TIN TỨC KHÁC

Trường THCS Định Công: Sử dụng câu chuyện pháp luật trong giảng dạy giáo dục công dân
Ngày đăng 29/08/2019 | 10:54  | View count: 688

Sáng kiến kinh nghiệm: Sử dụng câu chuyện pháp luật trong giảng dạy giáo dục công dân

PHẦN I - MỞ ĐẦU

      I- LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

     1- Cơ sở lý luận:

     Hiện nay, Đảng và nhà nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới sâu sắc và toàn diện về kinh tế xã hội, xây dựng nhà nước pháp quyền với mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh”. Công cuộc đổi mơi đòi hỏi đồng thời phải thực hiện rất nhiều khâu quan trọng, trong đó xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật thì vấn đề giáo dục nhận thức pháp luật cho nhân dân, thanh niên là một quan tâm hang đầu của quốc gia dân tộc. Pháp luật là sự thể chế hóa đường lối chính sách của Đảng, thể hiện ý chí của nhân dân lao động, là phương tiện chủ yếu để quản lí nhà nước. Tuy nhiên, pháp luật chỉ có thể phát huy hiệu quả để diều chỉnh các quan hệ xã hội khi mọi người có ý thức tôn trọng, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật. Con người ngày nay yêu cầu phải có sự phát triển toàn diện về trí tuệ, thể chất, tinh thần và đạo đức. Đó là cả một quá trình giáo dục trong nhà trường, gia đình, xã hội và sự tu dưỡng rèn luyện của bản thân, trong đó giáo dục pháp luật có ý nghĩa rất quan trọng. Song, trong thực tế vấn đề này chưa được quan tâm đúng mức. Cho nên đó là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm cho tình trạng vi phạm pháp luật, tệ nạn xã hội có xu hướng ngày càng tăng lên và đang là vấn đề bức xức, âu lo trong toàn xã hội mà các ngành từ Trung ương đến địa phương phải đặc biệt quan tâm giải quyết. Để pháp luật đi vào đời sống thực sự có hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đóng vai trò hết sức quan trọng. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta thường xuyên quan tâm đến công tác phổ biến, tuyên truyền và giáo dục pháp luật. Đặc biệt trong tình hình hiện nay, xuất phát từ nhu cầu đời sống xã hội và công cuộc đổi mới đất nước thì cần phải “Sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật” nên đòi hỏi cần phải nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lí nhà nước, tăng cường pháp chế, bên cạnh đòi hỏi cần phải nâng cao nhận thức về pháp luật.

    Nước ta đang trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền, quản lí xã hội bằng pháp luật thì đôi khi việc thi hành, hoàn thiện hệ thống pháp luật là làm sao cho mọi người hiểu biết pháp luật, sống và làm việc theo pháp luật. Tức là phải tổ chức giáo dục pháp luật cho nhân dân nói chung và đặc biệt là các thế hệ thanh thiếu niên học sinh nói riêng. Đây là nhiệm vụ rất quan trọng mà các cơ quan Đảng, Nhà nước và các tổ chức đoàn thể phải chăm lo. Trong đó nhiệm vụ giáo dục và đào tạo  của trường trung học cơ sở về giáo dục pháp luật cho học sinh có ý nghĩa rất lớn và thiết thực góp phần “ Tạo sự chuyển biến cơ bản toàn diện trong phát triển giáo dục và dào tạo”.

     Một trong những mục tiêu giáo dục ở nhà trường là giáo dục toàn diện. Ở trường THCS học sinh được học rất nhiều bộ môn khác nhau. Tất cả các môn học đó đều góp phần giáo dục tư tưởng, đạo đức cho học sinh. Bên cạnh đó còn có sự tác động của hoạt động Đoàn, Đội. Nhưng môn Giáo dục công dân là môn học trực tiếp giáo dục đạo đức, tư tưởng cho học sinh trong đó có việc giáo dục ý thức pháp luật.

     Giáo dục pháp luật cho công dân nói chung và cho học sinh phổ thông nói riêng là một vấn đề quan trọng của mọi quốc gia vì được coi là một phương thức để xây dựng, phát triển nền văn hoá pháp lí, đảm bảo sự ổn định và bền vững của mỗi quốc gia. Do đó cần phải hình thành cho mọi người có ý thức chấp hành nghiêm chỉnh "pháp luật" đặc biệt là đối tượng học sinh, ngay từ khi các em chưa phải là người tham gia pháp luật thường xuyên. Vì thế, xây dựng chương trình giáo dục pháp luật trong nhà trường là giải pháp mang tính lâu dài.

