TIN TỨC KHÁC

Trường THCS Định Công: Ứng dụng kĩ thuật dạy học hiện đại trong giảng dạy môn Hóa học 9: Cacbon
Ngày đăng 29/08/2019 | 10:16  | View count: 2032

Sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng kĩ thuật dạy học hiện đại trong giảng dạy môn Hóa học 9: Cacbon

A. PHẦN MỞ ĐẦU

     I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

     Trong chương trình THCS, Hoá học là bộ môn khoa học tự nhiên mà học sinh được tiếp cận muộn nhất, nhưng nó lại có vai trò quan trọng trong nhà trường phổ thông. Môn hoá học cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức phổ thông, cơ bản và thiết thực đầu tiên về hoá học, rèn cho học sinh óc tư duy sáng tạo và khả năng trực quan nhanh nhạy. Vì vậy giáo viên bộ môn hoá học cần hình thành ở các em một kỹ năng cơ bản, thói quen học tập và làm việc khoa học làm nền tảng để các em phát triển khả năng nhận thức và năng lực hành động. Hình thành cho các em những phẩm chất cần thiết như cẩn thận, kiên trì, trung thực, tỉ mỉ, chính xác, yêu thích khoa học.

     Học hoá học không những học sinh học lý thuyết mà còn đòi hỏi học sinh vận dụng lý thuyết được học vào giải quyết các bài tập lý thuyết, thực tiễn và thực hành thí nghiệm. Để thực hiện được mục tiêu trên Luật giáo dục đã đề ra:

- Nội dung giáo dục phải đảm bảo tính cơ bản toàn diện, thiết thực hiện đại và có hệ thống.

 - Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên 

     Trong xu thế đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, việc người dạy sử dụng những phương pháp phù hợp với mục tiêu dạy học đang là yêu cầu cần thiết đòi hỏi người dạy phải đảm bảo được học sinh trở thành trung tâm của quá trình nhận thức; Giáo viên trở thành người hướng dẫn cho học sinh tìm tòi kiến thức, chiếm lĩnh kiến thức là yếu tố quyết định sự thành công của một bài học.

     Vì vậy để khắc phục những hạn chế đó trong dạy học người giáo viên cần giúp người học phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo. Phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh có nghĩa là phải thay đổi cách dạy và cách học. Chuyển cách dạy thụ động, truyền thụ một chiều “đọc-chép”, giáo viên làm trung tâm sang cách dạy lấy học sinh làm trung tâm hay còn được gọi là dạy và học tích cực. Trong cách dạy này học sinh là chủ thể hoạt động, giáo viên là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn, tạo nên sự tương tác tích cực giữa người dạy và người học. Dạy và học tích cực là điều kiện tốt khuyến khích sự tham gia chủ động, sáng tạo và ngày càng độc lập của học sinh vào quá trình học tập để nâng cao chất lượng trong giáo dục.

     Với những quan điểm đã nêu trên và thực tế giảng dạy, theo dõi quá trình học tập của học sinh để nâng cao chất lượng dạy và học tôi áp dụng kĩ thuật dạy học mới, tôi đã mạnh dạn viết đề tài sáng kiến kinh nghiệm: “Ứng dụng kĩ thuật dạy học hiện đại trong giảng dạy môn Hóa học 9: Cacbon” Qua đề tài này, tôi mong muốn giúp giáo viên chủ động hơn khi tiến hành giảng dạy một số bài. Từ đó giúp học sinh sự tư duy logic về Hoá học phát huy tính tích cực, sáng tạo trong học tập bộ môn gây hứng thú học tập cao trong học tập môn Hoá học.

     II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

     Trên cơ sở nghiên cứu lý luận dạy học, lý thuyết về các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực tôi đã tiến hành ứng dụng kĩ thuật dạy học giúp cho học sinh chủ động hơn trong lĩnh hội kiến thức. Tạo cho học sinh lòng yêu thích bộ môn. Học sinh không còn cảm thấy Hoá học là một môn học nặng nề và đáng sợ nữa.

     III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

     a. Nghiên cứu lý luận của việc ứng dụng phương pháp và kĩ thuật dạy học hiện đại trong các giờ học đạt được kết quả như thế nào?

     b. Nghiên cứu và tham khảo sách từ đó rút ra kết luận và đưa ra khuyến nghị cụ thể nhằm giúp việc dạy học có kết quả.

     c. Nghiên cứu giáo trình dạy phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực.

     d. Đề ra những giải pháp để nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả và áp dụng việc sử dụng phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học hóa học ở bậc THCS, nhằm thực hiện đổi mới phương pháp dạy học đạt hiệu quả cao.

     IV.KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

     a. Khách thể:

     Ứng dụng kĩ thuật dạy học hiện đại trong giảng dạy môn Hóa học 9: Cacbon

      b. Đối tượng:

     Nghiên cứu quá trình Ứng dụng kĩ thuật dạy học hiện đại trong giảng dạy môn Hóa học 9: Cacbon

     c. Phạm vi nghiên cứu:

     Do thời gian nghiên cứu có hạn nên tôi chỉ nghiên cứu việc sử dụng dạy học trong giảng dạy môn hóa học 9

     V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Nghiên cứu lý thuyết về lý luận dạy học nói chung và lý luận dạy Học hoá học nói riêng.

Nghiên cứu lý luận, lý thuyết về xu hướng nâng cao cường độ dạy học.

Nghiên cứu các hình thức tổ chức việc dạy học Hoá học.

Trên cơ sở hệ thống kiến thức sách giáo khoa, sách giáo viên, sách tham khảo và thông qua kinh nghiệm học tập giảng dạy của bản thân, xây dựng các cơ sở lí thuyết, phương pháp giải và một số bài tập vận dụng.

Phương pháp thực nghiệm và thống kê. Thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm tính thực tiễn và hiệu quả của phương án đã đề xuất.

     VI. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU VÀ HOÀN THÀNH ĐỀ TÀI:

     Đề tài được bắt đầu tìm hiểu và tiến hành từ năm 2018 sau khi được tìm hiểu về các phương pháp dạy học tích cực được áp dụng vào một số lớp. Bổ sung, rút kinh nghiệm qua quá trình giảng dạy.

     Báo cáo kết quả tháng 2 năm 2019

B. NỘI DUNG

     I. CƠ SỞ  LÍ LUẬN

     Đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) thực chất không phải là sự thay thế các PPDH cũ bằng một loạt các PPDH mới. Về mặt bản chất, đổi mới PPDH là đổi mới cách tiến hành các phương pháp, đổi mới các phương tiện và hình thức triển khai phương pháp trên cơ sở khai thác triệt để ưu điểm của các phương pháp cũ và vận dụng linh hoạt một số phương pháp mới nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học. Như vậy, mục đích cuối cùng của đổi mới PPDH là làm thế nào để HS phải thực sự tích cực, chủ động, tự giác, luôn trăn trở tìm tòi, suy nghĩ và sáng tạo trong quá trình lĩnh hội tri thức và lĩnh hội cả cách thức để có được tri thức ấy nhằm phát triển và hoàn thiện nhân cách của mình.

     Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học. Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ phương pháp dạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên - học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập tích hợp liên môn nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp.

     Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin...), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy. Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù của môn học để thực hiện. Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”.

     Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với các hình thức tổ chức dạy học. Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ở ngoài lớp. Cần chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành để đảm bảo yêu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nâng cao hứng thú cho người học.

     Cần sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học môn học tối thiểu đã qui định. Có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu xét thấy cần thiết với nội dung học và phù hợp với đối tượng học sinh. Tích cực vận dụng công nghệ thông tin trong dạy học.

     Việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực thể hiện qua bốn đặc trưng cơ bản sau:

     Một, dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, giúp học sinh tự khám phá những điều chưa biết chứ không thụ động tiếp thu những tri thức được sắp đặt sẵn. Giáo viên là người tổ chức và chỉ đạo học sinh tiến hành các hoạt động học tập phát bn hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đã biết vào các tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn...

     Hai, chú trọng rèn luyện cho học sinh biết khai thác sách giáo khoa và các tài liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, suy luận để tìm tòi và phát hiện kiến thức mới. Định hướng cho học sinh cách tư duy như phân tích, tổng hợp, đặc biệt hoá, khái quát hoá, tương tự, quy lạ về quen để dần hình thành và phát triển tiềm năng sáng tạo.

     Ba, tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác, lớp học trở thành môi trường giao tiếp GV - HS và HS - HS nhằm vận dụng sự hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ học tập chung.

