tay ngồi ngay ngắn.

- Hướng dẫn luật chơi:

      + Tôi sẽ vừa nói vừa làm các động tác.

      + Lúc đầu làm đúng, về sau làm sai.

      + Học sinh có nhiệm vụ làm đúng các động tác.

      + Nếu học sinh nào thực hiện sai sẽ bị thua.

- Cho học sinh chơi thử.

- Cho học sinh chơi thật một số lần, sau mỗi lần “bắt” một số em làm sai. Những em làm sai sẽ bị “phạt” đứng trước cả lớp hát một bài.

      Qua trò chơi khởi động đó, tôi hỏi học sinh: Các con vừa chơi trò chơi đó có vui không? Sau trò chơi, cả lớp cùng nhìn lại lớp học, chỗ ngồi của mình đã sạch sẽ, gọn gàng chưa? Khi học ở lớp học sạch sẽ, gọn gàng con cảm thấy thế nào? Thông qua các câu trả lời của học sinh, tôi giới thiệu bài mới để học sinh nắm bài nhanh hơn.

2.2. Hoạt động 1: Làm việc theo nhóm 2 . (8 phút)

Mục tiêu:

- Học sinh biết giữ lớp học sạch, đẹp.

Cách tiến hành:

Bước 1 :

- Tôi hướng dẫn học sinh quan sát tranh ở trang 36 sách giáo khoa và trả lời với bạn câu hỏi sau:

+ Trong bức tranh thứ nhất, các bạn đang làm gì? Sử dụng dụng cụ gì?

+ Trong bức tranh thứ hai, các bạn đang làm gì? Sử dụng dụng cụ gì?

- Học sinh làm việc theo hướng dẫn.

      Bước 2: Tôi mời đại diện 1 số nhóm trả lời câu hỏi trước lớp.

      - Học sinh trả lời:

      + Trong bức tranh thứ nhất, các bạn đang lau bàn ghế, quét lớp và kê lại bàn ghế cho ngay ngắn. Các bạn dùng khăn để lau bàn, chổi để quét.

      + Trong bức tranh thứ hai, các bạn đang trang trí lớp học cho đẹp. Các bạn sử dụng giấy màu, bút màu, kéo,… để trang trí lớp cho đẹp hơn.

      Bước 3: Tôi chốt và chỉ vào tranh: Hai bức tranh đều cho thấy các bạn nhỏ đang vệ sinh, trang trí lớp học để lớp học sạch sẽ và đẹp hơn.

      Qua hoạt động trên, tôi nhận thấy học sinh đã biết giữ lớp học sạch, đẹp hơn rất nhiều.

2.3. Hoạt động 2: Làm việc với sách giáo khoa (8 phút)

      Mục tiêu:

- Học sinh biết nhận biết thế nào là lớp học sạch, đẹp.

- Tác dụng của việc giữ lớp học sạch, đẹp đối với sức khỏe và học tập.

      Cách tiến hành:

      - Tôi yêu cầu học sinh trả lới các câu hỏi:

      + Lớp học của con đã sạch và đẹp chưa?

      + Lớp con có những góc tranh trí như trong tranh trang 37 sách giáo khoa không?

      + Bàn ghế trong lớp đã được kê ngay ngắn chưa?

      + Con có viết, vẽ bẩn lên bàn, ghế, bảng, tường không?   

      + Con có vứt rác, khạc nhổ bừa bài ra lớp không?

      + Con nên làm gì để giữ cho lớp sạch, đẹp?

      - Tôi gợi ý cho học sinh trả lời và liên hệ với học sinh trong lớp:

      + Giờ ra chơi, con thấy rác ở lớp, con sẽ làm gì?

      + Khi thấy có bạn vẽ bút màu lên tường, vào bàn học, con sẽ làm thế nào?

       - Thông qua các câu trả lời của học sinh, tôi kết luận: Để lớp học sạch, đẹp mỗi học sinh phải luôn có ý thức giữ lớp học sạch, đẹp và tham gia những hoạt động làm cho lớp học của mình sạch, đẹp. Kết thúc hoạt động quan sát tranh và làm việc theo nhóm, tôi thấy ý thức giữ gìn lớp học sạch, đẹp hơn của học sinh được nâng cao hơn.

