TIN TỨC KHÁC

Trường Tiểu học Đại Từ: Một số biện pháp rèn giúp học sinh lớp 3 luyện tập và phát triển kỹ năng nói tiếng Anh
Ngày đăng 28/08/2019 | 16:35  | View count: 694

Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp rèn giúp học sinh lớp 3 luyện tập và phát triển kỹ năng nói tiếng Anh

     Trong suốt 8 năm công tác trong ngành Giáo dục, ngoài việc đứng lớp giảng dạy, tôi cũng đã dành nhiều thời gian nghiên cứu, tìm tòi và đóng  góp được một số SKKN về các lĩnh vực như: Kĩ năng Nói, Viết, Đọc, Nghe và có 1 SKKN đạt giải C cấp Thành phố.  Năm học 2018-2019 vừa qua, tôi cũng đi sâu nghiên cứu về kĩ năng Nói, cụ thể là Kĩ năng Nói của học sinh lớp 3.

     Như chúng ta đã biết, môn Tiếng Anh ngày càng khẳng định được vị thế, tầm quan trọng của nó trong thời đại hội nhập hiện nay. Đặc biệt là kĩ năng Nói, nó chiếm một vị thế vô cùng quan trọng, là chìa khóa giúp chúng ta, đặc biệt là thế hệ trẻ tiếp cận, giao lưu với thế giới, tiếp thu được các tiến bộ khoa học kĩ thuật, nếp sống văn minh và văn hóa của các nước tiên tiến trên thế giới.Hơn nữa, để việc dạy và học Tiếng Anh đạt hiệu quả thì giáo viên phải cung cấp cho học sinh một vốn kiến thức ngữ pháp và vốn từ vựng phong phú, đồng thời hướng các em đến các kênh thông tin học Tiếng Anh khác như: báo, đài, mạng Internet. Trong thực tế học sinh Việt Nam chúng ta có một vốn kiến thức ngữ pháp khá tốt, vốn từ vựng cũng tương đối nhưng khả năng giao tiếp thực tế thì chưa tốt. Vì vậy để giúp các em phát triển kĩ năng nói đòi hỏi người giáo viên phải luôn quan tâm, chú trọng đến vốn từ, các phương pháp phát triển và phải luôn cập nhật những cái mới để tạo hứng thú cho học sinh luyện nói.

     Dựa vào mục tiêu của môn Tiếng Anh với học sinh tiểu học nói chung và kĩ năng Nói nói riêng, dựa vào đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi, làm thế nào để giúp các em học sinh lớp 3 luyện tập và phát triển được kĩ năng Nói theo đúng mục tiêu của đề án Ngoại Ngữ 2020? Đó cũng là điều mà tôi rất trăn trở trong quá trình giảng dạy. Qua kinh nghiệm giảng dạy nhiều năm lớp 3, tôi đã nhận thấy rằng, bất cứ môn học nào muốn học tốt thì bản thân các em phải cảm thấy có hứng thú, say mê với môn học đó, môn Tiếng Anh và kĩ năng Nói cũng vậy. Giống như một đứa trẻ, trước khi biết đọc, biết viết thì phải nói trước tiên. “ Nói” là một trong 4 kĩ năng quan trọng trong việc dạy Tiếng Anh để học sinh có khả năng thực hành giao tiếp nhanh và đạt hiệu quả cao. Đây cũng cũng chính là Sáng kiến kinh nghiệm của tôi với tên đề tài:“Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 luyện tập và phát triển kĩ năng Nói Tiếng Anh”.

A. ĐẶT VẤN ĐỀ

     I. Lý do viết đề tài

     1. Lý do khách quan

     Tiếng Anh đã và đang khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế, đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống của chúng ta. Nó là một ngôn ngữ Quốc tế có tính thông dụng và là một công cụ giao tiếp thiết yếu trong mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội. Thời đại toàn cầu hoá, nhu cầu giao tiếp giữa mọi người thuộc mọi quốc gia là bắt buộc. Vì vậy, Tiếng Anh được sử dụng như một thứ ngôn ngữ phổ thông trên thế giới. Thông qua ngôn ngữ chung này mà con người trên khắp hành tinh hiểu biết lẫn nhau, trao đổi cho nhau những thành tựu khoa học, văn hoá thể thao, nghệ thuật, văn minh tiến bộ của loài người. Mà đất nước ta đang trên đà hội nhập và phát triển, do đó Tiếng Anh chính là chìa khoá để mở cánh cửa hội nhập giữa nước ta với các nước trên thế giới.

     Do vậy, việc học tiếng Anh đang trở thành một nhu cầu cần thiết và cấp bách giúp chúng ta tiếp cận, mở rộng hiểu biết với nguồn tri thức tiên tiến trên thế giới ở nhiều lĩnh vực khác nhau: Khoa học – kĩ thuật, kinh tế – xã hội, y học… Tiếng Anh mặc nhiên trở thành Universal Language.

