TIN TỨC KHÁC

Trường Tiểu học Đại Từ: Một số biện pháp rèn kỹ năng viết văn cho học sinh lớp 4
Ngày đăng 28/08/2019 | 16:49  | View count: 389

Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp rèn kỹ năng viết văn cho học sinh lớp 4

     Trong suốt 26 năm công tác trong ngành Giáo dục, ngoài việc đứng lớp giảng dạy, tôi cũng đã dành nhiều thời gian nghiên cứu, tìm tòi và đóng  góp được một số SKKN về các lĩnh vực như: Tiếng Việt, Đạo đức, Công tác chủ nhiệm lớp, đạt giải B, C cấp Thành phố. Năm học 2018-2019 vừa qua, tôi cũng đi sâu nghiên cứu về lĩnh vực Tiếng Việt, cụ thể là phân môn Tập làm văn lớp 4.

     Như chúng ta đã biết, phân môn Tập làm văn có tính chất tổng hợp, vừa tận dụng các hiểu biết và kĩ năng Tiếng Việt do các phân môn khác cung cấp, vừa phát huy những kết quả đó, góp phần hoàn thiện chúng. Hơn thế nữa, phân môn Tập làm văn còn rèn luyện cho học sinh các kĩ năng sản sinh văn bản(nói và viết). Nhờ vậy, Tiếng Việt không chỉ là một hệ thống cấu trúc được xem xét từng phần, từng mặt qua từng phân môn mà nó còn trở thành một công cụ sinh động trong quá trình giao tiếp, tư duy, học tập. Nói một cách khác, phân môn Tập làm văn đã góp phần hiện thực hóa mục tiêu quan trọng bậc nhất của dạy và học Tiếng Việt, đó là dạy học sinh sử dụng Tiếng Việt trong đời sống sinh hoạt, trong quá trình lĩnh hội các tri thức khoa học.

     Dựa vào mục tiêu của phân môn Tập làm văn nói riêng,của  môn Tiếng Việt nói chung, dựa vào đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi, làm thế nào để giúp các em học sinh lớp 4 học tốt hơn phân môn Tập làm văn? Đó cũng là điều mà tôi rất trăn trở trong quá trình giảng dạy. Qua kinh nghiệm giảng dạy nhiều năm lớp 4, tôi đã nhận thấy rằng, bất cứ môn học nào muốn học tốt thì bản thân các em phải cảm thấy có hứng thú, say mê với môn học đó. Phân môn Tập làm văn cũng vậy, các em có hứng thú với giờ học thì kết quả học tập sẽ tốt hơn. Chính vì vậy, để giúp giờ Tập làm văn 4 trở nên nhẹ nhàng và có hiệu quả cao hơn, tôi đã quan tâm đến phương pháp giảng dạy, tìm ra nhiều biện pháp cũng như hình thức tổ chức dạy học phù hợp đối với từng thể loại văn, từng bài dạy cụ thể. Đây cũng cũng chính là Sáng kiến kinh nghiệm của tôi với tên đề tài: “Một số biện pháp rèn kĩ năng viết văn cho học sinh lớp 4”.

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

     I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.

     Chương trình ở bậc Tiểu học có nhiều môn học với nội dung đa dạng và phong phú. Song, chúng luôn tác động với nhau giúp học sinh phát triển toàn diện. Trong đó, phân môn Tập làm văn chiếm một vị trí cực kì quan trọng. Nó không chỉ cung cấp các kiến thức về "làm văn" mà còn góp phần giáo dục tư tưởng, tình cảm, phát triển tư duy và trí tưởng tượng của các em. Đối với trẻ lớp 4, việc hình thành phương pháp làm bài văn đã khó, việc dạy các em viết được một bài văn hay lại càng khó hơn.

     Mặt khác, phân môn Tập làm văn lại có tính chất tổng hợp, vừa sử dụng các hiểu biết và kĩ năng Tiếng Việt do các phân môn khác cung cấp, đồng thời phát huy những kết quả đó, góp phần hoàn thiện nhân cách cho học sinh. Ở lớp 4, các loại bài Tập làm văn đều được gắn với các chủ điểm. Học các tiết Tập làm văn, khi nhận diện đặc điểm các loại bài miêu tả, kể chuyện, viết thư,... các em có dịp tiếp cận với vẻ đẹp của con người, thiên nhiên qua các bài văn, đoạn văn điển hình. Khi phân tích các đề Tập làm văn, học sinh lại hướng tới cái chân, cái thiện, cái mĩ được hình thành trong các đề bài. Khi quan sát đồ vật trong văn miêu tả, học sinh được rèn luyện cách nhìn đối tượng trong quan hệ gần gũi giữa người với vật. Các bài luyện tập viết thư, trao đổi với người thân cũng tạo cơ hội cho học sinh thể hiện mối quan hệ với cộng đồng. Những cơ hội đó làm cho tình cảm yêu mến, gắn bó với thiên nhiên, với người và vật xung quanh của trẻ được nảy nở; tâm hồn, tình cảm của trẻ thêm phong phú. Đó là những nhân tố quan trọng góp phần hình thành nhân cách tốt đẹp của trẻ.

     Trên thực tế, những nội dung yêu cầu về bộ môn tập làm văn ở lớp 3 còn quá ít ỏi, do vậy, khi lên lớp 4, đối với các em là một bước ngoặt lớn. Từ những dạng bài: Trả lời câu hỏi, kể chuyện đơn giản, nay các em phải làm quen với các kiểu bài, thể loại nhất định đòi hỏi các em phải có năng lực quan sát, suy luận, tưởng tượng phong phú. Các em phải biết vận dụng ngôn ngữ để diễn đạt ý nghĩ, tình cảm trong sáng, cảm xúc hồn nhiên, trí tưởng tượng và những ước mơ bay bổng của mình một cách có thứ tự, có hệ thống, đúng chính tả, đúng ngữ pháp. Từ đó, cho thấy đây chính là môn học ứng dụng tổng hợp những kiến thức của học sinh đã học trong các phân môn Tập đọc, chính tả, Luyện từ và câu và các hoạt động ngoại khóa. Chính vì vậy, tôi luôn trăn trở, tìm mọi biện pháp để khơi dậy những tiềm năng văn học trong mỗi học sinh. Những tiềm năng ấy là là mạch suối nguồn tinh khiết tưới mát cho tâm hồn trẻ em hôm nay, giúp những mầm non văn học luôn xanh tươi và sẽ nở hoa, kết trái. Giúp các em có điều kiện tiếp cận với vẻ đẹp của con người và thiên nhiên đất nước, bộc lộ được cảm xúc cá nhân và phát triển nhân cách.

     Từ nhận thức trên, qua nhiều năm giảng dạy, Tôi đã cố gắng chăm chỉ, học hỏi để tìm ra cách thức dạy tập làm văn ở lớp 4 với mong muốn giúp các em thêm yêu thích phân môn Tập làm văn và  có kĩ năng viết văn ngày càng tốt hơn. Từ những kinh nghiệm của nhiều năm đứng trên bục giảng, tôi nhận thấy rằng, bất cứ môn học nào muốn học tốt thì các em phải cảm thấy hứng thú, say mê với môn học đó. Với môn Tập làm văn cũng vậy, các em có hứng thú với giờ học thì kết quả học tập sẽ tốt hơn. Để giúp giờ Tập làm văn 4 trở nên nhẹ nhàng, đạt hiệu quả tốt, tôi đã quan tâm đến phương pháp giảng dạy, chú ý tìm hiểu nhiều biện pháp cũng như hình thức dạy và học phù hợp với từng bài dạy. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi mạnh dạn trình bày: “Một số biện pháp rèn kĩ năng viết văn cho học sinh lớp 4”. Đề tài này được áp dụng tại lớp 4 tôi chủ nhiệm hai năm qua.

     II/ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.

     1. Học sinh lớp 4A7 năm học 2018 - 2019 của trường Tiểu học Đại Từ.

     2. Chương trình phân môn Tập làm văn 4.

     III/ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.

     Để đạt được mục đích nghiên cứu, tôi xác định phải giải quyết các nhiệm vụ sau:

     Tìm hiểu cơ sở lí luận của giờ tập làm văn.

     Tìm hiểu thực trạng của việc dạy phân môn Tập làm văn.

     Tổ chức dạy thực nghiệm.

     Một số biện pháp rèn kĩ năng viết văn cho học sinh lớp 4.

     IV/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

     Thu thập tài liệu, đọc sách và các tài liệu tham khảo.

     Điều tra, khảo sát thực tế.

     Sử dụng các phương pháp khác: Phân tích ngôn ngữ, so sánh đối chiếu, thống kê và xử lí các số liệu thu thập đươc.

PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

     I/ CƠ SỞ LÍ LUẬN

     1. Tính chất tổng hợp của phân môn Tập làm văn

       - Phân môn Tập làm văn sử dụng toàn bộ các kĩ năng được hình thành và phát triển do nhiều phân môn khác của môn Tiếng Việt đảm nhiệm (kĩ năng viết chữ, kĩ năng viết chính tả, kĩ năng đọc, nghe, nói…). Khi sử dụng, phân môn Tập làm văn cũng góp phần phát triển và hoàn thiện chúng.

       - Phân môn Tập làm văn còn sử dụng kiến thức và kĩ năng do nhiều môn học khác trong nhà trường cung cấp (ví dụ các hiểu biết do môn Tự nhiên và Xã hội, do môn Đạo đức, pháp luật, do môn hát, vẽ… cung cấp).

       - Phân môn Tập làm văn còn huy động toàn bộ vốn sống hoặc những mảnh vốn sống của học sinh có liên quan đến đề bài. Tả một cây đang ra hoa hoặc quả, tả một con mèo bắt chuột hoặc một con gà đang kiếm mồi… học sinh đâu có thể chỉ huy động vốn tri thức qua các bài học mà còn phải huy động tất cả những tình cảm, ấn tượng, cảm xúc, những kí ức còn lưu giữ được về các con vật hoặc cây cối đó. Chỉ như vậy bài văn mới trở nên sinh động và có hồn.

