TIN TỨC KHÁC

Trường THCS Định Công: Một số giải pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong tập luyện chạy bền
Ngày đăng 29/08/2019 | 10:46  | View count: 2576

Sáng kiến kinh nghiệm: Một số giải pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong tập luyện chạy bền

I. PHẦN MỞ ĐẦU

     1.1 - Lý do chọn đề tài:

     Giáo dục thể chất là một mặt của giáo dục toàn diện,đồng thời là một bộ phận không thể tách rời của sự nghiệp giáo dục của đảng và nhà nước ta.

     Sự nghiệp giáo dục nói chung và giáo dục thể chất nói riêng đã góp phần hết sức quan trọng trong việc đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện,hoàn thiện về nhân cách, trí tuệ ,thể chất để phục vụ sự nghiệp công nghệ hóa hiện đại hóa đất nước,giữ vũng và tăng cường an ninh quốc phòng.

     Tầm quan trọng của TDTT thể hiện rõ trong tư tưởng  và việc làm của chủ tịch Hồ Chí Minh - người dạy: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần sức khỏe mới thành công”.

     Trong cuộc sống hiện nay vị trí công tác TDTT trong nhà trường được xác định theo đúng tầm quan trọng của nó. Thông qua giáo dục trong bộ môn thể dục, bồi dưỡng cho học sinh đức tính dũng cảm, giúp học sinh có được kỹ năng cơ bản để tập luyện và giữ gìn sức khỏe, nâng cao thể lực, góp phần rèn luyện nếp sống lành mạnh, tác phong nhanh nhẹn, tính kỷ luật cao. Biết vận dụng những điều đã học vào thực tế cuộc sống tạo cho thế hệ trẻ có nếp sống công nghiệp.

      Trong giáo dục thể chất, môn Điền kinh là nội dung cơ bản là nền tảng để  phát triển tố chất thể lực cơ sở cho các môn thể thao khác. Trong đó nội dung chạy bền được giảng dạy xuyên suốt chương trình các khối lớp (từ lớp 6 đến lớp 9) của cấp THCS. Hiện nay trong tất cả các tiết học của bộ môn thể dục nội dung chạy bền đều được đưa vào xen kẽ đều đặn hàng tuần cho các em học sinh tập luyện và được kiểm tra, đánh giá vào cuối học kỳ hai hàng năm với cột điểm đánh giá định kỳ và rèn luyện thân thể của học sinh. Tuy nhiên trong quá trình học các em chưa thật sự tự giác, tích cực tập luyện mà cứ phải để giáo viên nhắc nhở, động viên các em mới thực hiện nhưng vẫn ở mức độ hạn chế, chưa hết sức của mình.

      Trong khi đó sức bền là khả năng của cơ thể chống lại sự mệt mỏi khi học tập, lao động hay tập luyện thể dục – thể thao kéo dài. Vì vậy nếu chịu khó tập luyện thì ngoài việc cá nhân mỗi em có thêm sức khỏe, sự dẻo dai, sức chịu đựng của cơ thể mà nó sẽ là cơ sở thuận lợi để các em học tập tốt các môn học khác. Thế nhưng kỹ năng rèn luyện sức bền của các em học sinh còn rất hạn chế, thậm chí có những em không thích tập luyện dù đã được hướng dẫn, được học về lợi ích, tác dụng của sức bền trong cuộc sống con người. Dù vậy trong đề tài này tôi cũng xin được nêu ngắn gọn những kinh nghiệm trong quá trình thực tế giảng dạy tại trường nhằm góp phần giúp các em học sinh hiểu được vị trí, tầm quan trọng khi rèn luyện được sức bền, giúp các em ngày càng hứng thú, tự giác, tích cực học tập rèn luyện sức bền để từ đó làm cơ sở thuận lợi cho quá trình học tập lâu dài của các em. Với lý do trên tôi đã chọn đề tài “Một số giải pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong tập luyện chạy bền” để cùng trao đổi với các bạn đồng nghiệp đang giảng dạy môn Thể Dục, để cho bộ môn của chúng ta ngày càng phát triển mạnh hơn nữa trong thời gian tới.

     1.2 - Mục đích nghiên cứu:

     Môn Điền Kinh là môn thể thao khá khó khăn và đơn điệu  trong đó chạy bền là nội dung người tập phải thật sự là những người ham thích và kiên trì để có thể lặp lại những chu kỳ bước chạy cho đến khi hoàn thành cự ly. Tập luyện chạy bền đòi hỏi phải tiêu thụ nhiều năng lượng của học sinh THCS nếu các em chưa thường xuyên tập luyện một môn thể thao nào đó thì có thể coi đây như một việc nặng nhọc với các em. Nhằm giúp học sinh có góc nhìn thân thiện hơn  và tiến tới có ý thức thường xuyên tập luyện chạy bền rèn luyện thân thể .Việc phát huy tính tích cực của học sinh trong tập luyện sức bền sẽ làm tăng hiệu quả rất lớn trong việc rèn luyện thể lực của học sinh, giúp các em hoàn thành mục tiêu môn học Thể dục ở bậc trung học cơ sở là:

- Biết được một số kiến thức, kỹ năng cơ bản để tập luyện giữ gìn sức khỏe và nâng cao thể lực.

- Góp phần rèn luyện nếp sống lành mạnh, nhanh nhẹn, khéo léo, thói quen tập luyện TDTT, giữ gìn vệ sinh.