     Trên cơ sở đó, trong lĩnh vực giáo dục, Bộ GD-ĐT đã có định hướng chiến lược cho việc tổ chức dạy học môn Tiếng Anh trong trường tiểu học nhằm tạo điều kiện, môi trường cho học sinh được tiếp xúc với môn học này, tạo tiền đề cho việc học lên các cấp học trên được vững chắc.

     Vì vậy, hiện nay hầu hết trẻ em trên cả nước từ thành thị đến nông thôn, phần lớn đều được làm quen với bộ môn tiếng Anh từ rất sớm thông qua việc giảng dạy trong nhà trường phổ thông.

      Muốn việc dạy và học Tiếng Anh đạt hiệu quả thì giáo viên phải cung cấp cho học sinh một vốn kiến thức ngữ pháp và vốn từ vựng phong phú, đồng thời hướng các em đến các kênh thông tin học Tiếng Anh khác như: báo, đài, mạng Internet. Trong thực tế học sinh Việt Nam có một vốn kiến thức ngữ pháp khá tốt, vốn từ vựng cũng tương đối nhưng khả năng giao tiếp thực tế thì chưa tốt. Vì vậy để giúp các em phát triển kĩ năng nói đòi hỏi người giáo viên phải luôn quan tâm, chú trọng đến vốn từ, các phương pháp phát triển và phải luôn cập nhật những cái mới để tạo hứng thú cho học sinh luyện nói.

     2. Lý do chủ quan

     Là giáo viên Tiếng Anh đang trực tiếp giảng dạy các em học sinh tiểu học, tôi luôn có băn khoăn, trăn trở sau mỗi giờ lên lớp. Tại sao học sinh của mình có một lượng kiến thức ngữ pháp khá tốt, vậy mà khi các em làm các bài tập về phát triển 4 kỹ năng: Nghe, Nói, Đọc, Viết thì lại không tốt. Các em nghe chưa tốt, nói kém và ngại nói. Khi viết thì các em dùng sai từ và viết sai chính tả.

     Trong quá trình giảng dạy, nghiên cứu cộng với thực tế cuộc sống ngày nay, tôi đã nhận ra rằng: Kĩ năng nói là vô cùng quan trọng. Cũng như một đứa trẻ, trước khi biết đọc, biết viết thì phải nói trước tiên. “Nói” là một trong 4 kĩ năng quan trọng trong việc dạy Tiếng Anh để học sinh có khả năng thực hành giao tiếp nhanh và đạt hiệu quả cao. Tại sao học sinh Việt Nam được đánh giá cao về ngữ pháp và viết luận nhưng lại quá kém về giao tiếp. Và từ xưa đến nay khi chúng ta đi học cũng luôn mang nặng việc kiểm tra, đánh giá, viết bài trên giấy nhưng lại xem nhẹ việc kiểm tra nói, kĩ năng giao tiếp thực tế. Chỉ từ khi có đề án ngoại ngữ 2020, chúng ta mới bước đầu thay đổi quan điểm dạy và học; chú trọng nhiều hơn đến kĩ năng nghe và nói. Đối với chương trình Tiểu học, lớp 3 là 30% đọc, viết và 70% nghe, nói. Lớp 4 là 40% đọc, viết và 60% nghe, nói. Còn lớp 5 thì đều nhau là 50- 50. Sở dĩ có sự phân biệt đó là vì trẻ càng nhỏ thì việc tiếp thu một thứ ngôn ngữ mới càng dễ dàng, đặc biệt là kĩ năng nói, bởi trẻ được nhúng mình vào môi trường giao tiếp, được nghe, nói hàng ngày

     Vì thế việc giảng dạy, tập trung phát triển kĩ năng nói cho học sinh là vô cùng cần thiết. Muốn vậy người giáo viên phải thực sự là người tổ chức hướng dẫn để các em chủ động, tích cực trong hoạt động nói cũng như những hoạt động học tập khác. Giáo viên phải tìm ra phương pháp giảng dạy phù hợp nhằm giúp học sinh vận dụng những từ vựng, mẫu câu đã học vào tình huống giao tiếp. Đồng thời giáo viên phải hướng dẫn học sinh cách học và tự ôn luyện ở nhà để ghi nhớ và phát triển kĩ năng nói của bản thân. Từ những băn khoăn, trăn trở trên tôi đã tham khảo sách giáo khoa, sách tham khảo, bạn bè, đồng nghiệp, tìm hiểu tâm sinh lí học sinh nghiên cứu, ứng dụng những kiến thức mình có vào quá trình giảng dạy kĩ năng nói cho học sinh. Từ đó, tôi đã rút ra một vài kinh nghiệm dạy luyện tập kĩ năng nói cho học sinh lớp 3 nhằm giúp các em phát triển kĩ năng nói một cách có hiệu quả. Chính vì vậy mà tôi viết sáng kiến kinh nghiệm “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 luyện tập và phát triển kĩ năng nói Tiếng Anh”.