       Bài văn, kết quả học tập của phân môn Tập làm văn, phản ánh trình độ sử dụng tiếng Việt, trình độ tri thức và hiểu biết đời sống của học sinh. Vì thế, không phải không có lý do khi sản phẩm đó được sử dụng để đánh giá năng lực học tập môn Tiếng Việt qua các kì thi.

     2. Tính chất sáng tạo của phân môn Tập làm văn

     Khi làm bài văn học sinh thực hiện một số hoạt động giao tiếp. Mỗi bài văn là một sản phẩm không lặp lại của từng học sinh trước đề bài. Do đó có thể nói trong việc học làm văn, học sinh được chủ động, tự do thể hiện cái "tôi" của mình một cách rõ ràng, bộc bạch cái riêng của mình một cách trọn vẹn. Dạy tập làm văn là dạy các em tập suy nghĩ riêng, tập sáng tạo, tập thể hiện trung thực con người mình.

     II/ THỰC TRẠNG DẠY HỌC MÔN TẬP LÀM VĂN HIỆN NAY

     Là một giáo viên đã dạy nhiều năm ở khối 4, tôi nhận thấy: chương trinh Tập làm văn lớp 4 khá sinh động, phong phú, đa dạng. Nhiều dạng bài mới phù hợp, gần gũi với sở thích, tâm lí của học sinh lớp 4. Song để học sinh có hứng thú khi học tiết Tập làm văn là một điều rất khó. Hơn thế nữa, để các em  có kĩ năng viết được bài văn hay lại càng khó hơn.

     Qua thực tế giảng dạy, tôi thấy còn một số hạn chế ảnh hưởng không nhỏ đến việc học văn nói chung và kĩ năng viết văn của học sinh nói riêng. Cụ thể là:

       * Về phía giáo viên:

       - Trong tiết Tập làm văn, một số giáo viên hay bỏ qua công đoạn cho học sinh: Tìm hiểu đề. Đây là một bước rất quan trọng để học sinh xác định đúng trọng tâm của bài văn.

       - Chưa quan tâm đến việc làm giàu vốn từ, việc làm thế nào giúp cho học sinh tích lũy những câu văn, đoạn văn hay...

       - Giáo viên còn ngại dạy và xem thường tiết văn trả bài. Chính vì vậy học sinh chưa thấy được các lỗi mình hay mắc phải khi viết văn. Hơn thế nữa, các em không biết cách sửa những câu văn còn dùng từ sai hoặc câu diễn đạt lủng củng.

       * Về phía học sinh:

       - Thực tế, khả năng tiếp thu của học sinh trong lớp không đồng đều. Ngôn ngữ và khả năng diễn đạt của các em còn hạn chế.

       - Kinh nghiệm thực tế của học sinh còn ít.

       - Hầu hết học sinh chưa có ý thức tự nghiên cứu. Thói quen đọc sách tham khảo của học sinh chưa cao.

       - Đặc biệt, học sinh chưa biết cách chủ động phát hiện những lỗi sai cũng như cách khắc phục lỗi sai của mình trong bài văn viết. Các em hầu như chờ đợi vào sự góp ý của giáo viên.

       * Năm học 2018-2019 này, lớp 4A7 tôi chủ nhiệm có 55 học sinh. Để biết được chất lượng học phân môn Tập làm văn và cụ thể số lượng học sinh yêu thích, hứng thú khi học văn của lớp ra sao. Ngay từ cuối hè (khi mới nhận lớp) tôi đã xây dựng hai phiếu điều tra cho 55 học sinh lớp 4. Kết quả điều tra như sau:

      

       Bảng 1: Hứng thú của học sinh lớp 4 với phân môn Tập làm văn.

Tổng số HS

Thích học môn TLV

Không thích học môn TLV

Số HS

Số %

Số HS

Số %

55

32

58,2%

23

41,2%

 

 

 

 

 

            Bảng 2: Kết quả khảo sát hứng thú với các dạng bài Tập làm văn 4.

Dạng bài

Thích

Không thích

Số HS

Số %

Số HS

Số %

Văn kể chuyện

Văn miêu tả

Văn viết thư

Văn thuyết minh (Trao đổi ý kiến với người thân)

Văn nhật dụng (Điền vào giấy tờ in sẵn)

 

41

43

36

31

 

35

74,5%

78,2%

65,5%

56,4%

      63,6%

 

14

12

19

24

 

20

 

 

25,5%

21,8%

34,5%

43,6%

 

36,4%

 

 

       Dựa vào kết quả trên tôi thấy, năm học này cũng như các năm học trước, đa số các em yêu thích phân môn Tập làm văn. Đây là một điều dễ hiểu vì phân môn này cung cấp cho các em nhiều kiến thức, giúp các em bộc lộ cảm xúc của mình. Hơn thế nữa nó còn giúp các em biết cách nói, cách viết và viết được những câu văn, đoạn văn, bài văn hay.

       Qua bảng 2, tôi thấy văn kể chuyện và văn miêu tả được các em yêu thích hơn cả. Sở dĩ hai thể loại văn này được các em đón nhận hào hứng, sôi nổi là do cả hai dạng văn này đều rất gần gũi với các em. Các em dễ viết, dễ nói, dễ kể.

       Bên cạnh đó vẫn còn một số ít học sinh không thích học môn văn xuất phát từ lí do Tập làm văn khó viết, phải học nhiều dạng bài. Một số ít học sinh khác là do lười viết, ngại suy nghĩ, tư duy không chịu suy nghĩ từ lớp dưới dẫn tới tình trạng chán nản khi học và có tâm lí sợ môn Tập làm văn.

     III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KỸ NĂNG VIẾT VĂN CHO HỌC SINH

     Dựa trên cơ sở thực tế chương trình Tập làm văn - sách giáo khoa Tiếng Việt 4, căn cứ vào nội dung cấu trúc bài Tập làm văn  qua tìm hiểu thực tế dạy - học  phân môn này ở Tiểu học cùng với những căn cứ đã trình bày, tôi xin đưa ra một số biện pháp và hình thức dạy học nhằm củng cố kỹ năng viết văn cho học sinh lớp 4 như sau:

     1. Biện pháp thứ nhất: Tìm hiểu đề.

     Đây là bước không thể thiếu được khi làm một bài văn. Việc tìm hiểu đề bài có ý nghĩa rất quan trọng. Nó là bước định hướng cho cả quá trình làm bài của học sinh. Định hướng sai hay đúng sẽ quyết định bài làm sai hay đúng.

Ví dụ : Dạy làm bài văn: Viết thư (tuần 3 trang 35)

       Hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề bài bằng các câu hỏi:

       - Đề bài yêu cầu gì? (Viết thư gửi một bạn ở trường khác để hỏi thăm và kể cho bạn nghe tình hình ở lớp, ở trường em hiện nay).

       - Bài này thuộc loại văn gì? (Viết thư)

       Tôi gạch chân những từ quan trọng trong đề bài đã viết sẵn lên bảng phụ, giúp học sinh nắm vững yêu cầu của đề rồi đặt ra những câu hỏi sau:

       - Đề bài yêu cầu em viết thư cho ai? (Một bạn ở trường khác)

       - Đề bài xác định mục đích viết thư để làm gì? (hỏi thăm và kể cho bạn nghe tình hình ở lớp, ở trường em hiện nay).

       - Thư viết cho bạn cũ cùng tuổi, cần dùng từ xưng hô như thế nào? (xưng hô gần gũi, thân mật: bạn, cậu, mình, tớ).

       - Cần hỏi thăm bạn về những phương diện nào? (sức khỏe, việc học ở trường mới, tình hình gia đình, sở thích của bạn hiện nay: đá bóng, chơi cầu,…)

       - Cần kể cho bạn nghe những gì về tình hình ở lớp, ở trường hiện nay? (tình hình học tập, sinh hoạt, vui chơi: văn nghệ, thể thao, tham quan,… thầy cô giáo và bạn bè, kế hoạch sắp tới của lớp, trường…)

       - Nên chúc bạn, hứa hẹn điều gì? (chúc bạn khỏe, học giỏi, hẹn gặp lại,…)

       Nhờ có việc tìm hiểu đề trước khi làm bài nên học sinh có thói quen suy nghĩ, xác định đúng trọng tâm bài, ít có trường hợp bài viết bị lạc đề, giúp học sinh đạt kết quả tốt hơn.

       Ngoài việc tìm hiểu đề để học tốt môn Tập làm văn cần xác định cho học sinh thấy nó có mối quan hệ mật thiết với nhiều phân môn khác của môn Tiếng Việt đặc biệt là phân môn Tập đọc.

     2. Biện pháp thứ hai: Dạy Tập làm văn trong mối quan hệ mật thiết với phân môn tập đọc.

       Phân môn làm văn có quan hệ chặt chẽ với các phân môn khác của môn Tiếng Việt, nhưng phải nói đến quan hệ mật thiết số 1 với phân môn Tập đọc.

       Cấu trúc chung của sách giáo khoa Tiếng Việt 4 gồm 10 đơn vị học, mỗi đơn vị dạy trong 3 tuần, gắn với một chủ đề nhất định và được phân phối như sau:

       - Tập đọc: 2 văn bản (2 tiết/tuần).

       - Tập làm văn: 2 tiết/tuần.