- Có sự tăng tiến về thể lực, đạt tiêu chuẩn RLTT và thể hiện bản thân về TDTT.

- Biết vận dụng vào thực tế cuộc sống để rèn luyện bản thân.

     1.3 - Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu trong đề tài là học sinh THCS.

- Phạm vi nghiên cứu: Trường THCS .

- Thời gian thực hiện đề tài trong năm học trên cở sở từng tiết dạy.

II. PHẦN NỘI DUNG

     2.1- Cơ sở lý luận

     Hiện nay sự phát triển khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin đòi hỏi con người phaỉ có sức khỏe thể lực để học tập và lao động tốt,đây cũng là một trong những mục tiêu của TDTT đặt ra nhằm tăng cường sức khỏe  cho mọi người. Bên cạnh việc phát triển của công nghệ thông tin, khoa học kỹ thuật tạo ra máy móc thiết bị hiện đại giải phóng sức lao động thì cũng có hiện tượng con người lười vận động, cong vẹo cột sống, chân tay teo cơ dần, các bệnh nghề nghiệp làm ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ.

     Trong chương trình thể dục ở bậc THCS Bộ Giáo Dục đã đưa ra rất nhiều chương, nhưng riêng chương chạy bền được bố trí và lồng ghép xen kẽ trong tất cả các tiết xuyên suốt năm học và được chọn là nội dung kiểm tra đánh giá tiêu chuẩn rèn luyện thân thể của học sinh vào cuối học kỳ hai vì “sức bền là một tố chất đặc biệt không thể thông qua vài tiết học mà rèn luyện được, chạy bền cần dạy xen kẽ vào tất cả các tiết trong năm học, đồng thời vận động học sinh tập chạy bền hàng ngày tạo thành một thói quen. Có như vậy việc rèn luyện sức bền mới có hiệu quả và an toàn trong các đợt kiểm tra, thi đấu…” ( Sách giáo viên môn thể dục lớp 7).

     Bên cạnh đó ở phân môn này còn giúp cho các em phát triển sự dẻo dai, bền bỉ, đây cũng là một tố chất căn bản trong cơ thể con người nhằm chống lại sự mệt mỏi khi học tập, lao động hay tập luyện thể dục - thể thao kéo dài (định nghĩa sức bền là gì? sách giáo viên thể dục lớp 9).

     Ở trong sách giáo viên thể dục lớp 9 chương I, mục: một số hiểu biết cần thiết về sức bền có viết “Sức bền có một vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống, nếu không có sức bền con người vừa mới làm việc, học tập đã mệt mỏi, như vậy sẽ không bao giờ làm được việc gì có kết quả cao”.

     Chính vì vậy ngay trong những buổi đầu tôi đã chủ động tham mưu với Ban Giám Hiệu nhà trường, họp tổ nhóm chuyên môn để cùng thống nhất cụ thể về chương trình dạy, từng phần trong chương chạy bền, cũng như về phương pháp hướng dẫn, truyền đạt và bố trí thời gian tập luyện phù hợp theo phân phối chương trình của Sở Giáo Dục - Đào Tạo quy định để các em tiếp thu bài một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất  đồng thời để các em bố trí tự tập và rèn luyện tại nhà nhằm đạt kết quả cao nhất.

     Ở lứa tuổi THCS quá trình phát triển cơ thể rõ rệt. Các tuyến nội tiết tăng cường hoạt động, kích thích cơ thể lớn nhanh. Do sự phát triển cơ bắp không nhịp nhàng, thiếu cân đối khiến các em không phát huy được khả năng sức mạnh của mình, đồng thời mau xuất hiện mệt mỏi. Vì vậy việc luyện tập thể dục nhất là rèn luyện sức bền phải phong phú,hấp dẫn và đảm bảo sự phát triển toàn diện các tố chất thể lực.

     Ngoài ra bản thân tôi cũng đã đưa ra những hướng dẫn cụ thể, cách phân phối thời gian và các bài tập tại nhà ngoài thời gian trên lớp cho các em chủ động tập luyện từ đó các em không phải thắc mắc hay phải mất công tự tìm kiếm các bài tập để rèn luyện dẫn đến sự chán nản, bỏ mặc.

  1. - Thực trạng trước khi thực hiện các giải pháp đề tài

* Thuận lợi

– Được sự quan tâm giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường, tổ nhóm chuyên môn.

– Học sinh tiếp thu nhanh, dễ uốn nắn, sửa sai.

– Lực lượng giáo viên nhiệt tình, nhiều kinh nghiệm trong công tác.

– Hiện nay việc giáo dục thể chất cho học sinh trong nhà trường đang phát triển, được nhiều tổ chức xã hội và gia đình quan tâm.

* Khó khăn

– Đa số học sinh chủ yếu  có đời sống kinh tế khó khăn nên chế độ ăn uống không đảm bảo.

– Sức khỏe và khả năng tiếp thu của học sinh không đồng đều.

– Ý thức học tập, rèn luyện và tự học ở nhà chưa cao.

– Trong qúa trình học tập – rèn luyện các em còn ngại ngùng, rụt rè do lứa tuổi tâm sinh lý đang phát triển (nhất là học sinh nữ).

- Cơ sở vật chất kỹ thuật chưa đáp ứng được yêu cầu của tiết dạy  như đường chạy hẹp , cua gấp.