* Nghỉ giải lao giữa giờ: Cả lớp hát bài: “Em yêu trường em”.

2.4. Hoạt động 3: Quan sát tranh và thực hành theo nhóm (10 phút)

      Mục tiêu: Học sinh biết cách sử dụng một số dụng cụ (đồ dùng) để làm vệ sinh lớp học.

      Chuẩn bị: Một số đồ dùng và dụng cụ như: chổi có cán, khẩu trang, khăn lau, hót rác, kéo, bút màu, giấy vẽ…

      Cách tiến hành:

      Bước 1:

- Tôi chia lớp thành các nhóm 4, phát cho mỗi nhóm 1 dụng cụ (đồ dùng) kết hợp quan sát tranh trong sách giáo khoa.

Bước 2:

- Mỗi tổ sẽ thảo luận các câu hỏi gợi ý sau :

+ Những dụng cụ (đồ dùng) này được dùng để làm gì?

+ Cách sử dụng từng loại như thế nào?

* Nhóm nào chưa biết, tôi sẽ hướng dẫn cách sử dụng.

Bước 3:

- Đại diện các nhóm lên trình bày và thực hành.

+ Tôi gọi học sinh nhận xét.

Tôi kết luận: Phải biết sử dụng dụng cụ (đồ dùng) hợp lí, có như vậy mới đảm bảo an toàn và giữ vệ sinh cơ thể.

Tôi liên hệ vào thực tế của lớp học: kê lại những bàn ghế chưa ngay ngắn, lau bàn ghế, bảng sạch sẽ, nhặt giấy rác, vẽ tranh trang trí góc hoa điểm tốt. Kịp thời khen ngợi những học sinh thực hiện tốt và nhắc nhở những học sinh chưa thực hiện đúng.

Tôi tổng kết bài học: Lớp học sạch, đẹp sẽ giúp các em khỏe mạnh và học tập tốt hơn. Vì vậy, phải luôn có ý thức giữ cho lớp học sạch, đẹp.

Qua hoạt động này, học sinh rất hứng thú khi tham gia, muốn được tự tay mình cầm chổi quét và trang trí lớp học đẹp hơn. Thể hiện rõ kĩ năng bảo vệ môi trường của học sinh.

3. Củng c - dặn dò: (3 phút)

      - Tôi củng cố bài học bằng trò chơi vui: “Nên và không nên”.

      - Tôi đưa ra các tình huống, học sinh nêu ý kiến nên làm hay không nên làm.

     + Vứt rác, khạc nhổ bừa bãi trong lớp học. (Không nên)

     + Viết, vẽ bậy lên bàn, lên tường.(Không nên)

     + Nhặt rác bỏ vào thùng rác đúng nơi quy định. (Nên)

     + Lau bảng đen, bàn học sạch sẽ. (Nên)

      - Tôi nhận xét giờ học.

- Nhắc nhở học sinh ôn bài và chuẩn bị bài mới: Bài 18: Cuộc sống xung quanh.

Thông qua 1 tiết dạy có lồng ghép nội dung giáo dục bảo vệ môi trường, tôi thấy rõ được hiệu quả mà tiết dạy đem lại là học sinh không chỉ nắm được kiến thức cơ bản mà các em còn có được kiến thức, kĩ năng, ý thức biết bảo vệ môi trường.

                        Bài 22: Cây rau

I. Mục tiêu

- Kể được tên và nêu ích lợi của một số cây rau.

- Chỉ được rễ, thân, lá, hoa của cây rau.

- HS khá - giỏi: Kể tên các loại rau ăn lá, rau ăn thân, rau ăn củ, rau ăn quả, rau ăn hoa...

II- Đồ dùng dạy học:

-  Bài giảng điện tử; các loại cây rau.

III- H oạt động dạy chủ yếu:

TG

ND các hoạt

động dạy học

Hoạt động của GV

Hoạt động của HS

Đồ dùng

1’

I. ÔĐTC

- Y/c học sinh hát 1 bài

- HS hát.