     Bốn, chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt tiến trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học). Chú trọng phát triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh với nhiều hình thức như theo lời giải/đáp án mẫu, theo hướng dẫn, hoặc tự xác định tiêu chí để có thể phê phán, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót. 

     Một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học

     Cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống

     Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp dạy học truyền thống như thuyết trình, đàm thoại, luyện tập mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng. Để nâng cao hiệu quả của các phương pháp dạy học này người giáo viên trước hết cần nắm vững những yêu cầu và sử dụng thành thạo các kỹ thuật của chúng trong việc chuẩn bị cũng như tiến hành bài lên lớp, kỹ thuật đặt các câu hỏi và xử lý các câu trả lời trong đàm thoại, hay kỹ thuật làm mẫu trong luyện tập. Tuy nhiên, các phương pháp dạy học truyền thống có những hạn chế tất yếu, vì thế bên cạnh các phương pháp dạy học truyền thống cần kết hợp sử dụng các phương pháp dạy học mới, có thể tăng cường tính tích cực nhận thức của học sinh trong thuyết trình, đàm thoại theo quan điểm dạy học giải quyết vấn đề.

     Kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học

     Việc phối hợp đa dạng các phương pháp và hình thức dạy học trong toàn bộ quá trình dạy học là phương hướng quan trọng để phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng dạy học. Dạy học toàn lớp, dạy học nhóm, nhóm đôi và dạy học cá thể là những hình thức xã hội của dạy học cần kết hợp với nhau, mỗi một hình thức có những chức năng riêng. Tình trạng độc tôn của dạy học toàn lớp và sự lạm dụng phương pháp thuyết trình cần được khắc phục, đặc biệt thông qua làm việc nhóm. Trong thực tiễn dạy học ở trường trung học hiện nay, nhiều giáo viên đã cải tiến bài lên lớp theo hướng kết hợp thuyết trình của giáo viên với hình thức làm việc nhóm, góp phần tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh. Tuy nhiên hình thức làm việc nhóm rất đa dạng, không chỉ giới hạn ở việc giải quyết các nhiệm vụ học tập nhỏ xen kẽ trong bài thuyết trình, mà còn có những hình thức làm việc nhóm giải quyết những nhiệm vụ phức hợp, có thể chiếm một hoặc nhiều tiết học, sử dụng những phương pháp chuyên biệt như phương pháp đóng vai, nghiên cứu trường hợp, dự án. Mặt khác, việc bổ sung dạy học toàn lớp bằng làm việc nhóm xen kẽ trong một tiết học mới chỉ cho thấy rõ việc tích cực hoá “bên ngoài” của học sinh. Muốn đảm bảo việc tích cực hoá “bên trong” cần chú ý đến mặt bên trong của phương pháp dạy học, vận dụng dạy học giải quyết vấn đề và các phương pháp dạy học tích cực khác.

     Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề

     Dạy học giải quyết vấn đề (dạy học nêu vấn đề, dạy học nhận biết và giải quyết vấn đề) là quan điểm dạy học nhằm phát triển năng lực tư duy, khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề. Học được đặt trong một tình huống có vấn đề, đó là tình huống chứa đựng mâu thuẫn nhận thức, thông qua việc giải quyết vấn đề, giúp học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng và phương pháp nhận thức. Dạy học giải quyết vấn đề là con đường cơ bản để phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh, có thể áp dụng trong nhiều hình thức dạy học với những mức độ tự lực khác nhau của học sinh. Các tình huống có vấn đề là những tình huống khoa học chuyên môn, cũng có thể là những tình huống gắn với thực tiễn. Trong thực tiễn dạy học hiện nay, dạy học giải quyết vấn đề thường chú ý đến những vấn đề khoa học chuyên môn mà ít chú ý hơn đến các vấn đề gắn với thực tiễn. Tuy nhiên nếu chỉ chú trọng việc giải quyết các vấn đề nhận thức trong khoa học chuyên môn thì học sinh vẫn chưa được chuẩn bị tốt cho việc giải quyết các tình huống thực tiễn. Vì vậy bên cạnh dạy học giải quyết vấn đề, lý luận dạy học còn xây dựng quan điểm dạy học theo tình huống.

     Vận dụng dạy học theo tình huống

     Dạy học theo tình huống là một quan điểm dạy học, trong đó việc dạy học được tổ chức theo một chủ đề phức hợp gắn với các tình huống thực tiễn cuộc sống và nghề nghiệp. Quá trình học tập được tổ chức trong một môi trường học tập tạo điều kiện cho học sinh kiến tạo tri thức theo cá nhân và trong mối tương tác xã hội của việc học tập. Các chủ đề dạy học phức hợp là những chủ đề có nội dung liên quan đến nhiều môn học hoặc lĩnh vực tri thức khác nhau, gắn với thực tiễn. Trong nhà trường, các môn học được phân theo các môn khoa học chuyên môn, còn cuộc sống thì luôn diễn ra trong những mối quan hệ phức hợp. Vì vậy sử dụng các chủ đề dạy học phức hợp góp phần khắc phục tình trạng xa rời thực tiễn của các môn khoa học chuyên môn, rèn luyện cho học sinh năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp, liên môn. Phương pháp nghiên cứu trường hợp là một phương pháp dạy học điển hình của dạy học theo tình huống, trong đó học sinh tự lực giải quyết một tình huống điển hình, gắn với thực tiễn thông qua làm việc nhóm. Vận dụng dạy học theo các tình huống gắn với thực tiễn là con đường quan trọng để gắn việc đào tạo trong nhà trường với thực tiễn đời sống, góp phần khắc phục tình trạng giáo dục hàn lâm, xa rời thực tiễn hiện nay của nhà trường phổ thông. Tuy nhiên, nếu các tình huống được đưa vào dạy học là những tình huống mô phỏng lại, thì chưa phải tình huống thực. Nếu chỉ giải quyết các vấn đề trong phòng học lý thuyết thì học sinh cũng chưa có hoạt động thực tiễn thực sự, chưa có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành.

     Vận dụng dạy học định hướng hành động

     Dạy học định hướng hành động là quan điểm dạy học nhằm làm cho hoạt động trí óc và hoạt động chân tay kết hợp chặt chẽ với nhau. Trong quá trình học tập, học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập và hoàn thành các sản phẩm hành động, có sự kết hợp linh hoạt giữa hoạt động trí tuệ và hoạt động tay chân. Đây là một quan điểm dạy học tích cực hoá và tiếp cận toàn thể. Vận dụng dạy học định hướng hành động có ý nghĩa quan trong cho việc thực hiện nguyên lý giáo dục kết hợp lý thuyết với thực tiễn, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội. Dạy học theo dự án là một hình thức điển hình của dạy học định hướng hành động, trong đó học sinh tự lực thực hiện trong nhóm một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với các vấn đề thực tiễn, kết hợp lý thuyết và thực hành, có tạo ra các sản phẩm có thể công bố. Trong dạy học theo dự án có thể vận dụng nhiều lý thuyết và quan điểm dạy học hiện đại như lý thuyết kiến tạo, dạy học định hướng học sinh, dạy học hợp tác, dạy học tích hợp, dạy học khám phá, sáng tạo, dạy học theo tình huống và dạy học định hướng hành động.

     Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và công nghệ thông tin hợp lý hỗ trợ dạy học

     Phương tiện dạy học có vai trò quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học, nhằm tăng cường tính trực quan và thí nghiệm, thực hành trong dạy học. Hiện nay, việc trang bị các phương tiện dạy học mới cho các trường phổ thông từng bước được tăng cường. Tuy nhiên các phương tiện dạy học tự làm của giáo viên luôn có ý nghĩa quan trọng, cần được phát huy. Đa phương tiện và công nghệ thông tin vừa là nội dung dạy học vừa là phương tiện dạy học trong dạy học hiện đại. Bên cạnh việc sử dụng đa phương tiện như một phương tiện trình diễn, cần tăng cường sử dụng các phần mềm dạy học cũng như các phương pháp dạy học sử dụng mạng điện tử (E-Learning), mạng trường học kết nối.

     Sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo

     Kỹ thuật dạy học là những cách thức hành động của của giáo viên và học sinh trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học. Các kỹ thuật dạy học là những đơn vị nhỏ nhất của phương pháp dạy học. Có những kỹ thuật dạy học chung, có những kỹ thuật đặc thù của từng phương pháp dạy học, ví dụ kỹ thuật đặt câu hỏi trong đàm thoại. Ngày nay người ta chú trọng phát triển và sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học như “động não”, “tia chớp”, “bể cá”, bản đồ tư duy.