       Mỗi bài tập đọc không chỉ đơn giản là một văn bản để dạy kiến thức và rèn kĩ năng của phân môn Tập đọc yêu cầu mà giáo viên cần hiểu mỗi bài văn đó cũng chính là một bài mẫu để dạy kiến thức làm văn. Cần khai thác triệt để các bài tập đọc để cung cấp thêm vốn kiến thức làm văn cho học sinh. Do vậy, ngay ở tiết Tập đọc, tôi đã lưu ý đúng mức tới những câu hỏi có nội dung liên quan tới tập làm văn để nhắc nhở các em chú ý và yêu cầu ghi nhớ nội dung đó…

Ví dụ 1 : Dạy thể loại văn Viết thư:

       Có thể dựa vào bài tập đọc: "Thư thăm bạn" (Tuần 3: Chủ điểm: Thương người như thể thương thân).

       Ngay ở phần luyện đọc học sinh đã xác định đọc theo 3 đoạn:

       + Đầu thư: Từ đầu… chia buồn với bạn (3 câu đầu).

       + Phần chính bức thư: Hồng ơi… đùng từ chối nhé!

       + Cuối thư: Phần còn lại.

       Học sinh đánh dấu bằng bút chì vào sách, như vậy thông qua phần luyện đọc các em hiểu được bố cục của bài văn viết thư gồm 3 phần.

       Trong phần tìm hiểu bài cần giúp các em khắc sâu kiến thức về cách viết một bức thư bằng hệ thống các câu hỏi:

       + Qua bức thư đã đọc, em nêu cách viết một bức thư như thế nào?

       - Đầu thư ghi như thế nào? (Địa chỉ, ngày tháng, nơi gửi, ngày gửi).

       - Phần chính cần thăm hỏi và kể những gì? (Thăm hỏi, thông báo tin tức cho nhau, trao đổi ý kiến, bảy tỏ tình cảm với nhau).

       - Cuối thư ghi thế nào? (Tình cảm, lời hứa hẹn, lời chúc).

       Giáo viên ghi phần nhận xét về cách viết một bức thư lên bảng phụ cho học sinh nhắc lại, khuyến khích học sinh thuộc ngay tại lớp.

       Ở phần dặn dò của bài tập đọc, tôi nhắc học sinh: Về nhà tập đọc tốt bức thư, có thể tập viết một bức thư ngắn (từ 10 - 12 dòng) cho người thân ở xa, chuẩn bị cho tiết làm văn.

       Khi dạy tiết làm văn ở tuần 3 (SGK trang 35):

       Đề bài : Viết thử gửi một bạn ở trường khác để hỏi thăm bạn và kể cho bạn nghe tình hình ở lớp, ở trường em hiện nay.

       Trước khi đi vào phần "Luyện tập" viết thư gửi một bạn ở trường khác… tôi hướng dẫn học sinh biết nhận xét (Phần I) dựa vào bài tập đọc "Thư thăm bạn" để trả lời các câu hỏi từ đó rút ra ghi nhớ (Phần II).

       Câu hỏi 1: Người ta viết thư để làm gì?

       Câu hỏi 2: Để thực hiện mục đích trên, bức thư cần có những nội dung gì?

       Câu hỏi 3: Một bức thư thường khởi đầu và kết thúc như thế nào?

       Học sinh từ đó trả lời rút ra ghi nhớ và giáo viên viết nội dung ghi nhớ của bài lên bảng:

       1. Người ta viết thư để thăm hỏi, thông báo tin tức, trao đổi ý kiến hoặc bày tỏ tình cảm với nhau.

       2. Một bức thư thường gồm 3 phần:

       a. Phần đầu thư:

       - Nêu địa điểm và thời gian viết thư.

       - Chào hỏi người nhận thư.

       b. Phần chính:

       - Nêu mục đích, lí do viết thư.

       - Thăm hỏi tình hình của người nhận thư hoặc nơi nhận viết thư sinh sống, học tập, làm việc.

       - Thông báo tình hình của người viết thư hoặc nơi người viết thư sinh sống, học tập, làm việc.

       - Nêu ý kiến trao đổi hoặc bày tỏ tình cảm với người nhận thư.

       c. Phần cuối thư:

       - Nói lời chúc, lời cảm ơn, lời hứa hẹn.

       - Người viết kí tên và ghi họ tên.

       Về mặt cấu tạo của lá thư gồm ba phần chính như trên, ở phần đầu và phần cuối thường theo qui ước. Nhưng ở phần chính thì theo điều kiện, lí do, hoàn cảnh của mỗi người mà phát triển nội dung phù hợp không theo mẫu. Đây chính là yêu cầu đòi hỏi học sinh phải sáng tạo bằng ngôn ngữ của mình.

       Khâu dặn dò của tiết học, tôi nhắc học sinh: Nhớ mẫu lá thư, nội dung thư.

       Như vậy, các nội dung của lá thư được học sinh làm quen ở tiết tập đọc, tiết tới ôn lại ở tiết làm văn, sẽ giúp học sinh bớt lúng túng khi làm bài ở tiết luyện tập, tiết kiệm được thời gian khai thác lí thuyết làm văn ở đầu tiết học.

       Tương tự, một số dạng bài làm văn khác cũng có thể tiến hành theo hướng như trên:

Ví dụ 2 : Dạy thể loại văn Kể chuyện (Trang 131, tuần 12)

- Nguyễn Hiền (Bài tập đọc: "Ông trạng thả diều" tuần 11).

- Bạch Thái Bưởi (Bài: "Vua tàu thủy Bạch Thái Bưởi" tuần 12).

- Lê-ô-nác-đô đa Vin-xi (Bài: "Vẽ trứng" tuần 12).

- Xi-ôn-cốp-xki (Bài: "Người tìm đường lên các vì sao" tuần 13).

Ví dụ 3 : Dạy thể loại văn Tả cây cối

- Dựa vào bài tập đọc: "Sầu riêng" trang 24 tuần 22.

- Bài "Hoa học trò" trang 43 tuần 23.

Ví dụ 4 : Dạy dạng bài nói theo yêu cầu

       Để thực hiện được dạng bài tập này đòi hỏi học sinh phải có sự hiếu biết nhất định về đời sống xã hội, những kiến thức tự nhiên, xã hội, con người,…

       Trên thực tế học sinh lớp 4 hiểu biết về đời sống xã hội chưa nhiều, nhất là những học sinh có điều kiện khó khăn ít có điều kiện giao tiếp, dã ngoại, du lịch,…

       Hiện tại học sinh lớp 4 tôi chủ nhiệm cha mẹ không còn làm nông nghiệp. Những năm gần đây, khu vực này đã đô được thị hóa nên những hiểu biết của học sinh  về cuộc sống của nông thôn không nhiều. Đặc biệt các em còn nhỏ, ít giao tiếp, dã ngoại nên những hiểu biết về tập quán của các địa phương còn hạn chế.

       Vì vậy, việc khai thác triệt để các bài tập đọc để giúp học sinh có tư liệu, kiến thức làm bài là rất cần thiết.

       Chẳng hạn, tuần 16 khi dạy bài: "Luyện tập giới thiệu địa phương".

       Một học sinh đọc yêu cầu bài 1: Đọc lại bài "Kéo co" và cho biết bài ấy giới thiệu tập quán của những địa phương nào. Thuật lại các tập quán đã được giới thiệu.

       - Cả lớp đọc lướt bài "Kéo co" trong SGK và trả lời câu hỏi:

       (Bài văn giới thiệu tập quán kéo co của làng Hữu Trấp, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh và làng Tích Sơn, thị xã Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc).

       Ở đây học sinh cần phân biệt được hai tập quán kéo co rất khác nhau của hai vùng:

       Câu hỏi 2: Trò chơi kéo co ở làng Hữu Trấp và Tích Sơn có gì đặc biệt?

       Để chuẩn bị cho học sinh làm bài tập 2 ở tiết tập làm văn "Luyện tập giới thiệu địa phương" tôi đã khuyến khích học sinh sưu tầm tranh ảnh về các trò chơi hoặc lễ hội ở các vùng trên đất nước ta.

       - Tìm đọc các trò chơi khác (ngoài trò chơi kéo co) thể hiện tinh thần thượng võ của dân tộc.

       - Yêu cầu học sinh ghi lại vào nháp những hiểu biết của mình về các lễ hội, trò chơi thể hiện tinh thần thượng võ của dân tộc mà em đã được chứng kiến hoặc được xem ti vi, tranh ảnh, sách báo.

       Sau khi dạy bài tập đọc "Kéo co", ở phần dặn dò, tôi nhắc nhở học sinh những điều trên. Nhờ vậy, các em về nhà chuẩn bị bài tương đối kĩ, từ đó có tâm thế để làm tốt bài 2 ở tiết làm văn, bớt sự lúng túng, tạo sự tự tin.

       Trước khi làm bài 2 học sinh đã có tư liệu, hình ảnh về các trò chơi, lễ hội vì vậy ngoài 6 bức tranh trong sách học sinh có thể giới thiệu được nhiều trò chơi khiến tiết học trở nên sôi động, phong phú, hấp dẫn và đạt hiệu quả cao

     3. Biện pháp thứ ba: Làm giàu vốn từ

     Học sinh hiểu thêm một từ mới là hiểu thêm một khái niệm mới. Vì vậy, ngôn ngữ gắn bó rất chặt chẽ với tư duy. Ngôn ngữ phát triển thì tư duy cũng phát triển. Trong tất cả các giờ học Tiếng Việt, tôi đã cung cấp và làm giàu vốn từ ngữ cho các em nhất là từ tượng thanh, tượng hình, từ chỉ màu sắc, rất cần trong văn miêu tả.

      Trong thực tế, chúng ta có thể áp dụng các dạng bài sau:

      3. 1. Khai thác các từ ngữ trong dân gian theo chủ đề.

       - Để dời chỗ một vật gì ta có các từ: Mang, vác, xách, khiêng, gánh, thồ, đèo, lai, bồng, bế, ẵm, cõng,

      3. 2. Uốn nắn, sửa chữa từ dùng thiếu chính xác

       * Với câu: "Bắt được chuột, mèo cầm ra một chỗ nhai móm mém".