     II. Mục đích nghiên cứu

     Để đảm bảo chủ trương chính sách của Nhà nước là đào tạo học sinh trở thành những con người phát triển toàn diện. Môn Ngoại ngữ ở tiểu học ngày nay đã được chú trọng hơn rất nhiều với kĩ năng nghe – nói là chủ yếu. Vàmôn ngoại ngữ cũng mang sắc thái riêng khác biệt với các môn học khác. Nó không chỉ là dạy kiến thức ngôn ngữ mà còn bao gồm cả kiến thức xã hội, phong tục, tập quán, lối sống văn hoá của nhân loại được thông qua ngôn ngữ, qua hệ thống từ vựng. Tuy nhiên phương pháp dạy học cũ đã không còn phù hợp mà thay vào đó là phương pháp TPR (Total Physical Response) – dạy học trực quan hành động; phương pháp mind – map (bản đồ tư duy) là công cụ giảng dạy phù hợp với phương pháp không dùng điểm số để đánh giá học sinh tiểu học. Chính vì vậy việc nghiên cứu để tìm ra những phương pháp dạy học hay, phù hợp và có hiệu quả giúp học sinh luyện tập và phát triển kĩ năng nói Tiếng Anh là điều mà tôi luôn cố gắng mọi lúc mọi nơi để có thể đạt được. Và chính điều đó sẽ giúp các em ham học và thích học Tiếng Anh hơn.

     III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

     Bài nghiên cứu đã được triển khai với hai lớp 3A5 và 3A6 ở trường tôi. Đây là hai lớp tương đương về trình độ, đa số các em ngoan, có ý thức học tập tốt. Dưới đây là bảng phân loại học sinh trước khi tiến hành nghiên cứu:

Lớp

H/s phát âm chính xác

H/s biết sử dụng ngữ điệu

H/s chưa phát âm chính xác

3A5

20

15

15

3A6

25

15

10

     IV. Phương pháp và thời gian nghiên cứu

     1. Phương pháp nghiên cứu

     Với đề tài này tôi đã áp dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

          + Hướng dẫn học sinh

          + Quan sát học sinh

          + Phỏng vấn học sinh

          + Kiểm tra và đối chiếu kết quả học tập của học sinh.

          + Thảo luận với giáo viên, chuyên viên và tham khảo SGK, sách tham khảo    

       Sau mỗi đơn vị bài học có kiểm tra đánh giá rút kinh nghiệm về những hình thức thực hiện ở từng tiết học, phân tích ưu điểm sau đó duy trì ưu điểm rồi bổ sung và cải tiến những tồn tại để tiếp tục thử nghiệm ở những bài học tiếp theo

       Qua nhiều đơn vị bài học mà tôi đã lựa chọn và tìm ra những hình thức hay nhất đúc rút thành kinh nghiệm.

     2 Thời gian nghiên cứu:

Đề tài này đã được tiến hành trong 4 tháng từ tháng 10 năm 2018 đến tháng 01 năm 2019

3 Kế hoạch nghiên cứu:

          * Giai đoạn I: Từ tháng 10 đến tháng 11 năm 2018

                                        Tập cho học sinh cách phản xạ nhanh bằng Tiếng Anh

* Giai đoạn II: Từ tháng 11 đến tháng 12 năm 2018

                             Rèn luyện cách phát âm cho học sinh

* Giai đoạn III: Từ tháng 12 năm 2018 đến tháng 1 năm 2019

                             Rèn cho học sinh sử dụng ngữ điệu

* Giai đoạn IV: tháng 1 năm 2019

                             Các bước luyện nói cho học sinh

                               Vận dụng một số trò chơi để luyện tập và phát triển        kĩ năng nói cho học sinh

V. Khả năng phát triển, ứng dụng thực tế

Với đề tài này chúng ta có thể ứng dụng vào thực tế giảng dạy Tiếng Anh cho học sinh lớp 3 (có thể áp dụng cả học sinh lớp 4 và 5) ở các trường tiểu học.

     VI. Hiệu quả

        Kỹ năng nói giúp cho học sinh có điều kiện rèn luyện nhiều hơn trong một tiết học. Thực hiện được nguyên tắc trong mỗi giờ học ngoại ngữ: Ôn cũ – luyện mới. Mọi kiến thức đều được gợi mở dần dần từ những kiến thức đã được học ở bài trước làm cho học sinh không sợ bài mới.

       Thông qua thực hành nói, học sinh tiếp thu kiến thức một cách chủ động, khắc phục được sự nhàm chán khi trong lớp chỉ có một số học sinh giỏi tham gia phát biểu, do vậy sẽ lôi cuốn được toàn thể học sinh trong lớp tham gia hoạt động kể cả các em trung bình hoặc yếu.

        Tăng cường khả năng ứng xử của học sinh trong các tình huống khác nhau, gây hứng thú, tự tin, mạnh dạn cho học sinh khi đã thực hành giao tiếp bằng Tiếng Anh, giờ học sẽ trở nên sôi nổi và đạt hiệu quả cao. Hơn nữa học sinh lớp 3 với bản chất hồn nhiên sẽ sẵn sàng tham gia vào các hoạt động của giờ học khi đã bị cuốn hút vào các hoạt động.