* Điều tra khảo sát chất lượng

     Trước khi thực hiện đề tài này thông qua quá trình giảng dạy của bản thân, trao đổi với các Thầy (cô) đồng nghiệp đi trước. Ngay từ đầu học kỳ I của năm học này tôi đã tiến hành điều tra sự hứng thú, tình hình học tập và rèn luyện sức bền của học sinh  khối 9 với tổng số 165 em với kết quả cụ thể từng lớp như sau:

- Về hứng thú học tập của học sinh lớp 9 trong nội dung chạy bền:

NỘI DUNG

Tổng số HS

Học sinh hứng thú

Số lượng

Tỷ lệ %

Tích cực, hăng hái và có ý thức tập luyện trong giờ học.

165

35

21,2

Chưa có sự hưng phấn, tích cực và hứng thú trong tập luyện.

70

42,4

Không hứng thú và chỉ tập luyện khi có sự nhắc nhở của giáo viên.

60

36,4

- Về kết quả học tập và rèn luyện của học sinh lớp 9 trong nội dung Chạy bền:

KẾT QUẢ

Tổng số học sinh

Số lượng

Tỷ lệ %

Giỏi

165

28

20

Khá

32

19

Đạt

68

40

Chưa đạt

37

21

(Theo tiêu chẩn rèn luyện thân thể – sách giáo khoa thể dục lớp 9)

     2.3- Các giải pháp thực hiện:

1. Yêu cầu:

Về phía Giáo viên: Nắm chắc kiến thức cơ bản về nội dung chạy bền, cả lý thuyết cũng như cách hướng dẫn các bài tập cụ thể cho từng giai đoạn tập luyện.

– Hướng dẫn cho học sinh biết cách xử lý các tình huống thường gặp trong quá trình tập luyện sức bền.

– Tham khảo sách giáo viên, sách tham khảo, xem tranh, phim tư liệu hướng dẫn giảng dạy.

– Lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợp : nội dung nào nên đưa lên trước – nội dung nào sau.

– Lồng ghép các trò chơi vận động vào tiết học để tiết học thêm sinh động nhằm nâng cao sự bền bỉ, dẻo dai của cơ thể.

– Xử lý một cách kịp thời đối với những học sinh chưa chú ý, không nghiêm túc trong giờ học.

–  Đưa ra các phương pháp sửa sai cụ thể đối với học sinh yếu và dùng hình thức đôi bạn cùng tiến để các em hỗ trợ nhau cùng tiến bộ.

Về phía Học sinh:

– Chú ý nghe hướng dẫn và làm mẫu của giáo viên.

– Thực hiện đúng kỹ thuật và yêu cầu tập luyện mà giáo viên đưa ra.

–  Biết kết hợp hít thở với bước chạy một cách hợp lý.

– Nghiêm túc, tự giác và tích cực trong tập luyện, khi chạy không nói chuyện, xô đẩy để tránh xảy ra chấn thương.

2. Giải pháp thực hiện:

– Đầu tiên giáo viên cần phải xác định rõ với học sinh: không được chủ quan, coi thường, cho là đã biết nên tập qua loa, đại khái mà phải nghiêm túc tập luyện bởi đa số học sinh không chịu khó tập luyện hay nếu có cũng chỉ là tập cho có, không tự giác, tích cực. Các em chưa thật sự hiểu được vị trí và tầm quan trọng của sức bền trong đời sống hàng ngày thông qua quá trình học tập, lao động và luyện tập thể thao của chính bản thân các em. Vì vậy vấn đề ở đây cần đặt ra là làm sao  để  phát huy tính tích cực của học sinh trong tập luyện chạy bền. Muốn có được sức bền thì phải tập luyện như thế nào? Tập làm sao? thời gian, địa điểm tập luyện ở đâu? và phải dùng các bài tập bổ trợ, trò chơi nào là phù hợp?

– Giáo viên khi giảng dạy về một số khái niệm và sự cần thiết về sức bền  trong đời sống, giáo viên cần cho học sinh tiếp cận bằng những ví dụ cụ thể, gần gũi với các em trong đời sống hàng ngày, gợi mở cho các em biết được một số nguyên tắc, hình thức và các phương pháp để tập luyện phát triển sức bền để các em vận dụng một cách đa dạng. Tuy nhiên luyện tập phát triển sức bền cũng có một điểm khó là: phải tập luyện thường xuyên, liên tục vì: “sức bền chỉ có được, khi tập luyện, họat động liên tục trong một khoảng thời gian và cường độ ở mức độ nhất định” (sách giáo viên thể dục lớp 9 – trang 10)Bởi thế tập sức bền là một thách thức lớn về ý chí, đòi hỏi mỗi người, mỗi học sinh cần phải có quyết tâm cao. Cần phải tập luyện có kế hoạch, vì vậy giáo viên cần chỉ dẫn, giúp đỡ các em xây dựng cho bản thân mình một kế họach tập luyện.

– Giáo viên cần có sự khích lệ, động viên các em phải thường xuyên tập luyện và có ý thức hơn trong mỗi tiết học qua đó dần dần hình thành ý thức tự giác tập luyện, tập trung và ý thức tập thể trong mỗi em. Bên cạnh những em tích cực tham gia tập luyện cũng sẽ còn những em ý thức chưa cao, giáo viên cần quan tâm giáo dục từ từ (nếu cần nên có 1 số biện pháp chế tài cụ thể là đánh giá vào kết quả học tập của các em để cho các em chủ động quan tâm đến bộ môn).