       - Tôi đã đưa ra câu hỏi: Trong câu trên, từ nào dùng thiếu chính xác? Vì sao?

       - Học sinh nhận xét: "cầm", "móm mém" là các từ dùng sai vì:

       + Cầm: Hoạt động làm bằng tay mà mèo không có tay.

       + Móm mém: Hoạt động nhai trệu trạo như không có răng mà trên thực tế răng mèo rất sắc.

       - Học sinh sửa bằng từ: Tha, ngoạm, ngấu nghiến, rau ráu.

       - Học sinh có thể nhận xét thêm từ "bắt" dùng chưa hay, sửa thành từ "vồ" cho phù hợp.

      Với cách uốn nắn, sửa chữa như trên tôi nhận thấy: Đa số học sinh trong lớp đã có ý thức chọn lựa từ khi viết. Biết nhận xét, tự sửa và giúp bạn làm cho bài văn ngày càng sáng sủa, rõ nghĩa.

     3. 3. Cung cấp kiến thức trên thực tế, rèn viết đoạn văn theo chủ đề nhỏ

     Kinh nghiệm cho thấy, các kiến thức thực tế giúp bài văn của học sinh chân thật, giàu cảm xúc. Giáo viên cần giúp học sinh tìm tòi, hệ thống lại những kiến thức ấy thành một chủ đề gắn với thể loại dạng văn học:

Ví dụ: Khi dạy văn miêu tả, tôi tìm và cung cấp các kiến thức như "hình ảnh bốn mùa của đất nước ta".

 Mùa xuân: Chim én bay liệng báo hiệu mùa xuân về, tiết trời ấm áp, cây cối đâm chồi nảy lộc, mặt đất tràn đầy nhựa sống, gió xuân hây hẩy nồng nàn, mưa xuân phơi phới, Tết cổ truyền dân tộc, hoa đào nở ở miền Bắc, hoa mai nở ở miền Nam, các lễ hội được tổ chức, mọi người vui lây cùng cảnh vật.

Mùa hè: Bầu trời trong xanh, mây trắng bay nhè nhẹ, ánh nắng rực rỡ, chói chang, hoa phượng nở đỏ rực, ve kêu râm ran, buổi tối trời đầy sao, mưa rào, bơi lội, du lịch, nghỉ mát,…

Mùa thu: Mùa khai trường, gió se se lạnh, nắng vàng trải khắp nơi, bầu tròi trong xanh, mát lành. Đặc biệt ở nước ta có cốm vòng, có chuối trứng cuốc, có Tết trung thu, múa lân dân tộc,…

Mùa đông : Mưa phùn gió bấc, trời rét căm căm, sương mù, cây cối khẳng khiu, trụi lá,…

Các dạng bài để luyện tập:

-  Viết 7 đến 10 câu tả chú gà trống trong một buổi sáng đẹp trời.

- Viết đoạn văn ngắn tả đàn gà sau cơn mưa có những từ đã làm.

- Viết đoạn văn ngắn tả cây hoa ngày tết.

* Với những đề tài nhỏ, cụ thể như trên chỉ một thời gian ngắn tôi thấy vốn từ các em tăng khá nhanh, văn viết gọn gàng, súc tích, sự cảm nhận cảnh vật thiên nhiên phong phú lên rất nhiều.

     4. Biện pháp thứ tư: Luyện viết câu văn sáng sủa, ngắn gọn, sử dụng các dấu ngắt câu

     4. 1. Luyện viết câu văn sáng sủa, ngắn gọn

     a. Tập chữa những câu rườm rà, tối nghĩa:

       Học sinh chữa những câu này trong giờ tập làm văn trả bài.

Ví dụ1: Khi trả bài văn : Tả cây cho bóng mát. Một học sinh đã tả cây bàng như sau:

- Câu rườm rà: "Trong sân trường có một cây to, đó là cây bàng rất to".

Tôi yêu cầu học sinh gạch dưới những từ dùng chưa hợp lí hoặc những từ bị lặp trong từng câu trên rồi viết lại cho đúng.Từ đó học sinh đã sửa như sau:   Trong sân trường em có một cây cổ thụ. Đó chính là bác bàng già đứng sừng sững trước cửa lớp em.

Ví dụ:

- Sửa những câu thiếu chủ ngữ, vị ngữ:

+ "Những cánh buồm trắng nhấp nhô trên mặt biển ấy".

+ "Những cô bé ngày nào nay đã trở thành".

+ "Trên mặt nước loang loáng như gương".

        Tôi đặt câu hỏi: Những dòng trên đã thành câu chưa? Chúng thiếu bộ phận nào? Hãy sửa lại cho đúng.

       * Sau khi học sinh sửa những câu trên, tôi rút ra những trường hợp đặc biệt của những câu sai để học sinh dễ nhớ, dễ sửa và tránh viết sai.

Ví dụ: Từ dùng để chỉ trỏ như "ấy, kia, này,…”  đứng sau cụm từ ngữ nào hay cụm chủ - vị nào thì cụm chủ - vị đó trở thành chủ ngữ. Hay những cụm từ để chỉ vị trí như "trên, dưới, trước, sau, trong,…" đứng trước cụm chủ - vị làm cụm đó trở thành trạng ngữ.

       - Sửa những câu sai về nghĩa:

       Trong bài văn Tả con vật nuôi trong nhà mà em yêu thích. Một học sinh đã tả con mèo :

       “Em rất yêu chú mèo nhà em. Vì thế, hàng ngày, em cho chú ăn nhiều của ngon, vật lạ như cua rang muối, tôm hấp bia”.

       Câu trên tuy không mắc lỗi về ngữ pháp nhưng lại phạm sai lầm về ý nghĩa thực tế. Tôi đã hướng dẫn các em sửa lại như sau:

       + Em rất yêu chú mèo nhà em. Vì thế hàng ngày, em thường cho chú ăn cá- món ăn mà chú yêu thích.

       Hoặc:

       + Em rất yêu chú mèo nhà em. Vì thế hàng ngày, em thường trộn cơm với cá cho chú ăn.

Tóm lại: Đối với các câu sai của học sinh, mục đích của tôi là phải sửa câu sai thành câu đúng mà vẫn giữ được nghĩa gốc của văn bản.

c. Tập mở rộng câu bằng cách thêm thành phần phụ:

Ví dụ: Chim hót.

 - Mấy chú chim họa mi/ hót. (Mở rộng chủ ngữ).

 - Mấy chú chim họa mi/ đang hót líu lo. (Mở rộng chủ ngữ và vị ngữ).

 - Trên cành xoan, mấy chú chim họa mi / đang hót líu lo. (Mở rộng trạng ngữ).

      Học sinh làm tốt phần này không những các em làm văn hay, sinh động mà còn góp phần học tốt phân môn ngữ pháp (tìm chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ, định ngữ, bổ ngữ).

     4. 2. Cách sử dụng các loại dấu câu.

     Hiện nay, trong nhà trường một số giáo viên còn coi nhẹ việc dạy dùng dấu ngắt câu. Vả lại, tiết dạy về dấu ngắt câu và thực hành về dấu ngắt câu còn quá ít. Chính vì vậy, câu văn của học sinh thường rối rắm, ý không rõ ràng, mạch lạc. Có trường hợp một học sinh viết cả bài văn không có một dấu chấm câu nào. Qua khảo sát cho thấy có đến 40% học sinh sử dụng chưa thành thạo các dấu câu. Chính vì vậy, tôi thường xuyên cho các em luyện tập, sử dụng hai loại dấu câu thường dùng: Dấu chấm và dấu phẩy.

      a. Cách sử dụng dấu phẩy:

       - Tôi cung cấp cho học sinh biết dấu phẩy được dùng trong các trường hợp.

       + Ngăn cách trạng ngữ với cụm chủ - vị.

       + Ngăn cách các bộ phận cùng chức vụ (câu có nhiều chủ ngữ, nhiều vị ngữ, nhiều trạng ngữ,..).

       + Ngăn cách bộ phận chú thích với bộ phận được chú thích và các bộ phận khác của câu.

       - Tôi đã đưa ra nhiều trường hợp cho các em luyện tập. Có thể chọn một đoạn văn hay trong sách Tiếng Việt rồi lược bỏ dấu câu cho học sinh tự điền.

 Ví dụ: Đặt dấu phẩy vào những chỗ thích hợp trong đoạn văn sau rồi nói rõ tác dụng của từng dấu phẩy:

        "Mùa xuân cây gạo gọi đến bao nhiêu là chim. Chào mào sáo sậu sáo đen… đàn đàn lũ lũ bay đi bay về. Chúng nó gọi nhau trêu ghẹo nhau chuyện trò ríu rít… Hết mùa hoa chim chóc cũng vãn".

     b. Cách sử dụng dấu chấm:

     Tôi cho học sinh hiểu dùng dấu chấm khi đã diễn đạt hết một ý trọn vẹn. Nên viết câu văn ngắn gọn, dễ hiểu. Luyện chấm câu có nhiều cách.

Ví dụ:

       * Tôi viết lên bảng một đoạn văn có những dấu chấm sử dụng không hợp lí. Yêu cầu học sinh khoanh vào những dấu chấm đó trong đoạn văn rồi chép lại đoạn văn vào vở sau khi đã loại bỏ các dấu chấm dùng không đúng và viết hoa lại cho hợp lí.

       “Cô giáo bước vào lớp, chúng em. Đứng dậy chào. Cô mỉm cười vui sướng. Nhìn chúng em bằng đôi mắt dịu hiền. Tiết học đầu tiên là tiết tập đọc. Giọng cô thật ấm áp. Khiến cả lớp chăm chú lắng nghe. Cô giảng bài rất dễ hiểu. Những cánh tay nhỏ nhắn cứ rào rào giơ lên phát biểu. Bỗng hồi trống vang lên. Thế là hết tiết học đầu tiên và em cảm thấy rất thích thú”.