B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

CHƯƠNG 1:

THỰC TRẠNG CỦA VIỆC GIẢNG DẠY VÀ HỌC TẬP TỪ VỰNG TIẾNG ANH TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐẠI TỪ

     1. Về học sinh

     Với đặc thù là phần lớn học sinh ở chung cư, nhà thuê, nhiều học sinh bố mẹ bận làm ăn, buôn bán nên không có nhiều thời gian quan tâm đến việc học tập của các con; một số khác bố mẹ lại hay đi công tác nên cũng không có thời gian để sát sao với việc học tập của các con. Hơn nữa trong các lớp học thì trình độ học sinh cũng không đồng đều. Một bộ phận học sinh có khá nhiều cơ hội giao tiếp bằng tiếng Anh, được làm quen với công nghệ thông tin, được tiếp xúc với máy tính, với mạng Internet và thu nhận được nhiều thông tin từ đây nhưng ngược lại một bộ phận khác lại không có điều kiện và cơ hội để giao tiếp Tiếng Anh, cũng không có cơ hội tiếp thu thông tin từ các kênh thông tin khác. Chính vì vậy mà phong trào học Tiếng Anh ở trường cũng chưa thực sự tốt. Hơn nữa, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, thiếu thốn…vì vậy việc dạy và học bộ môn Tiếng Anh còn gặp rất nhiều khó khăn.

     Ngày nay, mặc dù các em học sinh đã được làm quen với Tiếng Anh từ khi các em còn học ở bậc mầm non nhưng kiến thức của các em còn nhiều hạn chế, các em chưa xác định phương pháp học hiệu quả. Vì thực tế là khi còn học tiểu học thì các em chưa được chú trọng đến việc dạy và học Tiếng Anh. Khi giáo viên yêu cầu các em lên bảng nói chẳng hạn, đa số các em thường thụ động, thiếu sự linh hoạt, ngại việc đọc – nói tiếng Anh và ít tham gia phát biểu để tìm hiểu bài. Bằng phương pháp kiểm tra đánh giá 100 học sinh của 2 lớp 3A5 và 3A6  tôi đã thu được  kết quả sau:

Lớp

H/s phát âm chính xác

H/s biết sử dụng ngữ điệu

H/s chưa phát âm chính xác

3A5

20

15

15

3A6

25

15

10

                        Bảng 1: kết quả trước khi tiến hành nghiên cứu.

     PHÂN TÍCH  KẾT QUẢ

     Với bảng số liệu trên ta thấy kết quả của học sinh còn nhiều bất cập. Số học sinh khá, giỏi còn thấp, trong khi đó số học sinh yếu còn nhiều. Vì vậy đòi hỏi giáo viên phải tìm biện pháp khắc phục, giúp các em nâng cao được kết quả học tập của mình.    

     2. Về giáo viên

     Sau nhiều năm đứng lớp, tôi luôn trăn trở về kết quả học tập của học sinh. Đồng thời tôi cũng luôn đặt câu hỏi cho mình: “Vì sao có một số học sinh học tốt vậy? Vì sao cùng một lớp học mà có những bạn luôn không thích môn học này? Vì sao học sinh có vốn ngữ pháp khá tốt nhưng khả năng nói và giao tiếp Tiếng Anh lại không tốt?” Học sinh tiểu học khối lớp 3 nói chung còn yếu cả 4 kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết. Nhất là các em rất ngại nói Tiếng Anh trong giờ học do nhiều nguyên nhân khác nhau như: tâm lý ngượng ngùng, dè dặt, ngại các bạn cười khi mình nói sai; do lớp học đông, giáo viên ít có thời gian rèn luyện kỹ năng cho mỗi học sinh. Vì vậy, tổ chức luyện nói tốt sẽ giúp khắc phục những hạn chế trên. Chính vì những băn khoăn trăn trở trên mà tôi luôn cố gắng nghiên cứu tài liệu, trao đổi với đồng nghiệp để tìm ra phương pháp giúp học sinh nâng cao chất lượng. Bên cạnh đó, tôi còn thường xuyên trao đổi với học sinh để hướng dẫn các em cách học, xác định rõ nguyên nhân dẫn đến kết quả học tập của các em còn thấp, giúp các em tìm ra phương pháp học cho riêng mình, nâng cao kết quả học tập. Cụ thể tôi đã:

     Tiến hành tìm tòi các hình thức rèn luyện cho phù hợp với từng loại bài, từng kiểu bài.

Ví dụ:

- Tập cho học sinh cách phản xạ nhanh bằng Tiếng Anh

         - Rèn luyện cách phát âm cho học sinh

         - Rèn cho học sinh sử dụng ngữ điệu

         - Các loại hình thức luyện tập được sử dụng cho việc phát triển kĩ năng nói

          + Yes/ No question

          + Ask and answer

         - Các bước luyện nói cho học sinh

           + Pre – speaking

           + Controlled practice

           + Free - practice

- Ngoài ra luyện nói qua các hình thức trò chơi, nhóm học tập để học sinh có thể giúp đỡ nhau.