 

 

II- BÀI MỚI:

 

 

 

1’

1- Giới thiệu bài

- Giáo viên giới thiệu chủ đề mới:

Chủ đề tự nhiên

- GV giới thiệu bài: Bài 22: Cây rau

=> GV viết bảng

 

 

- HS lắng nghe

- 1 HS nhắc lại

 

 

Slide 2

 

3’

2. Dạy bài mới:

 

* GV y/c HS đặt cây rau HS đã chuẩn bị trước lên bàn.

- GV đưa ra cây rau cải ngọt và hỏi:

+ Đây là cây gì ?

+ Nó được trồng ở đâu?

- GV cho HS giới thiệu cây rau của HS: Là cây rau gì? Được trồng ở đâu?

- GV: Vậy cây rau thường được trồng ở đâu?

=> GV chốt:

+ Rau trồng ở vườn, ở ruộng, trong nhà kính.

+ Còn có những cây rau sống được ở dưới nước như rau muống, rau dút...

+ Ngoài ra rau còn được trồng trong hộp xốp, chậu cảnh của một số gia đình trong thành phố.

 

- HS làm việc

 

 

 

- HS trả lời

- HS trả lời

- 5 HS lên giới thiệu.

 

-HS nêu: trồng trong vườn, ngoài ruộng.

 

- HS lắng nghe

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Slide 3,4,5,6

 

 

 

 

13’

Hoạt động 1: Quan sát cây rau

- GV quan sát cây rau và thảo luận nhóm 4 trả lời các câu hỏi sau:

+ Hãy chỉ và nói rễ, thân, lá của cây rau?

+ Kể tên những bộ phận ăn được của cây rau đó.

- GV gọi đại diện các nhóm lên trình bày.

- Qua tìm hiểu các bộ phận của cây rau, vậy:

+ Các cây rau có điểm gì giống nhau?

+ Cây rau thường có những bộ phận nào?

=> GV chốt :

+ Có rất nhiều loại cây rau.

+ Cây rau gồm các bộ phận chính: rễ, thân, lá. Ngoài ra cây rau còn có thêm hoa, quả.

- GV cho HS chơi trò chơi:

“Ai nhanh hơn”.

+ GV phổ biến luật chơi

+ GV chiếu h/ả một số loại rau.

 

- GV tổng kết cuộc chơi, phân định tổ chiến thắng.

=> GV giới thiệu:

+ Rau ăn lá: cải bắp, xà lách...

+ Rau ăn thân: su hào...

+ Rau ăn thân & lá: rau muống, rau cải, hành...

+ Rau ăn rễ: cà rốt, củ cải...

+ Rau ăn hoa: súp lơ, thiên lí...

+ Rau ăn quả: dưa chuột, cà chua, bí...

 

 

- 1 HS đọc câu hỏi

- Các nhóm thảo luận

 

 

- 5 nhóm trình bày. Các nhóm khác nhận xét, bổ sung.

- HS trả lời.

 

- HS trả lời.

 

- HS lắng nghe

 

 

 

 

- HS lắng nghe

- HS quan sát tranh và nêu tên các loại rau. Tổ nào có câu trả lời sẽ dùng trống phát tín hiệu.

- HS lắng nghe

 

 

Slide 7

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Slide 8

 

 

 

 

Slide  9->18

 

 

 

 

 

 

 

 

Slide  19->24

 

3’

NGHỈ GIỮA GIỜ

- GV cho HS nghỉ giải lao

- HS hát, múa, chơi trò chơi.

Slide 25

7’

Hoạt động 2:

Làm việc với SGK

- Y/c HS quan sát SGK trang 46 - 47.

- Y/c HS thảo luận nhóm đôi trả lời câu hỏi:

+ Kể tên các loại rau có trong bài.

- GV gọi đại diện các nhóm trình bày.

- GV: + Ngoài những loại rau có trong bài, con còn biết thêm loại rau gì?

  + Con thích ăn rau gì?

- GV: ăn rau có lợi như thế nào? 

- GV: Trước khi dùng rau làm thức ăn ta phải làm gì?