– Một điều quan trọng là phải nhắc nhở các em sau khi chạy hết quãng đường nhất thiết cần thực hiện các động tác hồi tĩnh, không được ngồi hay dừng lại đột ngột và tự kiểm tra mạch đập nhằm theo dõi sức khỏe thông qua cách bắt mạch trên cổ tay.

Để làm được các việc đã nêu ở trên nhằm  phát huy tính tích cực của học sinh trong tập  luyện chạy bền giáo viên cần chú ý:

* Về lý thuyết:

– Qua tiết học  lý thuyết giáo viên cần nêu được vị trí – tầm quan trọng và lợi ích của sức bền trong cuộc sống hàng ngày.

–  Giáo viên cần nêu những ví dụ trong thực tế ví dụ cần gần gũi trong đời sống sát với thực tiễn địa phương để các em dễ tiếp thu và hình dung ra những bài tập cụ thể để áp dụng vào giờ thực hành. Từ đó sẽ khắc sâu được kiến thức đã được nghe thông qua giờ học.

– Bản thân giáo viên cần nêu ra một số nguyên tắc, hình thức, phương pháp trong khi tập luyện thể dục – thể thao nói chung và luyện tập sức bền nói riêng như: tập phù hợp với sức khỏe của mỗi người, tập từ nhẹ đến nặng dần. Tập thường xuyên hàng ngày kiên trì không nóng vội, tập chạy xong không dừng lại luôn đột ngột mà cần thực hiện một số động tác hồi tĩnh trong vài phút. Song song với việc tập chạy, cần rèn kỹ thuật bước chạy cách thở trong khi chạy , cách vượt qua một số chương ngại vật trên đường chạy và các động tác hồi tĩnh sau khi chạy… để tránh những ảnh hưởng xấu cho các em sau khi tập luyện.

* Về thực hành:

– Đồng thời với 2 giờ lý thuyết quy định đã được học ở trên lớp, giáo viên vẫn phải thường xuyên nhắc nhở, truyền giảng một số kiến thức cần thiết trong lúc tập luyện trong các giờ thực hành để các em nhớ, dần dần khắc sâu những nguyên tắc, phương pháp đó vào suy nghĩ. Nêu ra những yêu cầu đòi hỏi học sinh cần hiểu thêm và cần nghiêm túc, tự giác, tích cực tập luyện mới hoàn thành được và đạt kết quả cao.

– Song song với tập chạy cho học sinh luyện tập, giáo viên cần tập trung vào rèn luyện cho các em về kỹ thuật bước chạy, cách thở trong khi chạy, cách vượt qua chướng ngại vật trên đường chạy và các động tác hồi tĩnh sau khi chạy hết quãng đường.

– Giáo viên nên tổ chức cho các em học dưới nhiều hình thức khác nhau để học sinh hứng thú tham gia học tập một cách tích cực và có hiệu quả hơn. Cần rèn luyện cho các em chạy đúng kỹ thuật, biết cách xử lý khi gặp các tình huống bất ngờ trên đường chạy.

– Tăng cường giáo dục cho các em ý chí vượt khó trong tập luyện bằng cách tập và chơi những trò chơi vận động ngoài giờ học chính khóa.

– Giới thiệu cho các em các phương pháp, hình thức rèn luyện sức bền, các động tác bổ trợ kỹ thuật, những kiến thức có liên quan phù hợp với lứa tuổi, giới tính và sức khỏe.

Ví dụ: tập sức bền bằng các trò chơi vận động hoặc tập một số bài tập  như:

+ Bài tập 1:

 Tâng cầu tối đa  thời gian kéo dài tăng dần từ 2 đến 5 phút, 7 phút ( có thể tâng cầu bằng đùi, má trong bàn chân, má ngoài bàn chân, mu bàn chân. Nếu để cầu rơi nhanh chóng nhặt cầu để tiếp tục tâng cho liên tục.

+ Bài tập 2:

Nhảy dây bền thời gian kéo dài tăng dần từ 2 đến 5 phút, 7 phút ( nhảy liên tục với nhịp chậm .Nếu để dây vướng chân thì nhanh chóng điều chỉnh dây để tiếp tục sao cho liên tục như một hoạt động bền.

+ Bài tập 3:

Nhảy ô tiếp sức : Chuẩn bị kẻ vạch xuất phát.Cách vạch xuất phát 0,8 -1,5m của mỗi hàng kẻ 10 ô hình chữ nhật, mỗi ô có cạnh 0,4m, cạnh kia 1- 1,5m.Tập hợp học sinh thành những đội theo hàng dọc( tương ứng với mỗi hàng ô chuẩn bị) sau vạch xuất phát. Cách chơi: lần lượt từng em của mỗi hàng bật nhảy bằng 2 chân từ vạch xuất phát vào ô số 1, sau đó bật tách 2 chân vào ô số 2 và 3 liên tục như vậy cho đén ô cuối. Sau đó bặt nhảy quay 180 độ, rồi nhảy lần lượt qua các ô về vạch xuất phát, đưa tay chạm bạn số 2. Số 2 bật nhảy như số 1 và cứ lần lượt như vậy cho đến hết, hàng nào nhảy xong trước, ít phạm quy là thắng cuộc

+Bài tập 4:

Chạy zic zắc 15- 20m theo nhóm.Chuẩn bị : kẻ 2 vạch chuẩn bị và xuất phát cách nhau tối thiểu 1,5 m, mỗi vạch dài 6m. cách vị trí xuất phát của mỗi đội khoảng 3m và sang phải 5m rồi đánh sang trái 5m lần lượt đánh dấu hoặc cắm cờ,đặt bóng hay các vật chuẩn khác) 4 – 6 điểm chuẩn tạo thành một đường chạy zic zắc.