     2. Cơ sở thực tiễn.

     Ở trường THCS môn Giáo dục công dân của mỗi lớp 6, 7, 8, 9 đều gồm 2 phần là Đạo đức và Pháp luật, với thời lượng tương đương nhau. Qua khảo sát thực tế tôi nhận thấy, đa số giáo viên đều có thể dạy tốt các bài học đạo đức, nhưng lại gặp khó khăn trong việc giảng dạy các bài học thuộc chủ đề pháp luật. Qua thực tế trong những năm giảng dạy môn Giáo dục công dân tại trường THCS vừa qua tôi nhận thấy rằng nhu cầu mở rộng kiến thức pháp luật của học sinh ( đặc biệt là học sinh giỏi) ngày càng tăng. Vậy làm thế nào để các em có thể lĩnh hội, vận dụng được những kiến thức pháp luật một cách có hệ thống, bài bản mà không bị đơn điệu, khô khan, nhàm chán trong từng chủ đề pháp luật. Điều đó đòi hỏi những giáo viên dạy môn Giáo dục công dân phải biết lựa chọn kiến thức, phương pháp, hình thức tổ chức phù hợp với từng bài, từng chủ đề, từng đối tượng học sinh.

     Đổi mới phương pháp dạy học ở Trường phổ thông là nhiệm vụ giáo dục của toàn ngành trong giai đoạn hiện nay. Đổi mới phương pháp dạy học nhằm giúp học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và năng lực tự học, tinh thần hợp tác, kỹ năng vận dụng kiến thức của học sinh. Tạo cho học sinh có niềm tin, niềm vui, hứng thú trong học tập.

     Đối với môn Giáo dục công dân, đây là môn học trang bị cho học sinh những kiến thức phổ thông cơ bản, phù hợp với lứa tuổi học sinh về thế giới quan khoa học và nhân sinh quan tiến bộ, về các giá trị đạo đức, pháp luật, lối sống. Mặt khác, đây là môn học hình thành và phát triển ở các em những tình cảm, niềm tin, hành vi và thói quen đạo đức, pháp luật, giúp các em có được sự thống nhất cao giữa ý thức và hành vi.

     Đặc biệt trong chương trình môn Giáo dục công dân THCS đã đưa một số bài pháp luật vào chương trình để các em bước đầu có thói quen về ý thức pháp luật. Tuy nhiên ở lứa tuổi này các em còn nhỏ nhiều khi chưa có ý thức lĩnh hội nó. 

     Vì vậy để giúp học sinh đạt được những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ theo mục tiêu của chương trình mà không thấy khô khan khó hiểu là điều cần thiết. Vấn đề đặt ra cho chúng ta là phải kết hợp được các phương pháp dạy học và sử dụng phương tiện phù hợp với nội dung từng bài học. Các phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân rất đa dạng và phong phú, bao gồm các phương pháp truyền thống và hiện đại. Tuy nhiên dạy học môn Giáo dục công dân không thể tách rời việc liên hệ với thực tiễn cuộc sống. Liên hệ thực tiễn sẽ giúp cho các em có được cái nhìn thiết thực hơn về các vấn đề đã học và vận dụng có hiệu quả vào cuộc sống bản thân.

     Xuất phát từ những lí do trên tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Sử dụng câu chuyện pháp luật trong giảng dạy GDCD” nhằm tìm hiểu thực trạng vận dụng phương pháp này trong dạy học và đưa ra một số kinh nghiệm vận dụng có hiệu quả phương pháp liên hệ thực tiễn thông qua câu chuyện pháp luật trong dạy học của bộ môn.

     II. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

     Để xây dựng nội dung tiết học và giảng dạy có hiệu quả, đối tượng nghiên cứu của tôi là các em học sinh từ lớp 6 đến lớp 9. Là học sinh sống trong địa bàn khá phức tạp. Những người sống xung quanh các em có rất nhiều hành vi tùy tiện vi phạm pháp luật như: gia đình bất hòa, bố mẹ nghiện ngập. Các em cũng bị ảnh hưởng ít nhiều bởi ý thức đó. Việc giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh THCS có ý nghĩa dặc biệt quan trọng, đòi hỏi phải được tiến hành một cách bền bỉ thường xuyên và lâu dài, đồng thời phải đảm bảo nội dung thiết thực, sinh động.