     Chú trọng các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn

     Phương pháp dạy học có mối quan hệ biện chứng với nội dung dạy học, việc sử dụng các phương pháp dạy học đặc thù có vai trò quan trọng trong dạy học bộ môn. Các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn được xây dựng trên cơ sở lý luận dạy học bộ môn. Ví dụ: Thí nghiệm là một phương pháp dạy học đặc thù quan trọng của các môn khoa học tự nhiên; các phương pháp dạy học như trình diễn vật phẩm kỹ thuật, làm mẫu thao tác, phân tích sản phẩm kỹ thuật, thiết kế kỹ thuật, lắp ráp mô hình, các dự án là những phương pháp chủ lực trong dạy học kỹ thuật; phương pháp “Bàn tay nặn bột” đem lại hiệu quả cao trong việc dạy học các môn khoa học.

     Bồi dưỡng phương pháp học tập tích cực cho học sinh

     Phương pháp học tập một cách tự lực đóng vai trò quan trọng trong việc tích cực hoá, phát huy tính sáng tạo của học sinh. Có những phương pháp nhận thức chung như phương pháp thu thập, xử lý, đánh giá thông tin, phương pháp tổ chức làm việc, phương pháp làm việc nhóm, có những phương pháp học tập chuyên biệt của từng bộ môn. Bằng nhiều hình thức khác nhau, cần luyện tập cho học sinh các phương pháp học tập chung và các phương pháp học tập trong bộ môn.

     Tóm lại, có rất nhiều phương hướng đổi mới phương pháp dạy học với những cách tiếp cận khác nhau, trên đây chỉ là một số phương hướng chung. Việc đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi những điều kiện thích hợp về phương tiện, cơ sở vật chất và tổ chức dạy học, điều kiện về tổ chức, quản lý. Ngoài ra, phương pháp dạy học còn mang tính chủ quan. Mỗi giáo viên với kinh nghiệm riêng của mình cần xác định những phương hướng riêng để cải tiến phương pháp dạy học và kinh nghiệm của cá nhân.

     II. CƠ SỞ THỰC TIỄN

     1. Thực trạng của hoạt động đổi mới phương pháp dạy học

     * Thuận lợi

     Trong những năm học vừa qua, tôi được nhà trường phân công giảng dạy bộ môn hoá học ở hai khối lớp 8 và 9. Ban giám hiệu, tổ chuyên môn, các giáo viên trong nhóm luôn luôn hỗ trợ nhiệt tình các đồng nghiệp trong việc góp ý xây dựng kế hoạch chuyên đề, các tiết hội giảng.

- Thư viện trường hỗ trợ cung cấp các đầu sách có liên quan đến chuyên đề cho học sinh tham khảo.

- Là một giáo viên dạy Hóa, cùng với lòng nhiệt huyết của mình nên tôi luôn áp dụng các ứng dụng của các phương tiện dạy học hiện đại để góp phần nâng cao hiệu quả tiết dạy.

     * Khó khăn

     Qua thực tế  giảng dạy tôi nhận thấy chất lượng giáo dục ngày càng được nâng lên, các phương pháp dạy học, các kĩ thuật day học được áp dụng khá rộng rãi. Tuy nhiên có một số kĩ thuật dạy học chưa được thường xuyên sử dụng do gặp khó khăn về mức độ nhận thức của học sinh, cơ sở vật chất.

     Trong các giờ học hóa học ở bậc THCS các tôi đã tích cực hướng dẫn, tổ chức cho học sinh tự nghiên cứu tìm tòi các kiến thức mới qua các phương pháp hoạt động nhóm, làm thí nghiệm. Tuy nhiên việc kết hợp các phương pháp dạy học với các kĩ thuật dạy học thường chưa nhuần nhuyễn và hiệu quả chưa đạt ở mức cao nhất, dẫn tới thời gian để củng cố lí thuyết cho học sinh qua việc làm bài tập còn ít do mất nhiều thời gian cho phần lí thuyết.

     Việc rèn kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết các tính huống thực tiễn cho học sinh chưa được quan tâm. Hoạt động kiểm tra đánh giá chưa được khách quan, chính xác.

     2. Đặc điểm lớp dạy

     Bên cạnh nhiều em học sinh giỏi, say mê khám phá tìm tòi kiến thức vẫn còn không ít học sinh chưa hứng thú với môn học này ,có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên:

     Hóa học là một môn khoa học thực nghiệm, là một môn học mà các em mới bắt đầu làm quen và nghiên cứu ở 2 lớp 8 và 9, kiến thức trừu tượng, khó hình dung đối với các em trong quá trình tiếp thu kiến thức.

     Một số em chưa ý thức tầm quan trọng của môn học, chưa tự tìm tòi, khám phá kiến thức. Hay nói cách khác các em chưa có động cơ, thái độ học tập đúng đắn.

     Qua thời gian giảng dạy tôi nhận thấy một số học sinh không kĩ năng tự giải quyết được các bài tập hóa học trong SGK, mặc dù trong giảng dạy tôi đã chú ý đến việc hướng dẫn cụ thể, chi tiết cho từng phần kiến thức có liên quan đến các dạng bài tập, thậm chí, có những bài tập đã hướng dẫn chi tiết, nhưng khi gặp lại học sinh vẫn còn bỡ ngỡ, không giải được.

     3. Kết quả điều tra qua phiếu thăm dò và đàm thoại học sinh:

* Phiếu điều tra qua bảng hỏi (được phát cho học sinh năm học trước)

Bảng 1: Em có thích tiết Hóa học  không? Hãy đánh dấu x vào ô trống phù hợp với ý kiến của em:

Rất thích

Thích

Không thích

Bình thường

 

 

 

 

Bảng 2: Cách tổ chức  dạy học của GV trong tiết học này em cảm thấy như thế nào? Hãy đánh dấu x vào ô trống phù hợp với ý kiến của em:

Hứng thú

Bình thường

Nhàm chán

 

 

 

Bảng 3: Em có muốn được chủ động, sáng tạo, tham gia các hoạt động để tìm hiểu bài  không ?

Không

     * Kết quả thu được:

     Bảng 1: Em có thích tiết Hóa học  không? Hãy đánh dấu x vào ô trống phù hợp với ý kiến của em:

Rất thích

Thích

Không thích

Bình thường

35(10%)

63(18%)

192 (55%)

60 (17%)

     Bảng 2: Cách tổ chức  dạy học của GV trong tiết học này em cảm thấy như thế nào? Hãy đánh dấu x vào ô trống phù hợp với ý kiến của em:

Hứng thú

Bình thường

Nhàm chán

   52 (15%)                                                         

   228 ( 65 %)

70 (20 %)

     Bảng 3: Em có muốn được chủ động, sáng tạo, tham gia các hoạt động để tìm hiểu bài không ?

Có : 290/ 350 HS

Không : 60/350 HS

* Phương pháp đàm thoại:

     Sau khi thu được kết quả điều tra bằng bảng hỏi như trên, tôi tiếp cận các em, gần gũi với các em để các em có thể trả lời thành thật những suy nghĩ của mình. Tôi hỏi các em:

- Ngoài các tiết học văn hóa, các em thích tham gia hoạt động gì?

- Theo em các thầy cô nên có những hoạt động gì để cho có  hiệu quả, tạo hứng thú giúp cả lớp hiểu bài hơn ?

     Sau các câu hỏi trên tôi thường được nhận các câu trả lời: Em thấy các tiết chưa tạo được hứng thú cho hs bởi chúng em phải ghi chép nhiều kiến thức mới, dạng bài tập nhiều. Để tiết học này có hiệu quả, sôi nổi thì các thầy cô nên cho chứng em cơ hội được trình bày kiến thức bằng sơ đồ tư duy, được giao lưu thi tìm hiểu bằng các trò chơi, được thể hiện tài năng như hát, sân khấu hóa tác.

    Với trăn trở: làm thế nào để tiết  dạy thực sự có hiệu quả, thu hút được học sinh tham gia để đích đến cuối cùng là nâng cao chất lượng giáo dục và lượng kiến thức cho học sinh?  Tôi đã suy nghĩ, tìm tòi và đổi mới phương pháp trong việc tổ chức  dạy học với mục tiêu lấy học sinh làm trung tâm, là chủ thể của mọi hoạt động. Các em được tự tìm hiểu, tổng hợp kiến thức để từ đó tự thể hiện hiểu biết của mình, có dịp thể hiện được bản thân, được làm việc nhóm. Từ đó có tinh thần đoàn kết, hứng thú học tập bộ môn Hóa. Tôi mạnh dạn tìm hiểu và vận dụng  một số phương pháp, kĩ thuật dạy học mới trong tiết 33 bài: “Cacbon” để nâng cao năng lực cho học sinh.