=> GV chốt:

+ Ăn rau có lợi cho sức khoẻ, cung cấp vitamin, tránh táo bón, chảy máy chân răng...

+ Rau được trồng ở vườn, ruộng nên dính nhiều bụi bẩn và còn có thể có nhiều chất bẩn, chất độc do nước tưới, thuốc trừ sâu, phân bón...

Vì vậy phải rửa sạch rau trước khi ăn và phải tăng cường trồng rau sạch, lựa chọn rau sạch để mua.

 

 

- HS thảo luận nhóm

 

 

- HS trình bày.

 

- HS nêu.

 

 

- HS nêu.

- HS trả lời.

 

- HS trả lời.

 

- HS lắng nghe.

 

 

 

 

 

 

Slide 26

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Slide 27

 

5’

Hoạt động 3:

Trò chơi: “Đố bạn rau gì ?”

- GV phổ biến luật chơi.

 

- Đánh giá: Đội nào đoán đúng tên các loại rau, đội đó thắng.

- Mỗi tổ đại diện 1 HS chơi.

Slide 28

2’

III.  DẶN DÒ

- GV nhận xét tiết học.

- Nhắc HS:

+ Chuẩn bị bài sau: Cây hoa

+ Sau tiết học vệ sinh tay sạch sẽ.

 

 

     4. Phối hợp với giáo viên Tổng phụ trách, cha mẹ học sinh giáo dục học sinh ý thức bảo vệ môi trường.

      Do đặc điểm lứa tuổi học sinh lớp 1 khác với những lớp học khác nên việc giáo dục học sinh có kiến thức, kĩ năng, ý thức bảo vệ môi trường phải thường xuyên, có sự phối kết hợp giữa giáo viên với gia đình và nơi các em sinh sống. Do đó, tôi đã phối hợp với giáo viên Tổng phụ trách, cha mẹ học sinh cùng giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh.

     4.1. Phối hợp với giáo viên Tổng phụ trách tổ chức các buổi lao động vệ sinh trường lớp giúp hình thành kĩ năng bảo vệ môi trường .

      Là giáo viên chủ nhiệm, tôi nhận thấy ngoài việc giáo dục cho học sinh ý thức bảo vệ môi trường trong các bài dạy thôi là chưa đủ. Do đó, để tăng hiệu quả của giờ dạy mà tôi đã áp dụng lồng ghép giáo dục học sinh bảo vệ môi trường, tôi đã phối hợp với cô giáo Tổng phụ trách trong trường cùng tôi thực hiện giáo dục học sinh.

     Vào những buổi sáng thứ 2, 4, 6, trừ trường hợp do điều kiện thời tiết không cho phép (mưa, bão…), ở trường luôn có phong trào “5 phút sạch trường”. Tùy vào từng khối lớp mà công việc của các con cũng khác nhau. Lớp 1 có thể nhặt lá trước của lớp, ở trong công trình măng non, lớp 2 nhặt giấy ở sau cửa lớp...

     Bằng những hành động nhỏ mà diễn ra như một thói quen tốt đã tạo ra ý thức giữ gìn trường, lớp sạch đẹp.

     Ngoài phong trào “5 phút sạch trường”, tôi còn phối hợp với cô Tổng phụ trách, cô dạy bộ môn Mĩ thuật tổ chức hoạt động thi vẽ tranh về bảo vệ môi trường diễn ra hàng tháng. Những bức tranh nào đẹp sẽ được được chính các bạn học sinh bình chọn để treo trên bảng tin của Đội hoặc trong lớp học. Đó như một động lực cổ vũ tinh thần và là lời nhắc nhở cho học sinh toàn trường có ý thức bảo vệ môi trường.

     Vào học kì II hàng năm, cô Tổng phụ trách còn phát động phong trào “Làm kế hoạch nhỏ”. Học sinh toàn trường tham gia rất hào hứng. Một việc làm nhỏ như thu gom những vỏ lon, giấy vụn để nộp đã mang lại kết quả rất tốt. Rất nhiều học sinh được phong làm kiện tướng nên rất vui vì việc làm đầy ý nghĩa của mình.