     Nhưng dù thực hiện ở bất kỳ phương pháp nào thì cũng phải đảm bảo nguyên tắc đổi mới trong giáo dục là giáo viên chỉ đóng vai trò hướng dẫn, học sinh mới là chủ thể của hoạt động học. Giáo viên phải luôn tạo ra môi trường luyện tập cho học sinh đồng thời quan sát chú ý xem các em nói như thế nào, cái gì được và cái gì chưa được để tìm ra biện pháp và phương pháp giảng dạy thích hợp cho từng bài học.

CHƯƠNG 2

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 LUYỆN TẬP VÀ PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG NÓI TIẾNG ANH

      - Chúng ta biết rằng Nghe - Nói - Đọc - Viết là bốn kĩ năng ngôn ngữ cần phải được rèn luyện và diễn ra một cách đồng thời trong quá trình dạy và học ngoại ngữ. Chúng vừa là phương tiện và cũng là mục đích của việc học bộ môn này. Đặc biệt là kĩ năng nói, nó là phương tiện, là cầu nối giúp chúng ta giao tiếp tốt với người bản xứ.

    - Nói hay sẽ tạo tự tin giao tiếp, do đó chúng ta cho luyện phát âm thật kỹ, nhấn nhá (stress), nối âm (linking sound), ngữ điệu(intonation)… kết hợp ngôn ngữ hình thể (TPR). Quá trình dạy, học, luyện tập và phát triển kĩ năng nói được lồng ghép trong ba phần: Look, listen and repeat, Point and say và Let’s talk.

Cụ thể là, từ tháng 10/ 2018 – tháng 01/2019 chương trình Tiếng Anh lớp 3- tập 1 có các chủ đề sau:

+ Giới thiệu một người bạn của mình; hỏi và trả lời về người khác.

     + Hỏi và trả lời về tuổi của ai đó.

     + Giới thiệu bạn; hỏi và trả lời về bạn.

     + Cách đưa ra và đáp lại các câu mệnh lệnh; hỏi xin phép ai đó để làm gì

     + Nói về các phòng trong trường; câu hỏi nghi vấn về trường mình

     + Nói về các đồ dùng học tập dạng số ít và số nhiều

     + Hỏi và trả lời về đồ vật dạng số ít và số nhiều

     + Hỏi và trả lời về các hoạt động trong giờ ra chơi và môn thể thao hoặc trò chơi ưa thích của bạn.

Dưới đây là một số hình thức luyện tập và phát triển kĩ năng nói cho học sinh mà tôi đã áp dụng:

     1. Biện pháp thứ nhất: Tập cho học sinh cách phản xạ nhanh bằng Tiếng Anh

     Đầu năm học, đối với học sinh lớp 3 ở Trường Tiểu học Đại Từ các em chưa có vốn từ vựng nếu có thì rất hạn chế nhưng tôivẫn tăng cường nói Tiếng Anh trên lớp, thường là các câu mệnh lệnh đơn giản, áp dụng các câu mệnh lệnh hoặc những câu hỏi theo bài học kết hợp với ngôn ngữ cơ thể, cử chỉ, điệu bộ. Nhìn chung, lúc đầu học sinh còn ngơ ngác nhưng dần dần qua các tiết học các em cũng đều hiểu và làm theo đúng mệnh lệnh của giáo viên. Sau khi các em đã học được mẫu câu mới thì chúng ta nên sử dụng thường xuyên trên lớp học để các em có điều kiện phản xạ tốt. Ví dụ như những câu hỏi về bản thân:

- Hi/ Hello. I’m ……

- What’s ?

- are ?

- What’s this? , What are these?... những câu hỏi về đồ vật, sử dụng các đồ vật thật có trong lớp học (bàn, ghế, thước, vở... )

- Tập cho học sinh không nên hiểu ngầm Tiếng Việt rồi mới dịch sang Tiếng Anh.

     1. Biện pháp thứ hai: Rèn luyện cách phát âm cho học sinh

     Trong quá trình giao tiếp bằng tiếng Anh muốn người khác hiểu nội  dung mình nói gì học sinh cần phải phát âm từ và câu một cách rõ ràng. Vì vậy khi giới thiệu ngữ liệu mới, mẫu câu tôi luôn ý thức rằng mìnhcần phải đọc chuẩn về cả ngữ âm, ngữ điệu có trọng âm để các em bắt chước vì đây là yếu tố cơ bản trong việc dạy nghe-nói. Tất nhiên không thể chuẩn như người bản xứ nói Tiếng Anh nhưng để có một kết quả phát âm chuẩn xác nhất thì tôi cũng thường xuyên nghe băng đĩa của người bản địa. Tôicũng kiên trì luyện phát âm cho học sinh để tạo cho các em có thói quen phát âm đúng và phải phát âm đúng. Bởi lẽ, các em mới bước đầu học Tiếng Anh nhưng phát âm không đúng sẽ thành thói quen ảnh hưởng không tốt trong quá trình học và giao tiếp saunày.