Tập hợp học sinh thành 2 hàng dọc sau vạch chuẩn bị , hàng nọ cách hàng kia 5- 6m nên cần có số lượng và tỷ lệ giống nhau. Cách chơi: khi có hiệu lệnh em số 1 chạy theo đường zic zắc vòng qua lần lượt các cờ, đến cờ cuối cùn thì chạy zic zắc ngược về vạch xuất phát đưa tay chạm vào bạn số 2, đi thường về tập hợp cuối hàng. Sau khi số 1 xuất phát số 2 tiến vào vị trí xuất phát, chờ khi số 1 chạm tay, nhanh chóng chạy như số 1 đã thực hiện. Trò chơi tiếp tục lần lượt cho đến hết, đội nào chạy xong trước ít phạm quy đội đó thắng.

+ Bài tập 5:

 Tập chạy phối hợp với thở (2lần  hít vào, 2 lần thở ra : chạy chậm trên địa hình tự nhiên, hai lần hít vào bằng mũi, sau đó hai lần liên tiếp thở ra bằng miệng theo một nhịp nhất định. Nếu đang đi hoặc chạy thì 2 lần hít vào tương đương với hai bước đi hay hai bước chạy, sau đó hai lân thở ra tương đương với hai bước đi hoặc chạy tiếp theo.

+ Bài tập 6:

Chạy chướng ngại vật. Để vượt chướng ngại vật thường gặp trên đường chạy tự nhiên. Đi bộ hoặc chạy chậm 50- 100m đầu tăng tốc độ ở cự ly 200m tùy thuộc vào thể lực học sinh để phân phối bài tập cho phù hợp.

Chuẩn bị : kẻ 2 vạch chuẩn bị và xuất phát cách tối thiểu 1,5 m. Mỗi vạch dài 4 – 5m. Cách vạch xuất phát về phía trước kẻ 4 vạch song song, mỗi vạch dài 0,5 m. Vạch thứ nhất cách vạch xuất phát 5m vạch thứ hai cách vạch thứ nhất 2m, vạch thứ ba cách vạch thứ hai 3m . Vạch thứ 3 cách vạch thứ tư 1,5m  lần lượt đặt hai quả bóng cao không quá 0,3m. Cách quả bóng thứ hai 3m cắm cờ chuẩn .

Cách chơi: Khi có hiệu lệnh những em số 1 của hàng chạy nhanh về trước sau đó nhảy qua đoạn 2m thứ nhất tiếp tục chạy thêm 3m rồi nhảy qua đoạn 2m thứ  hai sau đó lần lươt nhảy qua hai quả bóng chương ngại vật caoc chạy vòng qua cờ rồi chạy ngược lại  và cũng lần lượt vượt qua chướng ngại vật quy định. Đến vạch xuất phát đưa tay chạm vào bạn số hai, sau đó đi thường về cuối hàng. Sau khi số 1 xuất phát, số hai tự động tiến vào vạch xuất phát, chờ hi số 1 chạm tay, nhanh chóng thực hiện như số 1 thực hiện . trò chơi liên tục như vậy cho đén em cuối cùng đội nào xong trước ít phạm quy đội đó thắng.

+ Bài tập 7:

 Kết hợp chạy với đi bộ, từ từ rút ngắn thời gian hay cự ly đi bộ để tăng cự ly hay thời gian chạy.

+ Bài tập 8:

Tập sức bền bằng đi bộ hoặc chạy trên địa hình tự nhiên tùy theo sức khỏe từ 300m nâng dần lên đến 500m, 600m, 800m, 10000m, 1500m…hay từ 3 phút trở lên và từ từ nâng dần quãng đường và thời gian chạy hay  tập chạy kết hợp với thở: hai lần hít vào – hai lần thở ra. Chú ý chạy sát đường vòng hướng vào tâm chân trái thấp hơn, chân phải khi chạy qua đường vòng và phân phối sức trong chạy.

+ Bài tập 9:

Tập theo hình thức cá nhân hoặc theo nhóm tại chỗ hoặc di chuyển  theo vòng số 8 khi đi bộ, chạy…Đây là bài tập rất hay không nhàm chán và bức bối không phải chạy trên đường phố hoặc sân rộng. có thể chạy trên diện tích hẹp mà không bị chóng mặt, trong khi đó có thể chạy theo thời gian mong muốn. Phù hợp với trường có diện tích nhỏ hẹp như trường tôi. Ra bài tập về nhà, thời gian tập thích hợp vào cuối buổi sáng sớm hoặc chiều tối.

+ Bài tập10:

 Chạy theo tín hiệu còi, chuyển hướng chạy khi nghe tín hiệu nhằm phát huy tố chất thể lực sự hứng thú luyện tập sức bền.

+ Bài tập 11:

Tập sức bền bằng các môn có tác dụng rèn luyện sức bền như: đi bộ thể thao, chạy cự ly trung bình, chạy cự ly dài hay bóng đá…cũng có thể kết hợp tập các môn cầu lông, bóng rổ, bơi cự ly trung bình và dài.