     III. PHẠM VI NGHIÊN CỨU

     Giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh bằng những câu chuyện pháp luật cụ thể chính là giúp các em có them những hiểu biết về những “chuẩn mực pháp luật” biết xử lí các tình huống bắt gặp trong cuộc sống. Trong khuôn khổ của đề tài, tôi không thể nêu cụ thể tất cả các bài với những câu chuyện pháp luật tương ứng với nó. Tôi chỉ đưa ra một số các câu chuyện điển hình để tạo ra hứng thú cho học sinh khi tiếp xúc với pháp luật.

      IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

     Đề tài này được tiến hành bằng cách sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục.

     Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Đọc sách, báo, tạp chí chuyên ngành về các vấn đề liên quan đến đề tài nhằm thu thập các quan điểm lý luận dạy học cơ bản, để có cơ sở lý luận nghiên cứu thực tiễn.

     Phương pháp thực tiễn: Sưu tầm các tình huống pháp luật trong đời sống, trong các tài liệu.

     Phương pháp so sánh, chọn lọc, phân tích tổng hợp khái quát hóa.

PHẦN II - NỘI DUNG

     I. CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT TRONG HỆ THỐNG PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

     1. QUAN NIỆM VỀ CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT

     Trong hệ thống các phương pháp dạy học trong nhà trường phổ thông. Các phương pháp dạy học môn GDCD rất đa dạng và phong phú, bao gồm các phương pháp truyền thống và hiện đại. Tuy nhiên dạy học môn GDCD không thể tách rời việc liên hệ thực tiễn cuộc sống như: sử dụng các câu chuyện pháp luật, tình huống pháp luật phù hợp với nội dung bài học. Việc sử dụng các câu chuyện pháp luật sẽ giúp các em có được cái nhìn thiết thực hơn về cuộc sống của bản thân.

     Câu chuyện pháp luật là ví dụ thực tiễn có tính thực tế cao, nó cung cấp cho học sinh những câu chuyện pháp luật diễn ra trong cuộc sống hàng ngày, thông qua câu chuyện mà học sinh có thái độ, ý kiến riêng của mình về câu chuyện đó. Tạo điều kiện cho các em nghĩ đến những vấn đề đang diễn ra trong thực tế cuộc sống có liên quan đến bài học, đối chiếu với nội dung bài học để hiểu sâu sắc hơn điều cần học. Các em sẽ củng cố hành vi của bản thân phù hợp với thực tiễn cuộc sống. Vì vậy để tiến hành có hiệu quả nội dung bài học thông qua các câu chuyện pháp luật thì giáo viên cần phải trực tiếp sưu tầm tìm hiểu câu chuyện pháp luật. Các câu chuyện pháp luật phù hợp với nội dung bài học và phải ngắn gọn để tiết kiệm thời gian. Giáo viên có thể tóm tắt lại tình tiết của câu chuyện cho dễ hiểu và ngắn gọn hơn.

     Những câu chuyện pháp luật ngắn gọn, hấp dẫn phù hợp với nội dung bài học và đặc biệt gắn với thực tiễn cuộc sống, kết hợp với lối kể chuyện sinh động của giáo viên sẽ giúp học sinh tiếp thu bài một cách nhẹ nhàng, thấm sâu và có thể tạo được ở các em những ấn tượng mạnh mẽ, những cảm xúc sâu sắc, tác động đến hành vi của học sinh trong việc học tập và thực hiện pháp luật.

    Câu chuyện pháp luật là những câu chuyện phản ánh những sự việc, những hành động, việc làm có thật diễn ra trong thực tiễn cuộc sống xã hội hàng ngày của con người, được thể hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng: đài phát thanh, đài truyền hình, hoặc ở các tạp chí, sách  báo, trên mạng internet.

VD: Các câu chuyện pháp luật mang tính lịch sử, mang tính hình sự, mang tính dân sự…

Câu chuyện pháp luật vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật

* Câu chuyện pháp luật phải mang tính khoa học vì:

+ Phải phù hợp với yêu cầu của nội dung bài học và yêu cầu giáo dục

+ Phải đảm bảo được tính chặt chẽ, logic của cốt chuyện

+ Phải ngắn gọn để tiết kiệm thời gian

+ Phải phù hợp với đặc điểm của học sinh về trình độ nhận thức, tâm sinh lý

* Câu chuyện pháp luật phải mang tính nghệ thuật vì:

+ Nội dung các câu chuyện pháp luật sẽ giúp học sinh so sánh liên tưởng đến những hành động, việc làm của bản thân và của xã hội.