     III. BIỆN PHÁP, GIẢI PHÁP

     1. Ứng dụng các phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy môn hoá học THCS

     Phương pháp thí nghiệm hoá học:

     Sử dụng thí nghiệm để dạy học tích cực là phương pháp đặc thù của các môn  khoa  học thực nghiệm trong đó nhất là môn hoá học. Trong trường THCS sử dụng thí nghiệm để dạy học tích cực được thực hiện theo những cách sau:

- Thí nghiệm để nêu vấn đề hoặc làm xuất hiện vấn đề.

- Thí nghiệm để giải quyết vấn đề đặt ra: thí nghiệm nghiên cứu, thí nghiệm kiểm tra giả thuyết hay dự đoán.

- Thí nghiệm chứng minh cho vấn dề đã được khẳng định.

- Thí nghiệm thực hành: củng cố lí thuyết, rèn kĩ năng thực hành.

- Thí nghiệm trong bài tập thực nghiệm.

Phương pháp dạy học sử dụng thí nghiệm được sử dụng trong phần lớn các bài trong chương trình hoá học THCS.

 Phương pháp nghiên cứu:

Đây là phương pháp thường được dùng đi kèm với phương pháp thí nghiệm thì sẽ có hiệu quả cao, phương pháp này được các giáo viên áp dụng tương đối phổ biến trong các bài dạy.

Phương pháp này dựa trên 2 điều kiện sau:

- Trên cơ sở nghiên cứu các đối tượng khác nhau học sinh có thể độc lập ở một mức độ đáng kể khám phá ra sự kiện khoa học mà em chưa biết

- Trên cơ sở các sự kiện đã biết học sinh có thể độc lập ở mức độ đáng kể tiến hành khái quát hoá khoa học mà em chưa biết.

Phương pháp này được áp dụng trong các bài mang tính nghiên cứu tài liệu mới (Tính chất hoá học của chất, định luật hoá học …)

     Dạy học dựa trên tìm tòi, khám phá khoa học (dạy học khám phá)

     Dạy học dựa trên tìm tòi, khám phá khoa học (viết ngắn gọn là dạy học khám phá) là phương pháp dạy học cung cấp cho HS cơ hội để trải nghiệm các hiện tượng và quá trình khoa học. Nó tạo điều kiện cho HS bộc lộ những quan niệm sai lầm vốn có của họ, khuyến khích họ trao đổi, thảo luận với nhau để đề xuất các giả thuyết, thu thập thông tin, tìm kiếm bằng chứng, xây dựng các kế hoạch hành động nhằm kiểm chứng các giả thuyết ban đầu, từ đó tìm ra các kết luận mang tính khoa học. Thông qua các hoạt động đó, HS có thể tự điều chỉnh và thay đổi các quan niệm trước đó của mình để tiếp nhận kiến thức mới; đồng thời, HS cũng có cơ hội để phát triển tư duy phê phán, rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề và rất nhiều các kĩ năng khác cần thiết cho một cuộc sống độc lập sau này.

Dạy học khám phá có một số đặc trưng sau đây:

HS được thu hút bởi các câu hỏi định hướng khoa học.

Trong nghiên cứu khoa học, các nhà khoa học thường đặt ra hai loại câu hỏi chủ yếu. Loại câu hỏi thứ nhất hỏi về những điều tồn tại sẵn thường được mở đầu bằng từ “tại sao”. Loại câu hỏi thứ hai hỏi về cách thức hình thành những điều đó, thường sử dụng từ “như thế nào”? Các câu hỏi loại hai thường dễ tìm được câu trả lời hơn các câu hỏi loại một.

Trong DHKP, GV đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng cho HS tìm kiếm câu trả lời cho các câu hỏi như vậy. Đôi khi, để đơn giản và phù hợp với mức độ nhận thức của HS, GV cũng có thể chuyển từ một câu hỏi “tại sao” thành một câu hỏi “như thế nào”.

HS tiến hành tìm kiếm, thu thập các bằng chứng và sử dụng chúng để xây dựng và đánh giá các cách giải thích cho câu hỏi định hướng khoa học đã được đặt ra ban đầu.

Các nhà khoa học thu thập các bằng chứng như những dữ liệu khoa học bằng cách ghi lại những quan sát và thực hiện các đo lường. Các dữ liệu chính xác có thể được kiểm tra bằng cách lặp lại các quan sát hoặc thực hiện các đo lường mới. Trong lớp học, HS sử dụng các dữ liệu này để tạo thành các giải thích cho các hiện tượng khoa học. Các cách giải thích khoa học cần phải phù hợp với các bằng chứng đang có và mang đến cho HS những hiểu biết mới.

HS công bố kết quả, kiểm chứng và đánh giá cách giải thích của họ bằng cách đối chiếu nó với cách giải thích của bạn bè và với các kiến thức khoa học.

Khám phá khoa học khác với các dạng khám phá khác ở chỗ các giải thích được đề xuất có thể được xem xét lại, thậm chí có thể bị loại bỏ dưới ánh sáng của những phát hiện mới. Các nhà khoa học cần phải công bố nghiên cứu của mình một cách trung thực và chi tiết đủ để những nhà khoa học khác có thể tái tạo lại các nghiên cứu đó nếu cần thiết.

Tương tự như vậy, HS sẽ thu được nhiều lợi ích khi họ chia sẻ và so sánh kết quả của mình với các bạn trong lớp, thông qua đó, tạo cơ hội cho họ đặt ra các câu hỏi, kiểm tra các bằng chứng, xác định các lập luận sai lầm, xem xét các giải pháp thay thế. Họ cũng có thể nhận thức được kết quả của họ có quan hệ với các kiến thức khoa học hiện tại như thế nào.

DHKP không phải là một chuỗi các hoạt động theo quy trình cứng nhắc mà có thể được thay đổi và sử dụng linh hoạt phụ thuộc vào mức độ nhận thức và năng lực của HS. Trong bài học này, có thể thấy đầy đủ các đặc trưng của DHKP; nhưng trong bài học khác, chỉ một vài đặc trưng được thể hiện rõ.

     Phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm

     Dạy học hợp tác theo nhóm là một phương pháp dạy học (PPDH) tích cực, phát huy tính năng động, sáng tạo, năng lực giao tiếp và hợp tác của học sinh. Khi làm việc theo nhóm, học sinh và giáo viên đều gặp những khó khăn nhất định. Tuy nhiên, nếu giáo viên biết cách chia nhóm, tổ chức và điều khiển hoạt động thì sẽ phát huy được các mặt mạnh, khắc phục mặt yếu của hoạt động nhóm, từ đó nâng cao hiệu quả dạy học.

     Sự phát triển của xã hội và đổi mới đất nước đang đòi hỏi cấp bách phải nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Cùng với những thay đổi về phần nội dung cần có những đổi mới căn bản về phương pháp dạy học. Một trong những trọng tâm của việc đổi mới PPDH hiện nay là hướng vào người học, phát huy tính tích cực và sáng tạo của họ. Dạy học hợp tác theo nhóm là một phương pháp dạy học tích cực đã được nghiên cứu và áp dụng có hiệu quả ở các nước phát triển. Phương pháp này ở Việt Nam đang được ngành giáo dục quan tâm vì tác dụng đặc biệt của nó trong việc hình thành nhân cách con người mới năng động, sáng tạo, có khả năng giao tiếp, năng lực hợp tác và năng lực thích ứng.

     Dạy học hợp tác theo nhóm là một hình thức tổ chức dạy học, trong đó dưới sự tổ chức và điều khiển của giáo viên, học sinh được chia thành nhiều nhóm nhỏ liên kết lại với nhau thành một hoạt động chung, với phương thức tác động qua lại của các thành viên, bằng trí tuệ tập thể mà hoàn thành các nhiệm vụ học tập. Cách học hợp tác theo nhóm đang được áp dụng có hiệu quả ở tất cả các cấp học và nhiều môn học.

     Một số cách thức tổ chức hoạt động nhóm

- Chia lớp thành các nhóm có số thành viên như nhau (4-6 người). Các nhóm này gọi là nhóm hợp tác.

- Mỗi thành viên được giao một phần nội dung bài học.