       * Hoặc tôi cho một đoạn văn quên không đặt dấu chấm rồi yêu cầu học sinh lên bảng dùng phấn màu đẻ ngắt câu và điền dấu chấm cho thích hợp vào đoạn văn.

       “ Chiếc bút dài khoảng một gang tay người lớn/ thân bút tròn như ngón tay của mẹ, được làm bằng nhựa tổng hợp, nhẵn bóng/phần thân bút màu xanh lá cây thon thon như viên phấn màu/nắp bút bằng sắt mạ vàng óng ánh/phía trên nắp bút có gắn thêm một que gài cũng mạ vàng dùng để cài vào túi áo rất tiện/”

    Với hình thức dạy học như trên tôi thấy: Lỗi ngữ pháp trong bài tập làm văn của các em đã giảm nhiều. Bài văn của các em rõ ràng hơn, mạch lạc hơn.

     5. Biện pháp thứ năm: Tập diễn đạt cho câu văn sinh động, có hình ảnh.

     Viết câu văn đúng ngữ pháp, vẫn chưa đủ mà phải viết hay, viết phải có nghệ thuật mới thành văn. Để các em viết được câu văn sinh động, giàu hình ảnh, giàu cảm xúc, tôi đã phải kiên trì luyện tập cho các em theo phương châm đi từ thấp đến cao.

     5. 1. Dùng từ gợi tả màu sắc, âm thanh.

       Giúp các em thấy được ưu việt của các từ gợi tả màu sắc, âm thanh khi miêu tả sự vật.

     Các dạng bài để luyện tập:

       - Cho một câu văn, một đoạn văn hoặc đoạn thơ hay có sử dụng các từ gợi tả màu sắc, âm thanh để học sinh tự tìm và nêu cái hay của mỗi từ đó.

Ví dụ:

      + Hãy nêu rõ tác dụng gợi tả của mỗi từ láy sau:

Quýt nhà ai chín đỏ cây,

Hỡi em đi học hây hây má tròn

Trường em mấy tổ trong thôn

Ríu ra ríu rít chim non đầu mùa.

Tố Hữu

Trả lời:

       Tác dụng gợi tả:

       + Hây hây (má tròn): màu da đỏ phơn phớt trên má, tươi tắn và đầy sức sống.

       + Ríu ra ríu rít: nhiều tiếng chim kêu hay tiếng cười nói trong và cao, vang lên liên tiếp và vui vẻ.

       + Trong đoạn văn dưới đây, tác giả dùng những từ ngữ nào để gợi tả hình dáng con chim gáy? Cách dùng từ ngữ như vậy đã giúp em hình dung được con chim gáy như thế nào?

       Con chim gáy hiền lành, béo nục. Đôi mắt nâu trầm ngâm ngơ ngác nhìn xa, cái bụng mịn mượt, cổ yếm quàng chiếc tạp dề công nhân đầy hạt cườm lấp lánh biêng biếc. Chàng chim gáy nào giọng càng trong, càng dài thì quanh cổ càng được đeo nhiều vòng cườm đẹp.

Trả lời:

       Những từ ngữ gợi tả hình dáng con chim gáy: béo nục, đôi mắt nâu trầm ngâm ngơ ngác nhìn xa, cái bụng mịn mượt, cổ yếm quàng chiếc tạp dề công nhân đầy hạt cườm lấp lánh biêng biếc.

       Cách dùng từ ngữ của tác giả đã giúp ta hình dung được con chim gáy rất cụ thể và sinh động; nó có vẻ đẹp thật hiền lành, phúc hậu và đáng yêu.

       - Cho đoạn văn hoặc câu văn thiếu hình ảnh, chưa diễn đạt cụ thể để học sinh tự sửa bằng cách thêm những từ gợi tả màu sắc, âm thanh.

Ví dụ:

       + Cô giáo đưa ra câu "Nước sông chảy vào đồng". Câu này thiếu hình ảnh, tôi đã hướng dẫn học sinh sửa thành câu "Nước sông tung bọt trắng xóa, chảy ào ào vào đồng".

       + Sửa câu "Mấy con chim hót trong bụi cây" (thiếu âm thanh) thành câu "Mấy con chim nhảy nhót, hót ríu rít trong bụi cây".

     5. 2. Đưa nghệ thuật vào bài văn

     Nói đến nghệ thuật, ta đã có một cảm giác nó cao siêu và xa vời với học sinh tiểu học. Nhưng ở đây, cái “nghệ thuật” đối với các em, nó chỉ đơn giản là việc chọn lọc từ ngữ, hình ảnh và sử dụng các biện pháp so sánh, nhân hoá, ...

     Bởi vậy, nó cũng rất gần gũi và quen thuộc vì các em đã có được cả một quá trình học tạp và rèn luyện. Trong quá trình tập diễn đạt các nội dung, ta chỉ cần gợi ý là các em có thể diễn đạt tốt.

     a. Tập dùng biện pháp so sánh

     Phần lớn các em chỉ nhận ra hình ảnh so sánh trong các câu văn. Để các em có thói quen sử dụng biện pháp so sánh tạo ra những câu văn hay, tôi luôn giúp các em biết cảm nhận cái đẹp, cái mới của sự vật khi được so sánh.

Các dạng bài để luyện tập:

       - Cho một câu văn, một đoạn văn hay có sử dụng biện pháp so sánh để học sinh tự tìm và nêu cái hay của biện pháp so sánh đó.

Ví dụ:

Tìm cái hay của biện pháp so sánh trong câu ca dao sau:

"Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra".

       - Giúp học sinh biết so sánh sự vật này với sự vật khác làm câu văn cụ thể hơn. Học sinh biết dùng thành thạo các tù dùng để so sánh: như, bằng, giống,…

Ví dụ:

       Học sinh viết: Cây bàng rất to, tán lá xum xuê.

       Sửa lại là: Cây bàng ở trước sân trường gốc to một người ôm không xuể, tán lá xum xuê như một chiếc ô khổng lồ.

       - Hãy thêm vế câu để có hình ảnh so sánh thích hợp vào mỗi ô trống để mỗi dòng dưới đây trở thành câu văn có ý mới mẻ, sinh động.

Ví dụ:

       + Lá cọ tròn, xòe ra nhiều phiến nhọn, dài, trông xa như… (bàn tay vẫy hoặc mặt trời mới mọc,…).

       + Hoa bỏng treo lủng là lủng lẳng từng chùm trên cây như… (những chiếc đèn lồng nhỏ xíu hoặc những đốm lửa,…).

       - Tập so sánh: cho đoạn văn thiếu hình ảnh, chưa diễn đạt cụ thể, ít cảm xúc hoặc cho những sự vật cụ thể để học sinh tự sửa bằng cách thêm biện pháp so sánh hoặc viết những câu văn có hình ảnh so sánh..

Tóm lại: Với cách làm như vậy, trí tưởng tượng của học sinh sẽ ngày càng phong phú, khả năng diễn đạt câu văn cũng ngày được nâng cao. Các bài viết của các em hay hơn, giàu hình ảnh hơn.

     b. Tập dùng biện pháp nhân hóa

     Đây là biện pháp nghệ thuật rất quen thuộc đối với các em. Để thấy được sự ưu việt của biện pháp nghệ thuật này, tôi đưa ra từng bài tập cụ thể để học sinh tập phát hiện các biện pháp nhân hóa được sử dụng, nâng một bước mới cho các em tập sửa từng trường hợp cụ thể.

Ví dụ : So sánh tìm câu văn hay trong các cặp câu sau:

a. Thân chuối màu đen khô ráp vì nắng gió.

- Chị chuối thật giản dị trong bộ áo đen khô ráp vì nắng gió.

b. Gốc hồng màu đen xám.

- Gốc hồng như người mẹ già đi trong bộ áo xám đến nhường sắc non xanh cho hoa, cho lá.

c. Bông hồng nhung vươn cao.

- Bông hồng nhung kiêu hãnh vươn cao, hình như cô rất tự hào với sắc đẹp của mình.

d. Nắng chiếu đầy vòm lá.

- Nắng tinh nghịch giỡn đùa trên vòm lá.

     6. Biện pháp thứ sáu: Dạy viết bài văn

     Mục tiêu lớn nhất của việc dạy văn là hiệu quả của bài viết: một bài văn hay là một bài văn được kết hợp từ nhiều yếu tố. Nội dung, nghệ thuật và cảm xúc. Nhiệm vụ của người giáo viên là làm sao để bài văn của học sinh dần có được tất cả các yếu tố đó. Muốn vậy, trong các tiết Tập làm văn, tôi lần lượt giúp học sinh giải quyết ba nhiệm vụ sau:

     6. 1. Xây dựng nội dung:

     Phong phú về nội dung là yêu cầu đầu tiên của một bài viết tốt. Giải quyết nhiệm vụ này là tương đối khó, nhưng nếu chúng ta nghiên cứu và hướng dẫn kỹ lưỡng thì bài văn của các em sẽ đảm bảo tốt yêu cầu này. Cần lưu ý đến hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa vì chương trình văn được soạn cho trình độ phổ cập nên với các lớp khá ta có thể bổ sung thêm. Mục tiêu của tôi là mỗi bài văn của học sinh phải có sự hoàn thiện về bố cục (có đủ ba phần: Mở bài, thân bài và kết bài), ý phong phú, bài viết có trọng tâm.

      Khi đã có sự hoàn thiện về bố cục, tôi lại tiếp tục chú ý đến nội dung của thân bài. Muốn bài văn của học sinh có sự phong phú về ý thì học sinh phải biết cách trả lời câu hỏi. Thường mỗi câu hỏi phải được trả lời bằng một đoạn văn chứ không phải bằng một câu cộc lốc.