– Giáo viên nên phối hợp dạy trên lớp với hướng dẫn học sinh luyện tập ngoài giờ.

Ví dụ: Nên tập vào buổi sáng với khoảng thời gian từ 5h00 – 6h00 với lượng vận động tăng dần như sau:

+ Tập từ 2 – 6 buổi/ tuần.

+ Tăng dần cự ly 500 - 800m (nữ), 800 - 1500m (nam) hoặc nâng dần thời gian chạy liên tục từ 3 - 8 phút (nữ), 4 - 10phút (nam).

+Tập thường xuyên kiên trì không nóng vội.

+ Sau đó thực hiện luyện tập chạy bền với khối lượng tăng dần tùy theo tình trạng sức khỏe và thể lực của mỗi em.

– Cho học sinh luyện tập phù hợp với sức khỏe và tuân thủ đúng các nguyên tắc trong tập luyện phát triển sức bền.

Ví dụ :

+ Đối với học sinh lớp 9 có sức khỏe bình thường:

Với nữ chạy từ 600 - 800m không tính thời gian hoặc 6 - 8 phút không tính cự li.

Với nam chạy từ 600 - 1000m không tính thời gian hoặc 8 - 12 phút không tính cự li.

+ Trong một giờ học, sức bền phải học sau các nội dung khác và được bố trí ở cuối phần cơ bản.

+ Tập chạy xong không được dừng lại đột ngột, mà phải giảm dần tốc độ, đi bộ thả lỏng và thực hiện các động tác hồi tĩnh vài phút.

+ Giáo viên hướng dẫn các em rèn luyện kỹ thuật bước chạy, cách thở khi chạy, cách vượt chướng ngại vật trên đường chạy

+ Hình thức tập chạy phong phú, phương pháp tập luyện đơn giản gây được hứng thú luyện tập tạo động lực cho học sinh có ý thức tự giác luyện tập để giữ gìn nâng cao sức khỏe cho học sinh.

+ Luôn giáo dục tính kiên trì chịu khó tập luyện cho học sinh khi học chạy bền để các em vượt qua được các cự ly quy định.

+ Giáo viên cho học sinh tập luyện cách đo mạch và cách lập biểu đồ theo dõi khỏe hàng tuần hàng tháng, nhiều tháng thông qua đo mạch cơ sở ( mạch yên tĩnh) việc làm này cần phải được thực hiện một cách nghiêm túc, chính xác.thường xuyên đây là việc làm bổ ích, qua đó nhắc nhở tinh thần thái độ học sinh đối với tập sức bền nói riêng và TDTT nói chung. Giáo viên chuẩn bị một biểu đồ diễn biến mạch để giới thiệu hướng dẫn cho học sinh cách thực hiện.

Việc đo mạch trước và sau vận động rất quan trọng, nhưng phức tạp mất nhiều thời gian, nên giáo viên chỉ cho học sinh đo mạch trước và sau chạy bền, lập biểu đồ theo dõi mạch để điều chỉnh cho phù hợp với sức khỏe học sinh.

Dụng cụ học tập rất quan trọng nên áp dụng triệt để vì nó dễ tạo nên hứng  thú. Cho nên mỗi nội dung mỗi tiết học Giáo viên nên thay đổi dụng cụ : như bóng đá , bóng chuyền, cầu lông hay các vật dụng khác mang màu sắc áp dụng trong bài học và các trò chơi sẽ tác động vào mắt các em sẽ gây sự hứng thú hấp dẫn trong luyện tập.

Trong tiết học, Giáo viên nên dùng thi đua khen thưởng để động viên các em, mỗi nội dung cho các tổ thi đua với nhau Giáo viên nhận xét khen thưởng sẽ tạo nên sự tranh đua gắng sức tập luyện. nói cách khác ở tâm lý học sinh chỉ cần động viên khen ngợi một điều gì đó là các em thích thú.

Giáo viên nên tìm hiểu tình hình học sinh một cách toàn diện , trong mỗi lớp học tìm hiểu khả năng vận động của các em có sức khỏe tốt. Đối với học sinh yếu và khuyết tật, không để các em nghỉ mà giáo viên cần tổ chức riêng cho các em tập với cường độ nhẹ hoặc cho các bạn có sức khỏe tố giúp đỡ các bạn yếu.Giáo viên nên động viên khích lệ những em này tạo điều kiện cho các em này làm trọng tài trong các trò chơi, các hoạt động thi đua hoặc áp dụng bằng cách “phục hồi chức năng” với các hình thức nhẹ nhàng, nội dung phù hợp để các em này được hoạt động.Tạo cho các em có một tinh thần thoải mái, vui vẻ, phấn khởi tập luyện nâng cao sức khỏe cùng các bạn . Mỗi tiết dạy giáo viên tạo mọi điều kiện sử dụng phương pháp phù hợp với lứa tuổi các em. Đảm bảo tính vừa sức, hấp dẫn tạo nên sự hưng phấn, kích thích các em say mê luyện tập, nâng cao sức khỏe đảm bảo các hoạt đông học tập và lao động.