 - Cần chú ý luyện tập cho học sinh phát âm có các âm cuối như: bag /bæg/, book /buk/....

- Tập cho học sinh có thói quen đọcnối.

Ví dụ 1: stand-up /’stænd^p/ , look-at /lukæt/ It’s a pencil. /itsəpensl/

It is a desk. /itizədesk/

Ví dụ 2:Let’s chant trong phần Lesson 3 Unit 11. This is my family.

- Đối với hình thức số nhiều cần luyện tập cho học sinh cách phát âm trong việc nhấn mạnh đuôi số nhiều:

+ Phát âm /s/ đứng sau phụ âm vô thanh /t/, /p/, /k/, /s/, /f/, /θ/

Ví dụ : cassettes, books, ....

+ Phát âm là /z/ khi đứng sau nguyên âm hoặc phụ âm hữu thanh /b/, /d/, /g/, /v/, /ð/, /m/, /n/, /Ŋ/, /l/, /r/.

Ví dụ : crayons, tables, markers ..

+ Phát âm là /iz/ khi đứng sau những phụ âm rít cụ thể các phụ âm         như :/z/, /s/, /ʤ/, / tʃ /, / ʃ /, /ʓ/

Ví dụ : pencil cases, oranges, nurse…

     3. Biện pháp thứ ba: Rèn cho học sinh sử dụng ngữ điệu

Ngữ điệu (Intonation) được hiểu đơn giản là sự lên và xuống của giọng nói. Người nghe có thể hiểu nhầm hoặc hiểu sai hoàn toàn ý của người nói nếu như người nói sử dụng sai ngữ điệu, bởi ngữ điệu được so sánh như là hồn củacâu.

*Ngữ điệu xuống được thể hiện bằng cách hạ âm điệu giọng nói xuống thấp ở trong các trường hợp sau:

- Dùng trong câu chào hỏi như: Good morning! ↓

          - Dùng trong câu đề nghị:

Ví dụ: Khi tôi dạy Unit 6. Stand up! thì các câu mệnh lệnh sau đây có ngữ điệu xuống:

            Come here↓; Stand up↓; Sit down ↓

Dùng trong câu hỏi bắt đầu bằng từ để hỏi (who, what, when, where, why, vàhow)

Ví dụ: What are these? ↓; What are those? ↓

  • Dùng trong câu yêu cầu hoặc mệnh lệnh: Open your book↓

*Ngữ điệu lên được thể hiện bằng cách tăng âm điệu giọng nói lên cao ở trong các trường hợp sau:

- Dùng trong các câu hỏi nghi vấn; “có…không”:

Ví dụ: Khi tôi dạy Unit 3. This is Tony thì các câu hỏi nghi vấn sau được đọc với ngữ điệu lên

- Is this Nam? ­; Is that Linda? ­

  Hoặc khi dạy Unit 9. What color is it? thì các câu hỏi nghi vấn sau cũng được đọc với ngữ điệu lên.

- Is this your pen? ­; Is that your pencil? ­

- Dùng trong câu xác định nhưng hàm ý câu hỏi hoặc các từ đơn có một âm tiết nhấn mạnh:

Ví dụ: You are Mai?↑; Me? ↑; Who? ↑

     4. Biện pháp thứ tư: Giới thiệu và rèn cho học sinh các hình thức luyện tập được sử dụng cho việc phát triển kỹ năng nói:

a. Yes/No question : Câu hỏi đoán thôngtin

        + Tôi đưa ra tiêu đề để học sinh luyện tập

        + Tôi cung cấp một số từ gợi ý, kiến thức nền, giáo viên làm mẫu rồi cho học sinh nói tự do.

- Hình thức này áp dụng khi dạy Tiếng Anh cho học sinh lớp 3 của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. Luyện cách hỏi đoán về đồ vật ở Unit 9. What colour is it?

Cụ thể như sau: tôi giả vờ quên đồ dùng học tập và mượn của một số học sinh sau đó lại giả vờ không nhớ của bạn nào và hỏi:

T: Is this your pen?

St 1: Yes, it is. Is this your pencil case?

St 2: No, it isn’t. Is that your pencil case?

St 3: Yes, it is. Is this your ruler?

St 4: …..

b. Ask and answer : đặt câu hỏi và trảlời

 + Học sinh có thể tự thực hành theo cặp.

+ Nếu thực hành theo nhóm thì nhóm trưởng đặt một số câu hỏi, các thành viên khác của nhóm có nhiệm vụ trả lời.

+ Tôi cũng có thể tổ chức một cuộc thi: Các câu trả lời được tính điểm dựa trên độ chính xác về ngôn ngữ, cũng như các thông tin.

Bài tập này được áp dụng khi dạy Unit 12: This is my house trong sách Tiếng Anh lớp 3 của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.

Cụ thể như sau:

- Học sinh thực hành theo cặp đôi, một bạn là interviewer (người phỏng vấn) và một bạn là interviewee (người được phỏng vấn). Hai bạn sẽ phỏng vấn nhau về ngôi nhà mơ ước của mình và xem trong ngôi nhà đó có những gì.