      Trong các đợt tổng kết các phong trào, rất nhiều tập thể lớp, cá nhân được khen thưởng, động viên. Tôi thấy trường học, lớp học cũng sạch sẽ, thân thiện rất nhiều và thể hiện rõ hiệu quả của việc giáo dục học sinh bảo vệ môi trường.

      Không dừng lại ở đó, tôi còn phối hợp với Đoàn thanh niên trong trường tham gia lao động, giữ gìn trường lớp sạch đẹp. Khi học sinh nhìn vào những việc làm đó của thầy cô, các em sẽ có thêm động lực, có thêm những tấm gương để học tập.

     4.2. Phối hợp với cha mẹ học sinh giáo dục học sinh ý thức bảo vệ môi trường.

      Việc giáo dục học sinh có ý thức bảo vệ môi trường không chỉ dừng lại trong khuôn viên nhà trường, lớp học mà cần có sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường. Tôi luôn gặp và trao đổi với cha mẹ học sinh về những việc làm tốt của con ở trường, lớp để cha mẹ kịp thời động viên, khen ngợi. Những trường hợp học sinh còn vứt giấy rác ra lớp, lấy bút màu vẽ lên bảng, lên tường hoặc chưa có trang phục gọn gàng, sạch sẽ…tôi cũng thông báo tới gia đình để nhắc nhở và uốn nắn, giáo dục các em nhận lỗi và sửa lỗi. Trong các buổi họp có đông đủ cha mẹ học sinh, tôi cũng luôn nhấn mạnh sự kết hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường. Nhắc nhở các bậc phụ huynh nhắc nhở các con ở nhà biết giữ gìn nhà cửa sạch sẽ: quét nhà, sắp xếp góc học tập gọn gàng cũng như những thói quen biết giữ vệ sinh thân thể, vệ sinh ăn uống, vệ sinh môi trường xung quanh… Có như vậy các em học sinh mới có được ý thức, kĩ năng bảo vệ môi trường. Mỗi một học sinh làm một việc tốt sẽ góp phần bảo vệ, giữ gìn môi trường xanh - sạch - đẹp hơn.

     II/ Kết quả đạt được

     Qua quá trình nghiên cứu và áp dụng lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường vào bài dạy môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, tôi thấy hiệu quả giờ dạy được nâng cao rõ rệt. Cụ thể là:

       - 100% học sinh hứng thú trong giờ học Tự nhiên và Xã hội.

       - Giờ học phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo trong nhận thức và hành động của học sinh.

       - Học sinh biết vận dụng vốn hiểu biết về môi trường vào trong cuộc sống.

       - Quan sát thực tế hàng ngày tôi nhận thấy 100% học sinh đã tích cực, tự giác tham gia các hoạt động “5 phút sạch trường”, thường xuyên chăm sóc và có ý thức bảo vệ công trình măng non, thích hợp tác với cô giáo và bạn bè để tìm hiểu về thiên nhiên.

       - Trao đổi với cha mẹ học sinh tôi thấy học sinh đã có ý thức bảo vệ môi trường.

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

     I/ Kết luận

     Đưa nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào bài dạy các môn học nói chung và môn Tự nhiên và Xã hội nói riêng là một việc hết sức cần thiết và có ý nghĩa đối với mỗi giáo viên. Khai thác và lồng ghép nội dung giáo dục bảo vệ môi trường trong bài giảng hợp lý và hiệu quả giáo viên sẽ giúp học sinh hiểu bài một cách sâu sắc và có hứng thú hơn trong học tập. Để làm được điều đó đòi hỏi ở mỗi giáo viên phải có sự linh hoạt và sáng tạo trong mỗi tiết dạy. Hy vọng rằng một vài kinh nghiệm nhỏ nêu trên đây sẽ mang lại đôi điều bổ ích cho mỗi giáo viên tiểu học, góp phần thiết thực trong quá trình dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1 theo hướng đổi mới hiện nay.

      Để mỗi bài dạy Tự nhiên và Xã hội thành công, ngoài việc hiểu đặc trưng của môn học người giáo viên cần linh hoạt sử dụng các phương pháp dạy học sao cho phù hợp với điều kiện, phương tiện và nhất là đối tượng học sinh của mình.