Chúng ta đều biết TDTT là một lĩnh vực khoa học không có tri thức khoa học về TDTT thì không có niềm tin vào lợi ích, tác dụng kỳ diệu của TDTT với sức khỏe con người và không thể xây dựng cho mình một nếp sống văn minh khoa học , nếp sống hàng ngày rèn luyện thân thể đều đặn việc giáo dục thể chất là con dao hai lưỡi, người giáo viên hướng dẫn học sinh luyện tập mà không nắm được tình hình sức khỏe đặc điểm sinh lý của học sinh thì sẽ đua đến hậu quả khó lường. Điều quan trọng là giáo viên thể dục phải có trình độ vững vàng yêu thích TDTT ,có sức khỏe tốt.

Các yếu tố tạo nên sức bền gồm có : Năng lực của tuần hoàn, hô hấp và cơ khớp, khả năng duy trì hưng phấn của hệ thần kinh, sự tiết kiệm năng lượng và nguồn dự trữ năng lượng của cơ thể, sự phối hợp giữa các chức năng sinh lý cơ thể, kỹ thuật động tác và ý chí.

Từ các điều trên cho thấy tập sức bền cần thường xuyên, kiên trì không nên cho các em cho các em chạy bền với quãng đường dài hoặc thời gian lâu ngay lần đầu, dễ gây tâm lý sợ . Nên dạy xen kẽ vào cuối phần cơ bản các tiết học .lúc đầu chỉ nên chạy nhẹ nhàng sau đó nâng dần nên về cự ly thời gian. Kết hợp với nội dung học trên lớp giáo viên giao bài tập về nhà  cho các em tập chạy . Đặc biệt lúc đầu không nên cho các em chạy tính thời gian nên chạy nhẹ nhàng. Sau một thời gian dài tập luyện thường xuyên lúc đó cho chạy có tính thời gian .

Thông qua quá trình dạy học giáo viên cần làm cho học sinh thấy được ý nghĩa tầm quan trọng của sức bền trong đời sống vì thế rất cần phải rèn luyện để phát triển sức bền. Tuyệt đối không nóng vội , phải biết chạy một cách nhịp nhàng kết hợp với thở và thả lỏng, chạy trên quãng đường và thời gian phù hợp với sức khỏe của mình, đặc biệt chạy xong phải thực hiện các động tác hồi tĩnh,  thả lỏng để cơ thể trở lại bình thường. Giáo viên giải thích động viên học sinh rèn luyện thành nếp, có thói quen thực hiện các điều trên.

     2.4 - Hiệu quả

     Sau khi thực hiện và vận dụng đề tài vào công tác giảng dạy tôi nhận thấy:

1. Về phía học sinh

+ Các em đã có ý thức tự giác tích cực và rất hứng thú luyện tập trong rèn luyện sức bền.

+ Khi luyện tập và rèn luyện các em rất tích cực, nghiêm túc thực hiện các kỹ thuật.

+ Học sinh đã áp dụng đúng các nguyên tắc, phương pháp tập luyện, biết cách phối hợp bước chạy với nhịp thở.

+ Học sinh đã biết cách theo dõi mạch để theo dõi sức khỏe. Có ý thức thường xuyên luyện tập kiên trì theo sức khỏe của mình.

+ Học sinh cảm thấy ăn ngon ngủ miệng, ngủ tốt, người khỏe mạnh, ngồi học được lâu.

+ Đặc biệt là hoàn thành tốt hết cự ly mà giáo viên đã đưa ra.

2. Về phía giáo viên

+ Đã bớt căng thẳng lo lắng vì sợ các em không đủ sức khỏe để chạy hết quãng đường quy định.

+ Không phải nhắc nhở các em vì các em đã tự ý thức chủ động tham gia tập luyện.

+ Giáo viên đã có nhiều thời gian hơn trong việc giảng dạy, nhắc nhở cũng như chỉnh sửa các động tác kỹ thuật chạy của học sinh nhiều hơn so với nội dung phân phối chương trình đề ra của một tiết học.

     3. Kết quả cụ thể

     * Về hứng thú học tập của học sinh lớp 9 trong nội dung chạy bền:

  

 

NỘI DUNG

Tổng số HS

Học sinh hứng thú

Số lượng

Tỷ lệ %

Tích cực, hăng hái và có ý thức tập luyện trong giờ học.

165

120

73

Chưa có sự hưng phấn, tích cực và hứng thú trong tập luyện.

40

25

Không hứng thú và chỉ tập luyện khi có sự nhắc nhở của giáo viên.

3

2

- Về kết quả học tập và rèn luyện của học sinh lớp 9 trong nội dung Chạybền:

KẾT QUẢ

Tổng số học sinh

Số lượng

Tỷ lệ %

Giỏi

165

70

43

Khá

63

38

Đạt

30

18

Chưa đạt

2

1

(Theo tiêu chuẩn rèn luyện thân thể – sách giáo khoa thể dục lớp 9 trang 122)

     Từ kết quả điều tra cụ thể ở trên sau khi tiến hành thực hiện sáng kiến này  tôi nhận thấy: Học sinh đã có tiến triển tốt về ý thức học tập, đặc biệt các em đã ý thức hơn trong việc tập tự tập luyện ở nhà điều này được nhận thấy rõ qua kết quả điều tra lại ở trên, điểm kiểm tra của các em xếp loại: Đạt đã tăng lên rõ rệt (99%). Dù vậy vẫn còn một số em vẫn chưa đạt được kết quả như yêu cầu đề ra: Có 3 em chưa đạt, một số em ngại tập luyện vì sợ các bạn khác trêu trọc do thể hình của các em quá béo, điều này yêu cầu bản thân tôi trong thời gian tới cần có những kế hoạch và những phương pháp cụ thể hơn cho từng em trong thời gian tới nhằm khuyến khích, động viên các em hoàn thành tốt kết quả và nhiệm vụ học tập của bộ môn.