- Thành viên số 1 của tất cả các nhóm được giao tìm hiểu kĩ một phần nội dung như nhau.

- Thành viên số 2, 3, 4… còn lại của tất cả các nhóm được giao các nội dung khác, như nhau cho cùng số.

- Các thành viên của nhóm nghiên cứu cá nhân, chuẩn bị phần nội dung của mình.

- Các thành viên các nhóm cùng chủ đề thảo luận với nhau trong khoảng thời gian xác định và trở thành nhóm chuyên gia của nội dung đó.

- Các thành viên của nhóm chuyên gia trở về nhóm hợp tác của mình và giảng lại cho cả nhóm nghe phần nội dung của mình. Các thành viên trình bày lần lượt cho hết nội dung bài học.

- Giáo viên tổ chức kiểm tra đánh giá sự nắm vững nội dung kiến thức trong cả bài học cho từng cá nhân (cả lớp làm bài kiểm tra).

 Ưu điểm

Tạo điều kiện cho học sinh hoạt động , trao đổi, khám phá, thu nhận tri thức.

Phát huy tính tích cực, sáng tạo, độc lập, tự chủ và khả năng ghi nhớ của học sinh.

Thúc đẩy quá trình học tập và nâng cao hiệu quả học tập. Nếu tổ chức tốt cho mỗi cá nhân có trách nhiệm đóng góp vào công việc chung của nhóm, không ai được dựa dẫm vào ai thì các thành viên sẽ làm việc hiệu quả hơn.

Phát triển kĩ năng hợp tác, giao tiếp, kĩ năng xã hội cho học sinh. Tạo môi trường cho học sinh nhút nhát có điều kiện tham gia xây dựng bài, cải thiện quan hệ giữa các học sinh với nhau.

Tạo không khí học tập sôi nổi, bình đẳng và gắn bó, trạng thái tâm lí học tập tốt. Khi trao đổi, mỗi học sinh nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về vấn đề nêu ra, xác định điều cần học hỏi thêm.

Tạo môi trường học tập thuận lợi để học sinh giúp đỡ, chia sẻ, giải thích và động viên lẫn nhau, tăng thêm tinh thần đoàn kết, sự hợp tác, ý thức tập thể.

Hạn chế

Dạy học hợp tác nhóm được nhiều nước áp dụng và thể hiện nhiều yếu tố của PPDH tích cực. Song dạy học hợp tác theo nhóm cũng có những hạn chế:

Một số thành viên trong nhóm có thể ỷ lại, không làm việc.

Các nhóm có thể đi lệch hướng thảo luận

Tốn thời gian chuẩn bị và thực hiện, gây ồn ào.

Khi giáo viên áp dụng cứng nhắc, quá thường xuyên hoặc thời gian hoạt động nhóm quá dài, hoạt động nhóm sẽ không có tác dụng.

Khó điều khiển khi mới làm lần đầu và chưa có kinh nghiệm.

     Phương pháp đàm thoại

     Đàm thoại thực chất là phương pháp mà trong đó thầy đặt ra một hệ thống câu hỏi để trò lần lượt trả lời, đồng thời để trao đổi qua lại với nhau hay với thầy. Qua hệ thống câu hỏi, câu trả lời trò lĩnh hội được nội dung bài học. Căn cứ vào tính chất của sự nhận thức của học sinh phương pháp đàm thoại có những nhóm cơ bản sau:

- Đàm thoại tái hiện, đàm thoại giải thích minh hoạ, đàm thoại ơrixtic:

Về sự tổ chức hoạt động dạy và học của thầy và của trò trong phương pháp này có thể tiến hành theo các phưng án sau:

- Phương án thứ nhất:

Thầy đặt ra hệ thống nhiều câu hỏi riêng rẽ rồi chỉ định học sinh trả lời. Mỗi học sinh trả lời một câu hỏi, nguồn thông tin cho cả lớp sẽ là tổ hợp các câu hỏi cùng với những lời đáp tương ứng, cuối cùng giáo viên hệ thống nhấn mạnh kiến thức thu được thông qua cuộc đàm thoại.

- Phương án thứ hai:

Thầy đặt ra cho cả lớp một câu hỏi chính thường có kèm theo những gợi ý, những hướng dẫn  có liên quan tới câu hỏi chính, người sau lại bổ sung và hoàn chỉnh thêm câu trả lời của người trước và cứ như thế cho đến khi thầy thấy rằng tổ hợp các câu trả lời củ học trò đã bao gồm đúng và đủ lời giải tổng quát của câu hỏi ban đầu thì mới thôi.

- Phương án thứ ba:

Thầy nêu câu hỏi chính, kèm theo những gợi ý nhằm tổ chức cho cả lớp tranh luận hoặc đặt ra những câu hỏi gợi ý cho nhau để giúp nhau giải đáp. Câu hỏi chính do thầy nêu ra thường chứa đựng yếu tố kích thích tranh luậu. Ví dụ: nó chứa đựng mâu thuẫn dưới dạng nghịch lí, hoặc nó vạch ra nhiều phưng án giải quyết phải lựa chọn. Đứng trước những câu hỏi thuộc loại này, học sinh đã vô hình đứng về những phe đối lập nhau, mỗi phe bênh vực một ý kiến của mình và bác bỏ ý kiến của bên kia một cách có sở khoa học, cuối cùng là lời đáp của học sinh rất lúng túng khi xây dựng lên lời tổng kết cuộc tranh luận, vì tính chất khái quát và phê phán của nó, cho nên  người thầy phải đưa ra câu hỏi phụ gợi ý, hỗ trợ cho trò tự lực đi tới kết luận, sau đó bao giờ người thầy cũng phải tổng kết lại câu tổng kết đó và vạch rõ ưu, nhược điểm của ý kiến mỗi phe rồi đưa ra kết luận của một người trọng tài, ở đây là câu hỏi chính kèm theo sự kích thích tranh luận, bản thân nội dung sự tranh luận và lời giải đáp tổng kết.

     Phương pháp dạy học sân khấu hóa

     Dạy học bằng hình thức sân khấu hóa được sử dụng nhiều và phát huy tác dụng tốt đối với  rất nhiều môn học. Đây được đánh giá là một trong những phương pháp dạy học phát huy tối đa vai trò chủ động chiếm lĩnh kiến thức của học sinh.

     Để tiết học bằng hình thức sân khấu hóa phát huy hiệu quả tối đa, quan trọng nhất là các khâu chuẩn bị, lên ý tưởng. Bước lên lớp chính là buổi nghiệm thu, báo cáo kết quả.

     Có 5 bước cơ bản để thực hiện một giờ dạy theo hình thức cải tiến này:

Bước 1: Giáo viên lựa chọn bài dạy, xác định mục tiêu, kế hoạch dạy học.

Bước 2: Giao nhiệm vụ cho học sinh (hoạt động theo nhóm)

Bước 3: Học sinh nghiên cứu bài học, xây dựng ý tưởng cách thức thực hiện và trao đổi với giáo viên.

Bước 4: Giáo viên sửa chữa, góp ý, hướng dẫn học sinh tìm hiểu và bổ sung ý tưởng.

Bước 5: Học sinh hoàn thành ý tưởng đã thống nhất, cùng nhau luyện tập chuẩn bị. Giáo viên quan sát, góp ý và chỉnh sửa tiếp để hoàn chỉnh sau đó là tổ chức dạy học trên lớp hoặc trong giờ ngoại khóa.

Đây là hình thức dạy học thu hấp dẫn, thu hút học sinh. Thay vì tiếp nhận kiến thức một cách khô khan theo lối dạy học truyền thống, với hình thức sân khấu hóa, các em được trải nghiệm thực tế, được hóa thân vào nhân vật lịch sử, có cảm xúc và tự cảm nhận về nhân vật, từ đó hiểu và thêm yêu quê hương đất nước qua từng bài học.

Trong quá trình giao nhiệm vụ cho học sinh, giáo viên có thể nêu thêm các gợi ý để học sinh tìm hiểu hiệu quả hơn. Nên giới thiệu theo hình thức nào? Cần truyền tải những thông tin gì? Và các đội sẽ tự thể hiện ý tưởng của mình.

Các hình thức có thể lựa chọn gồm: múa, hát, kịch, diễn xướng, hài kịch, miễn sao nói lên được các nội dung liên quan  đến kiến thức mà mình tìm hiểu.