Ví dụ như với câu hỏi:

       - Thân cây thế nào? (trong bài quan sát cây hoa hồng). Tôi không thể bằng lòng với câu trả lời kiểu:

       + "Thân cây khẳng khiu, cành cây đâm ra mọi phía". Mà tôi đòi hỏi ở các em sự quan sát kỹ lưỡng (về màu sắc, độ cao… cách bố trí các cành, cành non, cành già, gai…) và câu trả lời bằng cả một đoạn văn.

       + Thân cây thâm thấp, màu xanh tươi. Cành cây khẳng khiu đan chéo vào nhau, vươn ra mọi phía. Đôi ba mầm non vừa mới vươn lên mập mạp đầy sức sống. Rải rác trên thân cành là những chú gai nhọn hoắt đứng nghiêm trang như những chú lính gác cho nàng công chúa hoa hồng).

       Rèn luyện thói quen quan sát nhiều góc cạnh của sự vật sẽ giúp học sinh có được những bài văn rất giàu về ý. Tuy nhiên, không thể cứ dàn trải, lan man mà bài văn bao giờ cũng có trọng tâm. Học sinh có thể lướt qua những chi tiết phụ nhưng phải viết thật sâu ở những chi tiết chính.

Ví dụ : Với những bài " Tả cây hoa" thì học sinh phải có đoạn văn tả thật kĩ về hoa. Các em phải ngắm tổng thể hoa trên cây, ngắm chi tiết từng bông, Bông nở to, bông chúm chím, nụ… phát hiện vẻ đẹp riêng của chúng, so sánh chúng. Quan sát kĩ từng cành lá, cách cấu tạo và điều quan trọng nhất là phải làm nổi bật hình ảnh loài hoa, cây hoa mình quan sát. Chẳng hạn:

       + "Nổi bạt trên tán lá là những bông hồng đỏ thắm, đẹp lạ lùng. Cánh hoa đỏ thẫm mịn màng như nhung, ken dày vào nhau cuốn quanh vầng nhụy. Đôi ba bôm chúm chím e lệ, kiều diễm, duyên dáng như những nàng công chúa. Một vài bông muốn khoe hết vẻ đẹp của mình, xòe rộng từng chiếc cánh, phô vầng nhụy vàng óng, trông chúng lộng lẫy như những nữ hoàng. Nụ hoa bé bé trông như những chiếc tháp nhỏ màu xanh xinh xắn cố vươn cao lên để mọi người chú ý đến nó. Phảng phất quanh cây là những hương thơm dìu dịu. Mùi hương quyến rũ của hoa đã khiến ong bướm bay tới rập rờn. Hoa hồng đẹp nhất vào buổi sáng sớm. Khi ấy những hạt sương còn đọng trên cánh hoa, long lanh như hạt ngọc. Mọi người đi qua, ai cũng trầm trồ khen: "Hoa hồng đẹp quá".

     6. 2. Đưa cảm xúc vào bài văn

     Một bài văn hay thì không thể thiếu được cảm xúc của người viết. Cảm xúc này không chỉ tập trung ở phần kết luận. Nó phải được thấm đậm trong từng câu, từng lời của bài văn. Đối với học sinh thì điều này thật là trừu tượng. Bởi vậy, ta không nên đòi hỏi các em một cách chung chung. Cần phải hướng dẫn các em đưa cảm xúc vào bài văn với những gợi ý thật cụ thể:

     Kết hợp những yếu tố: nội dung, nghệ thuật và cảm xúc thì bài văn của học sinh sẽ đạt tới một thành công rất lớn. Nó sẽ là cơ sở ban đầu để chúng ta tiếp tục vun trồng tạo nên những tài năng văn học.

     7. Biện pháp thứ bảy: Dạy tốt tiết trả bài Tập làm văn

      Yêu cầu của tiết trả bài tập làm văn là giáo viên phải đánh giá kết quả làm bài của học sinh, phát huy được ưu điểm và tự sửa chữa những lỗi sai trong bài viết của mình. Làm tốt tiết trả bài tập làm văn là giáo viên đã đẩy mạnh việc giáo dục tư tưởng, tình cảm và rèn luyện kĩ năng viết cho học sinh lên một bậc. Công việc giảng dạy này mang tính khoa học và nghệ thuật đòi hỏi mỗi giáo viên phải đầu tư nhiều công sức, luôn luôn có ý thức vươn lên và sáng tạo không ngừng.

     Để dạy tôt tiết trả bài tập làm văn, tôi đã tiến hành theo các bước sau:

       * Chấm bài kĩ, nhận xét, chỉ ra được những ưu điểm, những tồn tại trong bài viết của từng học sinh.

       - Khi nhận xét bài cho học sinh, cần có thái độ khách quan, vô tư, tránh định kiến. Đánh giá một bài văn phải coi trọng cả nội dung lẫn hình thức. Và đặt ra một tiêu chuẩn thống nhất để viết lời nhận xét chứ không tùy tiện so sánh bài này với bài khác.

       - Lời nhận xét, đánh giá cũng cần thể hiện tính động viên, nếu có thiếu sót phải ghi cụ thể để khi xem bài học sinh có thể sửa được. Do vậy, khi phê vào bài, phải cân nhắc ki, sao cho đúng mới có hiệu quả thiết thực.

       * Lập bảng nhận xét và sắp xếp chọn lọc lỗi dự định sửa trên lớp.

       Khi chấm bài, tôi chuẩn bị sẵn bảng nhận xét để trong quá trình chấm bài, tôi ghi những ưu điểm và một số lỗi chính cần sửa của học sinh. Đây chính là những nội dung không thể thiếu trong tiết văn trả bài.

       Vì thời gian trên lớp của tiết trả bài hạn chế, có thể chỉ sửa những lỗi điển hình mà  học sinh trong lớp thường hay mắc phải. Làm như vậy, học sinh sẽ tập trung chú ý vào lỗi cần chữa mà không có tình trạng bỏ sót lỗi. Khi lựa chọn, cần phân loại xem lỗi nào sẽ chữa miệng, lỗi nào sẽ chữa tập thể (in trên phiếu bài). Thông thường các lỗi về nội dung bài tập làm văn, các em thường có những hiểu biết lệch lạc trong khi làm bài. Các phần thiếu cân đối, chưa có trọng tâm hoặc các ý chưa có sự liên kết với nhau.... Những lỗi này, tôi thường cho học sinh chữa miệng. Còn những lỗi về chính tả, lỗi dùng từ, lỗi câu hay lỗi về cách diễn đạt thì tôi xây dựng thành phiếu bài tập cho học sinh làm.

Ví dụ: Lỗi về hình thức (in trên phiếu bài).

       + Lỗi chính tả:

       Bài tập: Gạch dưới các tiếng viết sai chính tả trong các từ sau và viết lại cho  lại  đúng : ngìn ngịt, ngoằn nghèo, xèo bóng, bồng bền, sần sùi.

       + Lỗi dùng từ:

       Gạch dưới những từ dùng chưa chính xác và tìm những từ ngữ để thay thế những từ đó trong câu sau:

       ( Một) ngày tới lớp con đường thêm( gắn chặt) với em.

       Sau cơn mưa, con đường trông (trắng trẻo) hơn trước.

       + Lỗi câu:

       Sửa lại những câu sau đây cho đúng ngữ pháp (Bằng cách thêm hoặc bớt một số từ):

       Trên con đường làng quen thuộc dẫn đến trường em.

       Sửa lại:

       Con đường làng quen thuộc dẫn đến trường em.

       Trên con đường làng quen thuộc dẫn đến trường em, nhà cửa mọc lên san sát.

      + Lỗi diễn đạt:

      Đọc đoạn văn sau, nhận xét cách diễn đạt các ý trong đoạn văn đó rồi viết lại cho hay hơn.

      “Hoa hồng có nhiều cánh. Cánh hoa màu đỏ thắm. Cánh hoa hồng mịn màng, mềm mại. Cánh hoa hồng xếp so le nhau. Ở giữa cánh là nhị hoa màu vàng”.

       Học sinh sẽ nhận được các câu văn miêu tả cánh hoa hồng trong đoạn văn trên bị vụn vặt, từ “cánh hoa” dùng bị lặp. Câu cuối tả chưa hợp lí.

      Sửa lại:

      “ Hoa hồng có nhiều cánh. Cánh hoa đỏ thắm, mịn màng như nhung, xếp so le nhau. Chúng e ấp như nàng công chúa đang làm duyên che lấp nhị vàng”.

       * Cuối tiết văn trả bài tôi không quên gọi những học sinh có những đoạn văn hay(đoạn mở bài, đoạn tả bao quát, tả hình dáng con vật, hoặc đoạn kết bài...), bài văn hay được điểm cao lên đọc cho cả lớp nghe. Hoặc tôi đọc cho học sinh nghe một số bài văn đạt kết quả cao của học sinh các năm trước tôi đã sưu tầm được để các em học tập.

       * Bản thân tôi thường xuyên lưu lại những bài văn xuất sắc của học sinh lớp mình qua mỗi năm học thành tuyển tập. Đây chính là tài liệu rất quí giá, là những bài mẫu thiết thực nhất, gần gũi nhất đối với học sinh mỗi khi tôi đọc cho các em tham khảo.

       * Với các bước tiến hành trên, tôi thấy sau tiết trả bài, học sinh được củng cố thêm về qui tắc chính tả, cách dùng từ  hợp lí và có ý thức chọn lựa từ  ngữ khi viết bài. Đặc biệt, khả năng diễn đạt những suy nghĩ, cảm xúc của các em bằng những câu văn, đoạn văn, bài văn rõ ràng, mạch lạc hơn. Các em đã tích cực, chủ động, mạnh dạn và hứng thú hơn trong các tiết : Luyện tập xây dựng đoạn văn; Luyện tập xây dựng đoạn mở bài, đoạn kết bài,....Nhiều em đã viết được đoạn văn hay ngay trong tiết học và được đọc cho các bạn nghe tham khảo. Các em rất phấn khởi và tự tin khi học Tập làm văn. Bước đầu hứng thú với phân môn này.