Ví dụ:

1. Is this a big house? Yes/ No

2. What color is it? It’s….

3. Is there a gate?

4. Is there a garden?

Nếu học sinh giỏi hơn có thể hỏi:

4. Is there a garden behind the house?

Sau đó hai bạn có thể đổi vị trí cho nhau để hỏi và trả lời; tôi có thể mời một vài cặp lên bảng và học sinh có thể vẽ tranh để minh họa thêm cho bài nói của mình.

c. Luyện tập qua các bài chant.

Ví dụ 1: Bài Let’s chant trong Unit 12. This is my house.

Is there a garden?

Is there a garden behind the house?

Yes, there is. Yes, there is.

Is there a yard behind the house?

Yes, there is. Yes, there is.

Is there a gate behind the house?

No, there isn’t. No, there isn’t.

Is there a pond behind the house?

No, there isn’t. No, there isn’t.

 

Ví dụ 2: Bài Let’s chant trong Unit 7. This is my house.

 

Is your school new?

Is your school new?

Yes, it is. It’s new.

Is your school big?

Yes, it is. It’s big.

Is your classroom large?

No, it isn’t. It’s small.

Is the playground small?

No, it isn’t. It’s large.

 

    5. Biện pháp thứ năm: Áp dụngmột số trò chơi tạo hứng thú cho học sinh luyện tập và phát triển kĩ năng nói

a. Find Someone Who:

     Hoạt động này sẽ giúp các em tự nhiên trong giao tiếp. Các em sẽ hỏi bất cứ bạn nào để lấy thông tin.

Ví dụ: Khi tôi dạy Unit 10. What do you do at break time?

Sau khi học xong Lesson 1 &2, tôi có thể cho học sinh vẽ tranh gia đình mình hoặc mang ảnh gia đình đến lớp (HS chuẩn bị trước ở nhà). Tôi có thể làm mẫu hoặc mời một bạn học thật tốt lên nói mẫu. Ví dụ:

This is my family. There are…… people in my family. They are: my grandfather, my grandmother, ……This is my father (point to the father). His name is ….. He’s …… years old…….

And so on.

Khi học sinh nói thì giáo viên phải quan sát, ghi lỗi mà học sinh hay mắc phải, sau đó gợi ý để học sinh nhận xét bạn và giáo viên là người chốt.

c. Mapped Diologue

       - Hoạt động này HS sẽ nhìn tranh hoặc từ gợi ý rồi các em sẽ nói chuyện, đối thoại với nhau. Hoạt động này sẽ giúp các em nói chuyện thoải mái với nhau.

Ví dụ: Khi tôi dạy Unit 12. This is my house.

Với bài này thì tôi cũng cho học sinh chuẩn bị tranh về ngôi nhà mơ ước của mình. Sau đó mời 2 học sinh lên bảng và tôi chiếu tranh ngôi nhà của bạn (che đi 1 phần bức tranh). Hai bạn sẽ hỏi nhau các câu hỏi (cả trong và ngoài sgk) về ngôi nhà mơ ước của bạn. Chẳng hạn:

St1: This is my …………………

St 2: Wow. It’s big and very nice!

St1: There’s a ………………….. (point to the living room)

St2: Oh, It’s so beautiful. Is there a garden?

St 1: Yes (point to the garden)

And so on….

 

6. Biện pháp thứ sáu: Luyện nói theo chủ đề.

Học sinh tiểu học nói chung và học sinh khối lớp 3 nói riêng vẫn còn nhỏ  nên việc được làm những gì mình thích, được nói những gì mình muốn là điều vô cùng thú vị đối với các em. Chính vì vậy tôi luôn cố gắng dành thời gian để các em có thể luyện nói theo chủ đề mình thích như là: con vật (animals), hoa quả (fruit), màu sắc (color), đồ dùng học tập (school things) hay là các môn thể thao và trò chơi trong giờ ra chơi (activities at break time)…..

Ví dụ 1: Tôi có thể kết hợp Unit 8. This is my pen và Unit 9. What colour is it? như sau:

+ Tôi tổ chức trò chơi Tìm kiếm tài năng Trường Tiểu học Đại Từ

+ Tôi yêu cầu học sinh làm việc theo nhóm, tự tạo tình huống để nói và học sinh phải sử dụng được các câu hỏi sau:

- This/ That is…..

- These/ Those are….

- What colour is it?/ What colour are these?

- Is this/ that your ……?