Khi cùng nhau luyện tập, biểu diễn là kiến thức trong nội dung bài học và cả những kiến thức ngoài bài học đã ăn sâu vào tiềm thức của học sinh. Đó không chỉ là quá trình trau dồi kiến thức mà còn viết nên những kỷ niệm đẹp của tuổi học trò, là rèn kỹ năng làm việc nhóm rất hiệu quả cho mỗi học sinh.

Trong tiết học được sân khấu hóa, vai trò của giáo viên sẽ là Ban giám khảo, nhận xét đánh giá kết quả tìm hiểu và nghiên cứu của các em, động viên khuyến khích tinh thần tự học sáng tạo của các em, đồng thời giáo viên có thể bổ sung thêm các kiến thức và chỉnh sửa các phần còn thiếu sót, giúp các em thu nạp tối đa phần kiến thức cần thiết.

Thực tế cho thấy, dạy học bằng hình thức sân khấu hóa rất thu hút học sinh. Mọi học sinh đều mong muốn tham gia để thể hiện bản thân, rèn luyện sự tự tin và các kỹ năng khác.

Nhờ những hoạt động cùng tìm hiểu, xây dựng bài học, tập kịch bản, học sinh đoàn kết hơn, tình cảm hơn với thầy cô, bạn bè và có thêm những kỷ niệm đẹp đẽ của tuổi thọc trò dưới mái trường. Nó cũng tạo động lực và thoải mái tinh thần giúp các em học hiệu quả hơn ở các môn học khác.

     Kĩ thuật dạy học “khăn trải bàn”

Là hình thức tổ chức hoạt động mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm nhằm:

Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực.

Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân HS.

Phát triển mô hình có sự tương tác giữa HS với HS.

Cách tiến hành kĩ thuật “khăn trải bàn”

Hoạt động theo nhóm (4 người /nhóm).

Mỗi người ngồi vào vị trí như vẽ trên tấm khăn phủ bàn trên đây.

Tập trung vào câu hỏi (hoặc chủ đề,…).

Viết vào ô đánh số của bạn những điều bạn thích về câu hỏi (chủ đề) và những điều bạn không thích. Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút.

Khi mọi người đều đã xong, chia sẻ và thảo luận các câu trả lời.

Viết những ý kiến chung của cả nhóm vào ô giữa tấm khăn trải bàn.

Một số bài học có thể áp dụng kĩ thuật khăn trải bàn:

Hóa học 8: - Bài 22: Tính theo phương trình hóa học

- Bài 24: Tính chất của oxi

- Bài 31: Tính chất, ứng dụng của hidro.

- Bài 36: Nước.............

 - Bài 42 ; nồng độ dung dịch.

Hóa học 9:

 - Bài 1: Tính chất hóa học của oxit

- Bài 3 : Tính chất hóa học của axit.

- Bài 7: Tính chất hóa học của bazơ.

- Bài 9 : Tính chất hóa học của muối.

- Bài 16: Tính chất hóa học của kim loại

- Bài 27: Cacbon...

     IV. TIẾT MINH HỌA: “TIẾT 33 BÀI 27: CACBON” HÓA HỌC 9

+ Việc đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi những điều kiện thích hợp về phương tiện, cơ sở vật chất và tổ chức dạy học, điều kiện về tổ chức, quản lý. Ngoài ra, phương pháp dạy học còn mang tính chủ quan. Mỗi giáo viên với kinh nghiệm riêng của mình cần xác định những phương hướng riêng để cải tiến phương pháp dạy học và kinh nghiệm của cá nhân.

+ Để thực hiện tốt việc  ứng dụng  phương pháp và kĩ thuật dạy học hiện đại vào giảng dạy môn hóa học 9,  tôi đã học hỏi các đồng nghiệp, nghiên cứu tài liệu sách hướng dẫn và soạn bài trên powerpoint.

+ Thu thập các loại thông tin, băng đĩa, đoạn phim tư liệu từ đài truyền hình Việt Nam, tham khảo trên các trang web…

Sau khi đã nghiên cứu phương pháp thực hiện, tôi đã quyết định chọn bài

“Cacbon” để có thể thực hiện được ý đồ về việc ứng dụng phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực trong giảng dạy môn hóa học 9.

Để xây dựng tiết học tôi và học sinh cần chuẩn bị những nội dung sau:

1. Giáo viên:

- Xác định mục tiêu của bài học căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu về thái độ trong chương trình.

- Nghiên cứu sách giáo khoa, sách giáo viên và các tài liệu  liên quan để: hiểu chính xác, đầy đủ những nội dung của bài học; xác định những kiến thức, kĩ năng, thái độ cơ bản cần hình thành và phát triển ở học sinh; xác định trình tự logic của bài học.

- Xác định khả năng đáp ứng các nhiệm vụ nhận thức của học sinh, gồm: xác định những kiến thức, kĩ năng mà học đã có và cần có; dự kiến những khó khăn, những tình huống có thể nảy sinh và các phương án giải quyết.

- Lựa chọn phương pháp dạy học, phương tiện dạy học, hình thức tổ chức dạy học và cách thức đánh giá thích hợp nhằm giúp học sinh học tập tích cực, chủ động, sáng tạo.

- Thiết kế giáo án.

2. Học sinh:

- Chia lớp thành ba nhóm lớn chuẩn bị bài ở nhà.

Nhóm 1: Tìm hiểu các dạng thù hình của Cacbon

+ Dạng thù hình là gì?

+ Cacbon có những dạng thù hình nào?

+ Tính chất của từng dạng thù hình?

Nhóm 2: Tìm hiểu các ứng dụng của Cacbon.  Khuyến khích trình bày sáng tạo, quay phim.

- Chuẩn bị tiểu phẩm: đức vua kén rể

Nhóm 3: Biện pháp bảo vệ môi trường

- Chuẩn bị văn nghệ kết thúc tiết học: Múa hát bài “Trái đất này là của chúng mình”.

Sau đây là tiến trình tiết dạy cụ thể

1.Giáo án:

Tiết 33: Bài 27: CACBON

I. Mục tiêu bài học

1. Kiến thức

     Học sinh nêu được:

     - Cacbon có 3 dạng thù hình chính: Kim cương, than chì và cacbo vô định hình.

     - Cacbon vô định hình (than gỗ, than xương, mồ hóng…) có tính hấp phụ và hoạt động hóa học mạnh nhất.

     - Cacbon là phi kim hoạt động hóa học yếu: tác dụng với oxi và một số oxit kim loại.

     - Ứng dụng của cacbon.

2. Kỹ năng

     - Quan sát thí nghiệm, hình ảnh thí nghiệm và rút ra nhận xét về tính chất của cacbon.

     - Viết các PTHH của cacbon với oxi, với một số oxit kim loại.

     - Tính lượng cacbon và hợp chất của cacbon tron phản ứng hóa học.

3. Thái độ

- Học sinh thấy được vai trò và ứng dụng của cacbon trong đời sống.

- Học sinh biết bảo vệ môi trường, giảm thải các khí độc hại.

4. Định hướng phát triển năng lực

 - Năng lực tự học;

 - Năng lực hợp tác;

 - Năng lực tính toán;

 - Năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học;

 - Năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào cuộc sống;

 - Năng lực thực hành hóa học.

     II. Phương pháp/kĩ thuật dạy học

     - Quan sát, đàm thoại, hợp tác nhóm, thực hành thí nghiệm, kĩ thuật khăn trải bàn…

     III. Chuẩn bị của giáo viên - học sinh

     1. Chuẩn bị của giáo viên

     - Hóa chất: than gỗ, mực, H2O, CuO, dung dịch Ca(OH)2.

     - Dụng cụ: giá sắt, ống nghiệm, bộ ống dẫn khí, đèn cồn, cốc thủy tinh, phễu thủy tinh, muôi sắt, giấy lọc, bông, thìa thủy tinh.

     - Băng hình thí nghiệm cacbon tác dụng với oxi, cacbon khử đồng (II) oxit (sử dụng trong trường hợp làm thí nghiệm không thành công).

     2. Chuẩn bị của học sinh

     - SGK, vở ghi.

     - Chuẩn bị đồ dùng học tập sử dụng trong tiết học.

     IV. Tiến trình dạy học

HĐ của GV

HĐ của HS

Nội dung cần đạt

Khởi động - Vào bài (3 phút)

Mục tiêu:

Sử dụng các hình ảnh, video cụ thể để hướng học sinh tập trung vào nội dung bài học.

Khởi động - Vào bài

-  GV chiếu video giới thiệu về nguyên tố Cacbon.

(?) Qua clip vừa xem, hãy cho biết đây là nguyên tố hóa học nào?

 

- Quan sát video.