     IV. KẾT QUẢ

      Từ những nhận thức mang tính phôi thai ban đầu, tôi đã cố gắng hoàn thiện những biện pháp trên và ứng dụng một cách khoa học, phù hợp với đặc điểm thực tế của lớp tôi và của trường tôi. Kết quả đã phần nào khẳng định những biện pháp mà tôi đưa ra có tính hiệu quả cao. Cụ thể:

* Học sinh:

       - Các em đón nhận tiết học rất sôi nổi, hào hứng và tự giác.

       - Biết cách lập sổ tay văn học và có thói quen ghi chép lại những hình ảnh đẹp, những câu văn hay, những chi tiết xúc động.

       - Biết cách trình bày, trao đổi, tranh luận về những vấn đề gần gũi với đời sống và phù hợp với trình độ của học sinh lớp 4.

       - Các em được rèn 4 kĩ năng nghe, nói, viết, đọc. Nhiều em không những nói, viết thành câu mà còn biết diễn đạt rõ ý, sinh động và gợi cảm. Đặc biệt các em biết cách lập dàn ý cho bài văn, rút ra dàn ý từ đoạn văn đã cho sẵn hay chuyển dàn ý thành đoạn văn, bài văn.

       - Một số em (chủ yếu là nam) thời gian đầu năm học còn không thích học thậm chí còn sợ môn Tập làm văn xuất phát từ lí do môn này khó viết, khó nói, phải học nhiều dạng bài. Nhưng cho đến nay, những em đó thấy tự tin hơn, đã không cảm thấy ngại khi học Tập làm văn.

- Hơn nữa các em được trau dồi từng bước về cảm thụ văn học, giúp cho việc viết câu văn, đoạn văn hay bài văn hay hơn, hồn nhiên, trong sáng và bộc lộ cảm xúc.

- Các em ham thích đọc sách, cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong tác phẩm văn học.

- Nhiều em yêu thích môn Tập Làm văn vì nó sôi nổi, đề tài phong phú, cung cấp cho các em nhiều kiến thức, giúp các em bộc lộ cảm xúc của mình, và giúp các em biết cách nói, cách viết được những câu văn hay. Việc học tốt môn Tập tập làm văn cũng giúp các em học các môn khác tốt hơn.

* Giáo viên: Việc biết sử dụng các biện pháp dạy học như đã nêu đã giúp cho tôi đã đạt được những yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học. Đó là:

       - Chuyển từ phương pháp truyền thụ sang phương pháp mới: Tích cực hoá hoạt động của học sinh, trong đó giáo viên đóng vai trò người tổ chức hoạt động của học sinh, tháo gỡ khó khăn, thắc mắc của học sinh. Vì vậy trong tiết học, tôi không phải nói nhiều như trước đây.

       - Giữa tôi và học sinh có sự phối hợp nhịp nhàng, gây hứng thú cho cả giáo viên và học sinh.

       - Giờ học sôi nổi, vui vẻ, nhẹ nhàng, không còn căng thẳng, nặng nề như trước.

       - Các tiết dạy chuyên đề, dự thi giáo viên giỏi  cấp trường đều đạt kết quả cao.

* Chính nhờ học tốt phân môn Tập làm văn đã giúp cho kết quả chung của môn Tiếng Việt cũng cao hơn. Các em yêu thích học phân môn tập làm văn một cách rõ rệt.

       Tôi thấy, sau gần một năm học tập, rèn luyện bằng sự lao động nỗ lực của thầy và trò, chất lượng học văn của lớp được nâng cao rõ rệt. Từ chỗ, các em chưa viết được bài văn hay, gãy gọn, giờ đây các em đã xây dựng nên những bài văn giàu hình ảnh, sinh động đến khó ngờ. Số bài văn của các em nhận được lời nhận xét tốt của tôi  đã xuất hiện ngày một nhiều hơn qua các bài kiểm tra. Chẳng có gì thuyết phục hơn những bài viết cụ thể của các em. Chính vì vậy, tôi xin đưa ra một số bài văn điển hình của lớp tôi.

Bài 1: Viết thư cho bạn kể về ước mơ của em.

                                                                             Hà Nội, ngày 3 - 11 – 2018

       Nga thân mến!

       Từ ngày bạn và gia đình chuyển về quê sinh sống, đến nay chúng mình không được gặp nhau nữa. Và mình cũng chẳng được biết tin gì của bạn. Hôm nay, mình viết thư này là để thăm hỏi bạn và đồng thời mình sẽ kể cho bạn nghe về ước mơ của mình.

       Nga ơi, dạo này bạn có khỏe không? Hai bác vẫn đi làm đều chứ? Em Bi chắc bây giờ đã lớn lắm rồi nhỉ? Còn gia đình mình vẫn ổn. Bố mẹ mình vẫn đi làm đều. Anh Minh và mình vẫn học tốt.

        Nga yêu quý!

        Đã từ lâu, mình mơ ước lớn lên cũng là một cô giáo như mẹ mình. Hằng ngày, mình được đứng trên bục giảng để giảng bài như mẹ mình. Lúc ấy, có biết bao đôi mắt thơ ngây của học sinh sẽ chăm chú nghe mình giảng bài. Đêm đêm, trong gió vườn xào xạc, mình cũng được chấm bài và soạn giáo án như mẹ mình. Cuộc sống của cô giáo tuy  không giàu nhưng rất thanh cao, được nhiều người quý trọng. Mình biết công việc của Nhà giáo rất vất vả nhưng trong sự vất vả đó mình có niềm vui của những tháng ngày cống hiến tuổi trẻ của mình để phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước.

       Nga à, mình biết để trở thành một cô giáo giỏi như mẹ mình thì ngay từ bây giờ mình phải học thật giỏi và rèn luyện đạo đức thật tốt. Rồi lớn lên mình sẽ phải thi đỗ vào trường Đại học Sư phạm. Để điều đó trở thành sự thật, mình phải nỗ lực rất nhiều phải không Hà? Thế còn Hà, ước mơ gì vậy? Hà có thể bật mí cho mình biết được không? 

       Thôi, đã muộn rồi mình xin dừng bút ở đây. Nhận được thư này nhớ hồi âm và kể cho mình nghe về ước mơ của bạn nhé. Cuối thư, mình chúc bạn và gia đình luôn vui, khỏe. Chúc bạn đạt nhiều thành tích trong học tập.

                                                                                       Bạn cũ của Nga

                                                                                                Anh  

                                                                                      Nguyễn Trâm Anh

 

Bài 2: Tả một cây hoa thường nở vào dịp tết trên quê hương em..

       Thế là mùa xuân xinh đẹp đã gõ cửa mọi nhà. Nhà nào cũng nô nức  chuẩn bị đón Tết, mua sắm tưng bừng. Góp phần không nhỏ vào đó, vào sự rực rỡ, tươi vui của ngày Tết là màu sắc tươi thắm của các loài hoa, đặc biệt là hoa đào.

       Hoa đào trở nên không thể thiếu đối với cái Tết của gia đình em từ lúc nào không biết. Chỉ biết rằng, hầu như Tết năm nào em cũng được bố cho đi chơi chợ hoa. Em thật ngạc nhiên khi đứng trước một khu chợ toàn là hoa đào và hoa mai. Hai sắc hồng, vàng hòa với nhau tạo nên một không gian thật lộng lẫy. Em cảm tưởng như mình đang bị lạc vào xứ sở của mùa xuân. Em đã cùng bố chọn được một cây bích đào hồng sẫm thật đẹp để trang trí cho ngôi nhà trong dịp xuân này. Cây đào được bố em đặt giữa gian nhà, nơi mà mọi người trong gia đình em ai cũng có thể nhìn thấy. Cây đào chỉ cao hơn em một chút, được các nghệ nhân uốn lượn hình dáng như một con rồng bay lên bầu trời. Vỏ cây đào màu nâu sậm như sắc màu của đất đai, màu mỡ của Tổ quốc. Nụ đào chúm chím, hé nở, phô hồng như ngọn đèn nhỏ. Cây đào giống như một chiếc đèn lồng lớn, thắp sáng gian nhà em. Lá đào xanh mướt mát, hình dáng giống con thuyền bồng bềnh trên dòng sông hoa. Khi bố em mua cây đào về, chỉ có vài nụ mới nở. Vậy mà đến sáng mùng Một, thật kì diệu: những bông hoa đào hồng sẫm đua nhau nở như vừa tỉnh sau một giấc ngủ dài. Những bông hoa chỉ nhỉnh hơn chiếc cúc áo một chút. Cánh hoa xinh xắn như nụ cười của em bé, mỏng mịn xen kẽ nhau. Từng cánh mỏng manh ôm lấy nhau, nương tựa vào nhau mà sống như không thể tách rời. Nhị hoa như những sợi tơ vàng óng làm đậm thêm sắc hoa hồng sẫm. Mỗi lần sau khi bố em tưới nước xong cho cây, cánh hoa còn đọng những giọt nước trông thật là kiều diễm. Em ngắm mãi cây hoa đào mà không thấy chán mắt.

       Không như hoa mai mang đến sắc vàng cho người phương Nam, hoa đào đã là biểu tưởng từ lâu của Tết Bắc Việt. Màu sắc của hoa đào đã tô điểm cho mùa xuân, từng dãy phố con đường, từng ngõ nhỏ làng quê, xua tan cái rét và mang đến niềm vui, may mắn trong một năm mới an khang, thịnh vượng.

                                                                              Nguyễn Lê Bắc hà - 4A7

Bài  3: Tả con mèo.