Ví dụ 2: Khi dạy Unit 10. What do you do at break time? Tôi cho học sinh luyện các từ về môn thể thao thông qua nhạc nền bài hát Jingle Bells

7. Các bước luyện nói cho họcsinh

Tùy theo mỗi bài học mà chúng ta áp dụng phương pháp dạy học khác nhau. Về cơ bản trong quá trình luyện nói phải tuân thủ theo các quy trình sau:

     a. Chuẩn bị nói(Pre-Speaking)

- Tôi giới thiệu ngữ liệu mới, ngữ pháp mới. Ở hoạt động này học sinh nghe hoặc viết, tôi giới thiệu mẫu câu. Hoạt động nói của học sinh chủ yếu là trả lời câu hỏi.

     b. Luyện nói có kiểm soát (Controlled Practice)

Hoạt động này học sinh được luyện nói nhiều hơn giáo viên. Phần này học sinh luyện tập theo cặp, nhóm hoặc cá nhân dưới sự điều khiển của tôivà học sinh thấy tự tin hào hứng khi nói tạo cơ hội cho các em phát triển kỹ năng nói. Phần này chủ yếu áp dụng trong phần Point and say

     c. Luyện nói tự do ( Free Practice/Production)

Tôi yêu cầu học sinh luyện nói mẫu câu mới mà các em vừa được học với những ngôn ngữ riêng của mình không cần sự hỗ trợ của giáo viên.

Những hoạt động của phần này thường là trò chơi, đóng vai. Phần này các em có thể sử dụng thêm những ngữ pháp hoặc vốn từ vựng mà các em  biết  nhằm nâng cao kĩ năng nói cho các em. Tôi hỗ trợ học sinh khi cần. Phần này chủ yếu áp dụng trong phần Let’s talk.

Ví dụ:  Khi tôi dạy phần Let’s talk trong Lesson 1 của Unit 13. Where’s my book?

Cách thực hiện như sau:

* Pre – speaking:

+ tôi gợi ý hỏi học sinh xem hôm nay mình học được mẫu câu gì? Dùng trong trường hợp nào?

+ Tôi gọi học sinh trả lời (nếu muốn gọi học sinh kém hơn thì vẫn được bởi tôi có thể gợi ý bằng cách chỉ vào mẫu câu vẫn còn trên bảng). Đó là:Where’s the ___________? It’s here/ there.

* Controlled Practice :

+ Tôi cho học sinh làm việc theo cặp đôi và yêu cầu mỗi cặp hỏi về vị trí các đồ vật theo tranh có sẵn trong SGK. (hỏi và trả lời trong vòng 2 phút). Cặp nào xong trước nói Bingo. (Cặp nào nói Bingo trước sẽ mang về chiến thắng cho đội mình)

+ Trong khi học sinh làm thì tôi quan sát và giúp đỡ nếu cần.

+ Tôi mời một vài cặp lên nói trước lớp

* Free Practice/Production

+ Sau khi đã nói theo tranh trong SGK, tôi yêu cầu học sinh tiếp tục luyện nói sử dụng các vật thật có trong lớp học (có thể sử dụng thêm từ vựng về đồ dùng học tập)

+ Mời một vài cặp lên nói trước lớp (việc tạo ngữ cảnh là tự học sinh làm), tôi chấm điểm cả phần sáng tạo ngữ cảnh.

+ Trong thời gian học sinh làm thì tôi quan sát, giúp đỡ nếu cần và bổ sung, chỉnh sửa những sai sót chung của học sinh trước lớp.

8. Tổ chức “Đôi bạn nói Tiếng Anh” hoặc “Nhóm bạn nói Tiếng Anh”

      – Ở trường qua quá trình tìm hiểu địa bàn cư trú của HS, các em ở gần nhà nhau rất nhiều, một xóm luôn có một số em học cùng lớp. VÌ vậy, GV nên tổ chức cho các em thành lập đôi bạn nói tiếng Anh hoặc nhóm bạn nói tiếng Anh ở nhà hoặc thời gian rảnh.

     – Sau mỗi tiết học trên lớp, giáo viên gợi ý đề tài, mẫu câu, mẫu hội thoại. Học sinh về nhà tự tìm ý tưởng và vốn từ vựng để nói với nhau. Mục đích giáo viên củng cố từ vựng, mẫu câu, giúp các em nói theo hướng “ Nói tiếng Anh tự nhiên”.

     – Trước mỗi tiết học giáo viên cho các đôi bạn hoặc nhóm bạn trình bày trước lớp. Giáo viên có nhiều hình thức khen thưởng để động viên tinh thần cho các em.

Ví dụ: tôi đã thực hiện thường xuyên ở trên lớp:

CHƯƠNG III. KẾT QUẢ

          Qua áp dụng một số kinh nghiệm về phương pháp giúp học sinh luyện tập và phát triển kĩ năng nói vào việc giảng dạy Tiếng Anh ở 2 lớp 3A5 và 3A6, tôi đã đạt được kết quả nhất định. Dưới đây là kết quả thu được của tôi trước và sau quá trình nghiên cứu.

1. Kết quả trước khi tiến hành nghiên cứu:

Lớp

H/s phát âm chính xác

H/s biết sử dụng ngữ điệu

H/s chưa phát âm chính xác

3A5

20

15

15

3A6

25

15

10

          2. Kết quả sau khi tiến hành nghiên cứu:

          * Kết quả kiểm tra lần 1

Lớp

H/s phát âm chính xác