 

- Suy nghĩ, trả lời cá nhân.

 

Nguyên tố Cacbon

Hoạt động 1: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu các dạng thù hình của Cabon (7 phút)

Mục tiêu:

- Học sinh nêu được Cacbon có 3 dạng thù hình chính: Kim cương, than chì và cacbo vô định hình.

- Học sinh trình bày được khái quát tính chất vật lý của các dạng thù hình chính của Cacbon

Năng lực hình thành: Tự học, hợp tác, sử dụng ngôn ngữ hóa học

 

 

GV: GV: Chiếu hình ảnh ví dụ về khí O2 và khí O3

? Cho biết khí O2 và khí O3 được tạo nên từ nguyên tố nào?

GV: Gợi ý cho HS khí O2 và khí O3 là 2 dạng thù hình của nguyên tố Oxi.

? Vậy dạng thù hình là gì?

GV: Bổ sung và kết luận.

GV chuyển ý: Cacbon có những dạng thù hình nào?

* Học sinh báo cáo bài tập về nhà

? Tìm hiểu các dạng thù hình của Cacbon

+ Dạng thù hình?

+ Dạng thù hình của Cacbon?

+ Tính chất vật lý của từng dạng thù hình?

- GV nhận xét, chốt

 

 

 

 

HS: Nguyên tố Oxi

 

 

 

 

 

HS: Dựa vào gợi ý của GV để trả lời câu hỏi.

 

 

Chú ý và nêu được Cacbon có 3 dạng thù hình.

+ Kim cương: cứng, trong suốt, không dẫn điện.

+ Than chì: mềm dẫn điện.

+ Cacbon vô định hình: xốp không dẫn điện.

I. Các dạng thù hình của Cacbon

1. Dạng thù hình là gì? (SGK/82)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2. Cacbon có những dạng thù hình nào?

Cacbon có 3 dạng thù hình:

+ Kim cương

+ Than chì

+ Cacbon vô định hình

 

Hoạt động 2: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu tính chất của Cacbon (25 phút)

Mục tiêu: Học sinh nêu được:

     - Cacbon vô định hình (than gỗ, than xương, mồ hóng…) có tính hấp phụ và hoạt động hóa học mạnh nhất.

     - Cacbon là phi kim hoạt động hóa học yếu: tác dụng với oxi và một số oxit kim loại.

     - Quan sát thí nghiệm, hình ảnh thí nghiệm và rút ra nhận xét về tính chất của cacbon.

     - Viết các PTHH của cacbon với oxi, với một số oxit kim loại.

Năng lực hình thành: Tự học, hợp tác, thực hành hóa học, sử dụng ngôn ngữ hóa học, vận dụng kiến thức hóa học vào cuộc sống.

* “Ảo thuật gia nhí”

GV: Hướng dẫn HS làm thí nghiệm theo nhóm (3 nhóm):

- a.Cho khoảng 20 ml nước màu vào phễu thuỷ tinh có chứa bột than, phía dưới đặt một bình tam giác để thu nước lọc.

b.Cho khoảng 20 ml nước màu vào phễu thuỷ tinh có chứa bông, phía dưới đặt một bình tam giác để thu nước lọc.

- Quan sát hiện tượng, rút ra nhận xét?

- GV quan sát HS tiến hành TN, hướng dẫn nếu cần thiết.

? Nêu hiện tượng xảy ra

 

 

 

? Qua thí nghiệm trên em có nhận xét về tính chất của bột than gỗ.

GV: Bằng nhiều thí nghiệm chứng minh: Than gỗ có tính hấp phụ.

GV : Phân biệt hấp phụ và hấp thụ

GV: Giới thiệu về tác dụng của than hoạt tính, liên hệ thực tế với các thiết bị lọc nước trong gia đình...

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- HS các nhóm tiến hành thí nghiệm.

 

- Quan sát và nêu hiện tượng

+ Ban đầu mực có màu tím...

+ Dung dịch thu được trong cốc không màu.

 

+ Nhận xét: Than gỗ có tính hấp thụ màu trong dung dịch.

 

 

 

HS: Lắng nghe

II. Tính chất của Cacbon

1. Tính chất hấp phụ

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- Than gỗ khả năng giữ trên bề mặt nó các chất khí, chất hơi, chất tan trong dung dịch.

- Than gỗ có tính hấp phụ.

 

 

GV: Thông báo cacbon có tính chất của phi kim như tác dụng với H2, kim loại, tuy nhiên điều kiện phản ứng rất khó khăn (Cung cấp PTHH minh họa, ghi rõ điều kiện phản ứng)

GV: Tính chất phi kim tác dụng với oxi các em đã học từ lớp 8 rồi, vậy 1 bạn nhắc lại hiện tượng khi đốt cacbon trong khí oxi?

GV: Yêu cầu HS lên bảng viết PTHH

GV: Do phản ứng  của Cacbon tác dụng với O2 tỏa nhiều nhiệt, Cacbon được dùng để làm nhiên liệu trong đời sống và sản xuất

GV: Cho học sinh biết trong các chất thải công nghiệp có rất nhiều oxit của lưu huỳnh, nitơ thải vào trong không khí tưởng như vô hại nhưng nó tác dụng với hơi nước có trong không khí tạo thành dung dịch axit gây ra mưa axit làm phá hại mùa màng

 

- Các phương tiện giao thông và chất thải công nghiệp của các nhà máy có rất nhiều oxit cacbon (cacbon là một phi kim) tạo ra hiệu ứng nhà kính khiến cho khí hậu của chúng ta biến đổi trong những vấn đề đó: băng tan ở Bắc cực và Nam cực làm cho nước biển dâng cao nhấn chìm các khu vực thấp. Việt Nam của chúng ta là một trong 5 quốc gia châu Á ảnh hưởng sâu sắc của sự biến đổi khí hậu này.

 

 

- GV cho hs làm  TN Cacbon tác dụng với CuO (Sử dụng máy chiếu vật thể)

? HS quan sát nêu hiện tượng xảy ra

 

? Vì sao nước vôi trong vẩn đục.

+ Chất rắn sinh ra có màu đỏ là chất nào?

? Viết PTHH xảy ra.

- Giới thiệu: Ở nhiệt độ cao

+ Cacbon tác dụng được với một số oxit kim loại hoạt động trung bình (oxit kim loại khác đứng sau Al trong dãy HĐHH của kim loại ).

+ Không tác dụng được với oxit kim loại mạnh như: Na2O, MgO, Al2O3…(oxit của một số oxit kim loại khác đứng trước Al trong dãy HĐHH của kim loại ) .

 

Bài tập: Viết PTHH khi cho C khử các oxit sau ở nhiệt độ cao: FeO, PbO, Na2O

Hs: nêu hiện tượng: cacbon cháy trong oxi tạo ra khí cacbon đioxit, phản ứng tỏa nhiều nhiệt.

 

HS: Lên bảng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HS chú ý quan sát, nêu hiện tượng xảy ra

+ Hiện tượng: Hỗn hợp chuyển từ màu đen sang màu đỏ. Nước vôi trong vẩn đục.

 

 

+ Vì sản phẩm có CO2

 

+ Chất rắn tạo thành màu đỏ là Cu.

 

 

 

 Viết PTHH:

 

2. Tính chất hóa học

 

 

 

 

 

 

a. Tác dụng với oxi

PTHH:

Phản ứng tỏa nhiều nhiệt

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

b. Tác dụng với oxit kim loại

 

 

PTHH:

CuO(rắn, đen) + C(rắn, đen) Cu(rắn, đỏ) + CO2(k)

Hoạt động 3: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu ứng dụng của Cacbon (8 phút)

Mục tiêu: Học sinh trình bày được ứng dụng của cacbon.

Năng lực hình thành: Tự học, hợp tác, sử dụng ngôn ngữ hóa học, vận dụng kiến thức hóa học vào cuộc sống.

 

* Học sinh báo cáo bài tập dự án

? Tìm hiểu các ứng dụng của Cacbon qua tiểu phẩm đức vua kén rể

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

GV:  Cacbon tuy có rất nhiều ứng dụng nhưng trong quá trình sử dụng cacbon làm chất đốt, nhất là sử dụng trong công nghiệp luyện kim  tạo ra khí CO2 gây ô nhiễm môi trường, ô nhiễm khói.

Vậy các em cần có những biện pháp gì để bảo vệ môi trường?

GV: Nhận xét – tích hợp trình bày khí CO2 của HS vào bảo vệ môi trường.