     Sau khi nghiên cứu và áp dụng những biện pháp lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường vào bài dạy môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, tôi đã rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:

       - Giáo viên cần hiểu rõ kiến thức về một số vấn đề cơ bản của môi trường, về ô nhiễm môi trường. Trên cơ sở đó giúp học sinh xác định đúng các vấn đề của môi trường phù hợp với trình độ và lứa tuổi của các em.

       - Thường xuyên cập nhật các tài liệu, thông tin có liên quan đến môi trường.

       - Lựa chọn và thiết kế các hoạt động học tập mang tính trách nhiệm và cải thiện chất lượng môi trường gần gũi với học sinh.

       - Vận dụng phối hợp một số phương pháp dạy học tích cực với phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường.

       - Luôn luôn động viên, khích lệ học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo trong nhận thức và hành động; tạo điều kiện và cơ hội cho học sinh được tiếp xúc với nhiều môi trường.

       - Tổ chức các hoạt động ngoại khoá với các chủ đề về môi trường nhằm hỗ trợ cho bài học lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường.

       - Phối hợp chặt chẽ với cha mẹ học sinh giáo dục học sinh có ý thức bảo vệ môi trường mọi lúc, mọi nơi.

     II/ Những giải pháp trong thời gian tới

- Tiếp tục thực hiện những biện pháp trên.

- Nghiên cứu các tài liệu, sách tham khảo nhiều hơn nữa.

- Phải học hỏi các bạn đồng nghiệp có kinh nghiệm.

- Luôn cập nhật những thông tin mới.

      III/ Khuyến nghị

      Bảo vệ môi trường và hành vi đạo đức, hai vấn đề này gắn bó mật thiết với nhau. Nếu môi trường trong lành tạo điều kiện cho học sinh phát triển toàn diện. Học sinh có thể phát huy mọi năng lực sáng tạo, phấn khới học tập. Còn nếu môi trường xung quanh ô nhiễm sẽ ảnh hưởng đến học sinh về mọi mặt, làm giảm tình yêu của học sinh đối với trường lớp. Chính vì vậy, nội dung giáo dục bảo vệ môi trường mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa vào hệ thống giáo dục quốc dân là rất đúng, kịp thời nhất là trong giai đoạn hiện nay khi môi trường đang bị tàn phá bởi các nhà máy và ý thức của con người cùng với sự tàn phá của thiên nhiên. Để làm tốt nội dung này trong nhà trường, tôi xin mạnh dạn đề xuất một số ý kiến sau:

     1/ Đối với nhà trường

     Cần tăng cường công tác giáo dục bảo vệ môi trường ở tất cả các môn học và duy trì thường xuyên trong tất cả các hoạt động của nhà trường. Cần phải lấy đó là tiêu chí đánh giá thi đua của giáo viên và học sinh để hoạt động này thực sự đi vào nền nếp và hình thành ý thức thường xuyên cho mọi người ở mọi nơi, mọi lúc.

     2/ Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo

       Cần trang bị thêm tài liệu để làm phong phú thêm nguồn tài liệu cho giáo viên trong công tác giảng lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh.

       Giáo dục môi trường trong các trường học cần phát triển hơn nữa xứng đáng với tầm cao chiến lược của đất nước ta là đào tạo con người phát triển toàn diện, vì học sinh các trường tiểu học là những học sinh còn nhỏ, ý thức tự giác của các em chưa cao, nhận thức còn hạn chế nên để nâng cao dần nhận thức và giáo dục các em có ý thức bảo vệ môi trường cần đi từ những việc làm rất nhỏ, rất cụ thể: Từ biết giữ gìn vệ sinh chung, biết thu gom rác bỏ vào nơi quy định, biết chăm sóc và bảo vệ cây xanh, chắc chắn cùng với sự lớn dần của các em, ý thức đó ngày càng được nâng cao. 

thời tiết các vùng

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

Bình chọn

Đánh giá thái độ tiếp công dân của cán bộ Một cửa quận