III. PHẦN KẾT LUẬN

     3.1- Ý nghĩa và giải pháp của đề tài.

– Thông qua kết quả điều tra, khảo sát và áp dụng đề tài vào thực tế trong công tác giảng dạy của bản thân, tôi thấy hiệu quả áp dụng đề tài là rất cao vì:

+ Bản thân giáo viên đã có hứng thú hơn trong công tác giảng dạy bộ môn của mình dẫn đến việc truyền đạt kiến thức cho các em được nhiều và sâu hơn.

+ Ý thức tự giác, hứng thú học tập, rèn luyện của các em học sinh được nâng cao rõ rệt, các em đã tự giác chạy hết cự ly quy định, không có em nào đi bộ hay cắt bớt vòng  như trước. Các em đã tiếp thu bài có hiệu quả từ đó việc áp dụng và tập luyện tại nhà được tốt hơn.

Khi thực hiện xong đề tài này tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các Thầy (cô) và các bạn đồng nghiệp đang giảng dạy bộ môn Thể Dục tại các trường, các Thầy (cô) trong Ban giám khảo để bản thân tôi hoàn thành tốt hơn trong công tác giảng dạy, giáo dục đạo đức và nhân cách học sinh .

– Muốn đạt được kết quả cao trong việc đánh giá chất lượng học tập của các em ngoài việc thực hiện tốt các phương pháp trên giáo viên cần phải sắp xếp một cách có trình tự, hệ thống và có tính khoa học với đặc trưng của nội dung chạy bền.

– Giáo viên cần phải làm mẫu rõ ràng, chính xác, đẹp về kỹ thuật chạy, cách phối hợp nhịp thở trong quá trình tập luyện. Ngoài ra giáo viên cũng cần thường xuyên nhắc nhở, uốn nắn, sửa chữa những động tác, kỹ thuật của học sinh trong quá trình học. Nêu rõ vai trò của bản thân các em đồng thời đưa vào các trò chơi vận động giúp các em hưng phấn trong lúc luyện tập tạo ra một tiết học sôi nổi, vui vẻ.

– Với những thuật ngữ về chuyên môn, những điều luật giáo viên cần phải nói chính xác, còn những câu hỏi mà các em thắc mắc cần giải đáp nếu chưa biết thì không nên trả lời vội mà có thể hẹn các em vào tiết sau trả lời để bản thân về nhà tìm hiểu cho chính xác.

– Giáo dục cho các em có thói quen luyện tập, tính tự giác cao và tinh thần kỷ luật tốt.

– Thường xuyên kiểm tra đánh giá kết quả quá trình học tập và rèn luyện của các em theo từng thời gian nhất định.

– Bản thân giáo viên cần nắm rõ sức khỏe của mỗi em trong mỗi lớp học mình dạy để đưa ra những bài tập phù hợp với sức khỏe của mỗi em chứ không cào bằng mà đưa vào lượng vận động quá nặng đối với những em có bệnh hay thể lực yếu hơn các bạn cùng trang lứa.

– Tăng cường dự giờ, thăm lớp, tham gia học hỏi, trao đổi kinh nghiệm với những đồng nghiệp đi trước. Tham khảo các bài giảng mẫu để rút kinh nghiệm, nâng cao nghiệp vụ sư phạm. Luôn tìm tòi những phương pháp dạy học phù hợp với thực tiễn, không áp đặt không máy móc.

– Thống nhất với các giáo viên trong nhóm bộ môn, phối hợp với Ban giám hiệu nhà trường, giáo viên chủ nhiệm và phụ huynh để vận động các em tích cực luyện tập.

     3.2 - Kiến nghị, đề xuất

*  Đối với Phòng Giáo dục:

– Hằng năm mở các lớp tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên thể dục.

*  Đối với Nhà trường:

–Thường xuyên tạo điều kiện cho giáo viên tham gia các lớp tập huấn nâng cao chuyên môn nghiệp vụ giảng dạy, phục vụ tốt cho công tác chăm lo sức khỏe học sinh.

– Giải pháp về cơ sở vật chất : Cần trang bị đầy đủ đồ dùng dạy học và trang thiết bị dụng cụ phục vụ cho việc giảng dạy của giáo viên và việc tập luyện của trò.

*  Đối với giáo viên:

– Phải sáng tạo thêm  các đồ dùng dạy học cần thiết để giờ học thêm sinh động lôi cuốn học sinh.

– Phải thường xuyên học hỏi trau dồi tri thức để làm giàu thêm vốn kinh nghiệm của mình trong công tác giảng dạy.Thu thập tài liệu sách báo,tranh ảnh, video, internet để có tư liệu phong phú đưa vào giảng dạy.

– Trong quá trình giảng dạy, giáo viên nên phối kết hợp nhiều phương pháp dạy học một cách linh hoạt nhằm tăng hứng thú học tập cho học sinh.

*  Đối với học sinh:

–  Đảm bảo trang phục thể dục thể thao, sinh hoạt hợp lý.

–  Tự giác tích cực tập luyện theo sự hướng dẫn của giáo viên. Thực hiện đầy đủ các bài tập về nhà.

thời tiết các vùng

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

Bình chọn

Đánh giá thái độ tiếp công dân của cán bộ Một cửa quận