GV: Bài hát đã kết thúc tiết học ngày hôm nay, xin kính chúc các thầy cô giáo mạnh khỏe chúc các em học sinh chăm ngoan học giỏi.

HS nêu được các ứng dụng của Cacbon

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HS: Trả lời

HS: Múa bài hát trái đất này là của chúng mình

 

 

 

 

 

 

III. Ứng dụng của Cacbon

Tùy thuộc vào tính chất của các dạng thù hình, người ta sử dụng cacbon trong đời sống và sản xuất.

- Than chì: làm điện cực, chất bôi trơn, ruột bút chì…

- Kim cương : đồ trang sức, mũi khoan…

- C vô định hình:

* Than hoạt tính: mặt nạ phòng độc…

* Than đá, gỗ: nhiên liệu, chất khử.

Hoạt động 4: Hướng dẫn và giao nhiệm vụ về nhà (2 phút)

Mục tiêu:

- HS củng cố, khắc ghi nội dung bài học.

- HS chủ động tự học, chuẩn bị bài mới.

 

- GV hướng dẫn HS cách học bài và chuẩn bị bài mới cho tiết học sau.

 

 

- HS lắng nghe, ghi chép.

 

 

IV. Hướng dẫn và giao nhiệm vụ về nhà

1. Bài vừa học:

- Sưu tầm những tư liệu, tranh ảnh, bài hát,… tuyên truyền về ứng dụng của cacbon.

- Làm hoàn thành các bài tập trong SGK.

-  Học bài theo nội dung bài học.

- Thiết kế một đồ vật dựa trên tính hấp phụ của cacbon.

2. Chuẩn bị bài mới:

- Đọc và tìm hiểu nội dung bài: “Các oxit của Cacbon”.

+ Sưu tầm hình ảnh, thông tin về hậu quả do cháy, nổ gây ra.

+ Tìm hiểu về ứng dụng, vai trò của các hợp chất cacbon trong đời sống.

 

    V. KẾT QUẢ THỰC HIỆN:

     1/ Kết quả nghiên cứu:

     Riêng bản thân tôi nhờ vận dụng phư­ơng pháp dạy học hiện đại kết hợp với nhiều phư­ơng pháp khác, tôi đã đạt đ­ược một số kết quả nhất định. Học sinh trở nên thích học hoá hơn, thích những giờ dạy của tôi nhiều hơn, thậm chí có cả những học sinh đã về nhà tự quan sát và tái tạo lại hiện t­ượng thức tế, rồi lại đến hỏi tôi.

     Trong giờ học, tôi đã kết hợp hài hoà trong phong cách dạy của mình có thể làm cho giờ học mang không khí rất thoải mái, nh­ưng khả năng tiếp thu bài cũng rất tốt. Phần lớn kiến thức trong bài học được khai thác một cách triệt để, học sinh tích cực, chủ động trong các hoạt động học tập. Các giờ học hóa học trở nên gần gũi hơn với các em, đa số học sinh không còn e ngại trong học tập, đặc biệt là các em học sinh còn yếu cũng tích cực hơn.

     Chất lượng học tập được nâng lên rõ rệt thể hiện qua các bài khảo sát, tỉ lệ bài đạt từ trung bình trở lên tăng từ 10% đến 15% so với bài khảo sát cho cùng một bài học của năm trước.

     Bên cạnh những mặt đạt được như trên, tôi đã điều tra xem sự hứng thú của học sinh có thay đổi gì so với khi chưa đổi mới phương pháp tổ chức tiết học. Thật vui mừng vì kết quả thu được thật đáng khích lệ.

     Bảng 1: Em có thích tiết Hóa học  không? Hãy đánh dấu x vào ô trống phù hợp với ý kiến của em:

Rất thích

Thích

Không thích

Bình thường

245(70%)

105(30%)

 

 

     Bảng 2: Cách tổ chức  dạy học của GV trong tiết học này em cảm thấy như thế nào? Hãy đánh dấu x vào ô trống phù hợp với ý kiến của em:

Hứng thú

Bình thường

Nhàm chán

 280 (80%)                                                     

   70 ( 20 %)

 

     Bảng 3: Em có muốn được chủ động, sáng tạo, tham gia các hoạt động để tìm hiểu bài  không ?

Có :340 / 350 HS

Không : 10/350 HS

     Rõ ràng với sự đổi mới về phương pháp, kĩ thuật dạy học chất lượng dạy của giáo viên và kết quả học tập của học sinh đã có sự thay đổi rất lớn. Tôi thấy mình đã thực hiện đúng theo yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục mà  Bộ Giáo dục đã đề ra nhằm phát huy nhiều hơn những năng lực của người học. Qua các tiết dạy có đổi mới về phương pháp, kĩ thuật dạy học này, tôi càng thấy yêu nghề hơn, thấy mình cần phải học tập, bồi dưỡng chuyên môn nhiều hơn nữa để có những tiết dạy hiệu quả. Bản thân các em học sinh cũng được hoạt động nhiều hơn trong giờ học thậm chí thể hiện được những năng khiếu của bản thân như diễn kịch, hát. Vì thế mỗi ngày đến trường của học sinh là một ngày vui, mỗi tiết học Hóa là một tiết học lí thú.

     KẾT LUẬN - KHUYẾN NGHỊ

     I.KẾT LUẬN

     Trên đây là những trăn trở, suy nghĩ của tôi để tạo ra một tiết học hiệu quả, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, qua các tiết dạy theo hướng đổi mới và đặc biệt là tiết 33 – bài 27 “ Cacbon” như trên, tôi nhận thấy học sinh vô cùng hứng thú. Các em được thể hiện mình, được tham gia và làm chủ các hoạt động trong tiết học. Từ đó mục tiêu của tiết học được các em tiếp nhận một cách tự nhiên, không áp đặt, không cứng nhắc.

     Một số bài học kinh nghiệm từ thực tế

     a. Về phương tiện vật chất kỹ thuật phục vụ dạy và học

- Không gian lớp học phải thoáng, rộng, bàn ghế dễ sắp xếp

- Các phương tiện trình chiếu, sơ đồ bảng biểu, dụng cụ, hóa chất được trang bị đầy đủ.

- Đủ sách giáo khoa, tài liệu tham khảo để học sinh tự nghiên cứu.

- Lớp học không nên quá đông, tốt nhất từ 25 tới 30 học sinh.

      b. Về phía học sinh

Cần phải biết chuẩn bị bài theo hướng thảo luận nhóm, chuẩn bị các dụng cụ học tập cá nhân, nhóm.

-  Phải tự làm quen với cách thức tự học, kỹ năng xã hội và hợp tác làm việc trong nhóm.

-  Phải nỗ lực tự giải quyết nhiệm vụ học tập, độc lập, tự chủ, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, tránh thói dựa dẫm, chây lười.

     c. Về phía giáo viên

- Phải nêu được nhiệm vụ và mục đích của cả nhóm một cách rõ ràng.

- Cần có kế hoạch tổ chức hoạt động hợp tác cho nội dung cụ thể.

- Phân công công việc cụ thể cho từng nhóm, từng học sinh.

- Các yêu cầu đặt ra cần phù hợp với năng lực của học sinh.

- Lựa chọn bài giảng có tính hợp tác, có nội dung cần thảo luận, nhiều giả thuyết để đi tới kết luận chính xác.

- Khi cần tiết kiệm thời gian nên chia nhóm theo vị trí ngồi có sẵn.  

     II.KHUYẾN NGHỊ

- Tôi hy vọng rằng, trong những năm học tới phòng giáo dục đào tạo sẽ tiếp tục tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn hiệu quả hơn nữa để chúng tôi có được những phương pháp dạy học hay, hiệu quả, tổ chức các buổi chuyên đề về ứng dụng các phương pháp dạy học tích cực vào dạy học để giáo viên được học hỏi, trao đổi kinh nghiệm, nhằm giúp giáo viên có kỹ năng áp dụng vào giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.

- Nhà trường: bổ sung cập nhật kịp thời những tư liệu tài liệu có liên quan đến hoạt động bộ môn và phương pháp giảng dạy bộ môn.

- Với mỗi giáo viên: tham gia đầy đủ các buổi chuyên đề, chịu khó học hỏi, trau dồi kĩ năng, nhận thức được hiệu quả của việc sử dụng pp dạy học tích cực và hãy mạnh dạn thường xuyên áp dụng một cách có hiệu quả phương pháp vào trong mỗi tiết dạy của mình nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.

thời tiết các vùng

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

Bình chọn

Đánh giá thái độ tiếp công dân của cán bộ Một cửa quận