       Trước Tết, nhà em có một vị khách “không mời mà đến”. Đó là một con chuột nhắt. Chính nó đã ăn vụng thức ăn trong bếp nhà em và khiến cho cả nhà em mất ngủ. Chính vì vậy, sau Tết, mẹ em đã đi chợ Hà Đông mua về một chú mèo đẻ bắt chuột. Em rất vui và đặt tên cho chú là Kitty.

       Ôi! Chú mèo Kitty mới tuyệt vời làm sao! Bộ lông chú mịn mượt, có ba màu: đen, vàng, trắng. Em thích nhất là được vuốt ve bộ lông đó. Cái đầu chú tròn xoe, nổi bật là đôi mắt màu xanh trông như hai hòn bi ve. Hai tai hình tam giác tựa củ ấu.Cái miệng với hàm răng sắc nhọn cùng bộ ria trắng cước của chú khiến con chuột nào trông thấy cũng phải sợ. Nối với cái đầu là thân mình thon thả đầy lông của chú. Bốn cái chân xinh xinh, phía dưới có nệm thịt khiến chú ta di chuyển nhẹ nhàng như lướt trên mặt đất. Cái đuôi chú cong cong, ngoe nguẩy trông thật thướt tha duyên dáng làm sao! Có mấy lần, lúc em đang học bài, chú mèo Kitty lại đến nũng nịu, ngoe nguẩy cái đuôi vào chân em. Khi em chơi với chú, chú lại kêu “meo meo” rồi làm xiếc với trái bóng. Nhưng bắt chuột vẫn là sở trường giỏi nhất của chú. Chú ngồi rình ở một góc nào đấy, mắt lim dim giả vờ ngủ. Chờ đến khi con chuột đi qua, chú vồ lấy con chuột cho đến chết mới nhai rau ráu. Mỗi lần chú bắt được chuột, em lại thưởng cho chú một đĩa cá ngon lành và cho phép chú được ngồi sưởi nắng dưới sân. Những lúc ấy, chú lại mỉm cười kêu “meo meo” rồi vểnh đôi tai lên dụi dụi vào lòng em.

       Em rất yêu chú mèo Kitty. Nhờ có chú mà nhà em không còn một lũ chuột và một mụ gián nào đến phá phách nữa. Cả nhà em cũng yêu quý chú vì sự thông minh, tinh nghịch của chú. Đối với em, đó là một chú mèo rất dễ thương và còn là một thành viên nhỏ trong gia đình. Em mong chú sẽ mãi là một người bạn than thiết của em.

                                                                       Nguyễn Quỳnh Anh- 4A7

Bài 4: Tả vườn rau

       Phía sau nhà em có một vườn rau xinh xắn, cứ mỗi buổi chiều em thường ra vườn rau để chăm sóc cho những luống rau xanh mơn mởn.

Vườn rau của nhà em không rộng lắm, dài khoảng sáu mét, rộng độ năm mét, có dạng hình chữ nhật. Xung quanh có hàng rào và cổng được làm bằng nan tre. Những dây mồng tơi xanh tươi, hạt mồng tơi tim tím đang đua nhau leo trèo lên hàng rào, tạo nên một hình ảnh tươi mát dễ thương. Trong vườn có bốn luống rau, luống nọ cách luống kia chừng năm tấc để làm lối đi, thuận tiện cho việc tưới cây và chăm sóc cây. Mỗi luống trồng một loại rau khác nhau, kia là luống cải ngọt, cọng cải to như ngón tay út của em, lá hình bầu dục vươn cao. Đây là luống xà lách xanh tươi , nõn nà, đâm tua tủa lên trời trông thật thích mắt. Bên cạnh là luống hành thân to như những chiếc đũa, màu xanh đậm. Luống cuối cùng ba dành riêng để trồng các cây gia vị như : gừng, ớt…Rồi húng quế, ngò gai, rau thơm, rau càng cua mọc kín cả luống đất. Mỗi khi mẹ bảo em ra vườn hái rau thì chỉ năm phút sau trên tay em đã có một rổ rau tươi xanh thật ngon lành. Hằng ngày, những lúc rảnh rỗi cả nhà em thường ra vườn rau để chăm sóc cho các luống rau. Mẹ xới đất giúp cây tơi xốp và thoáng khí, ba tưới nước, bón phân cho cây, còn em thì nhổ cỏ và bắt sâu trên lá. Các chú bướm vàng rập rờn bay lượn xung quanh màu vàng hoa cải, không khí đồng quê trong lành mát mẻ làm cả nhà em ai cũng thoải mái, dễ chịu.

Em vô cùng yêu thích vườn rau, vì nó đã cung cấp rau xanh cho gia đình em, tạo một khoảng không gian êm đềm và giúp em thư giãn sau những giờ học. Em sẽ chăm sóc vườn rau tốt hơn để các luống rau luôn xanh tốt.

                                                                                        Vũ Anh Phương - 4A 7

 

PHẦN III: KẾT LUẬN

     1. KẾT LUẬN :

     Vậy mỗi giờ dạy Tập làm văn muốn đạt hiệu quả cao, người giáo viên cần phải biết sáng tạo và biết kết hợp hài hòa các biện pháp dạy học. Hơn thế nữa, người giáo viên cần phải tận tâm với nghề, với bài dạy; phải nghiên cứu, đào sâu suy nghĩ bài dạy của các phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu, Kể chuyện bởi các phân môn này tác động trực tiếp đến Tập làm văn. Nó giúp học sinh mở rộng vốn từ, hiểu và vận dụng từ, vận dụng những câu văn, đoạn văn hay ở bài Tập đọc vào Tập làm văn. Mặt khác phải tích cực đổi mới phương pháp dạy học. Môn Tập làm văn quả là kho kiến thức đối với học sinh. Bài Tập làm văn là một tác phẩm văn học của các em. Tác phẩm này phụ thuộc vào vốn từ ngữ, vào năng lực của mỗi em, vào điều kiện của gia đình. Nhưng với lòng nhiệt tình, ý thức trách nhiệm, với lòng yêu nghề, tôi đã khắc phục được những khó khăn và giúp học sinh lớp 4A7 ngày các yêu thích môn Tập làm văn và học tập có hiệu quả hơn. Nhìn những cánh tay mạnh dạn giơ lên, những ánh mắt rạng ngời niềm vui của các em khi nhận được điểm cao trong giờ Tập làm văn, tôi hiểu “mình đã thành công”.

     Trên đây là “Một số biện pháp rèn kĩ năng viết văn cho học sinh lớp 4” mà tôi đã áp dụng trong quá trình giảng dạy. Hi vọng đề tài này góp một phần nhỏ bé trong việc giúp học sinh vững vàng trong việc học Tập làm văn để lên tiếp các lớp sau. Môn Tập làm văn trong chương trình sách giáo khoa lớp 4 có nội dung mới mẻ, phong phú. Tuy vậy để giờ học trở lên nhẹ nhàng thực sự lôi cuốn các em, mỗi giáo viên chúng ta cần biết lựa chọn, khéo léo sử dụng các biện pháp dạy học kết hợp tổ chức các hoạt động phong phú. Sự hứng thú, say mê trong giờ học sẽ giúp các em chủ động khám phá và lĩnh hội kiến thức. Nhờ đó các em sẽ đạt được kết quả cao trong học tập, nâng cao trình độ Tiếng Việt nói riêng và trình độ văn hoá nói chung.

     2. BÀI HỌC KINH NGHIỆM:

     Để mỗi tiết dạy Tập làm văn thành công, người giáo viên thực sự thấy tự tin trong quá trình giảng dạy và có thể xử lí các tình huống trước học sinh.Qua thực tiễn giảng dạy và kết quả đạt được, tôi đã rút ra những kinh nghiệm sau:

       - Ngay từ đầu năm học, giáo viên phải có kế hoạch phân loại chất lượng học phân môn Tập làm văn của học sinh trong lớp để từ đó có biện pháp giảng dạy phù hợp với từng đối tượng học sinh.

      - Cần phối hợp nhiều phương pháp giảng dạy trong giờ học để tiết học thêm hấp dẫn và sôi nổi.

       - Luôn có thói quen tích lũy các bài văn hay của học sinh làm tư liệu.

       - Kiên trì, uốn nắn cho học sinh.  Luôn động viên, khuyến khích kịp thời các học sinh có tiến bộ để tạo hứng thú học tập và phát huy tính sáng tạo cho các em.

       - Cần dạy tốt tất cả các phân môn: Tập đọc; Luyện từ và câu; Chính tả;... với phương châm “ mưa dầm thấm lâu.”

       - Luyện học sinh viết từ dễ đến khó: Từ cách viết câu văn hay đến viết đoạn văn hay rồi viết bài văn hay.

       - Khuyến khích học sinh đọc sách tham khảo, sưu tầm câu văn, đoạn văn, bài văn hay lưu vào sổ tay văn học.

       - Hệ thống câu hỏi được sử dụng trong giờ dạy phải ngắn gọn, dễ hiểu, gợi mở tư duy hứng thú của học sinh, điều chỉnh những câu hỏi chưa phù hợp với trình độ học sinh.

       - Nên chuẩn bị đầy đủ các đồ dùng trực quan (nếu cần thiết) để kích thích sự hứng thú của học sinh.

      - Luôn coi học sinh là nhân vật trung tâm của mọi hoạt động, giáo viên chỉ là người điều khiển, tổ chức, hướng dẫn học sinh phát hiện ra kiến thức mới..

      - Mỗi người giáo viên không ngừng học tập, đọc thêm tài liệu, sách báo, sưu tầm thêm tư liệu, có ý thức ghi lại những câu văn hay, hình ảnh đẹp, trao đổi thường xuyên với đồng nghiệp.

thời tiết các vùng

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

Bình chọn

Đánh giá thái độ tiếp công dân của cán bộ Một cửa quận