+ Thông qua các tình huống trong câu chuyện sẽ giúp học sinh vận dụng những kiến thức đã học vào cuộc sống hàng ngày. Nhân vật trong câu chuyện có những hành vi tốt, xấu và dẫn đến những kết quả tích cực hoặc tiêu cực. Những kết quả đó cùng với kinh nghiệm và kiến thức của bản thân, học sinh sẽ rút ra cho mình những kỹ năng sống cơ bản, cần thiết, đặc biệt là kiến thức về pháp luật.

Nguồn sưu tầm các câu chuyện pháp luật để vận dụng trong giảng dạy cũng rất đa dạng. giáo viên có thể sưu tầm trên các loại sách báo, tạp chí, đài phát thanh, đài truyền hình, mạng internet… và sưu tầm theo từng chủ đề, từng nội dung cụ thể trong bài dạy.

Việc sưu tầm các câu chuyện pháp luật cần chú ý phát huy tính chủ động nhận thức của học sinh, sưu tầm phải dựa trên mục tiêu bài học về kiến thức, kỹ năng, thái độ sưu tầm các câu chuyện pháp luật để giúp cho học sinh đạt được những mục tiêu trên thì câu chuyện càng có giá trị hơn. Hơn nữa sưu tầm các câu chuyện pháp luật cần phải xuất phát từ đặc điểm tâm lý, trình độ nhận thức của học sinh để tìm ra những câu chuyện phù hợp. Các câu chuyện cũng phải đảm bảo tính vừa sức, tính phát triển tư duy của học sinh. Các câu chuyện không khó hiểu mà mang tính giáo dục cao đối với học sinh. Các câu chuyện hay có những tình huống mở cho học sinh sẽ kích thích các chăm chú và cùng thảo luận. Khi sưu tầm các câu chuyện có thể sưu tầm một số câu chuyện tương đương về tình huống để có thể dạy cùng một lượng kiến thức, điều này có thể làm phong phú hơn sự liên hệ thực tế của các em.

Nắm bắt được những cơ sở trên việc sưu tầm các câu chuyện pháp luật sẽ dễ dàng đối với giáo viên đồng thời góp phần trong việc sử dụng nó để giảng dạy đạt hiệu quả cao hơn.

     2.  VAI TRÒ, CHỨC NĂNG CỦA CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT

     a. Vai trò

     Câu chuyện pháp luật góp phần hình thành cho học sinh những phương pháp học tập tích cực, năng động, sáng tạo, tạo cho học sinh hiểu sâu và nhớ lâu những kiến thức pháp luật. Thông qua các câu chuyện pháp luật học sinh sẽ giải quyết những vấn đề đã phát hiện được trong đó liên quan đến bài học. Bằng những tình huống, câu chuyện có thật học sinh sẽ có hứng thú tìm tòi các tình tiết và tìm cách giải quyết, phán đoán phù hợp với thực tiễn. Từ những câu chuyện pháp luật giáo viên dễ dàng giáo dục cho các em những nhận thức phù hợp; vì tính thực tiễn của câu chuyện pháp luật rất cao, câu chuyện pháp luật sẽ giúp học sinh có kinh nghiệm, thái độ ứng xử trong cuộc sống một cách hợp lý nhất. Bài học rút ra từ các câu chuyện pháp luật sẽ tác động thực tiễn đến suy nghĩ của học sinh.

     Câu chuyện pháp luật có thể góp phần dẫn dắt vào nội dung bài học, dùng để dẫn học sinh vào từng phần kiến thức của bài học. Giáo viên cũng có thể sử dụng các câu chuyện pháp luật để làm rõ tri thức sau khi đã truyền tải kiến thức cơ bản, đồng thời cũng có thể củng cố bài học.

     Ngoài ra đối với giáo viên muốn làm cho học sinh hiểu bài hơn, việc liên hệ thực tiễn tốt hơn thì câu chuyện pháp luật là ví dụ sâu sắc nhất giúp học sinh nắm vững kiến thức bài học, ghi nhớ lâu hơn và vận dụng tốt hơn trong nội dung bài học.

     b. Chức năng

     Có rất nhiều câu chuyện pháp luật khác nhau phù hợp với nội dung bài học nhưng điểm chung là đều có vai trò và chức năng giống nhau. Câu chuyện pháp luật có những chức năng cơ bản sau:

Chức năng cung cấp thông tin, sự kiện: Câu chuyện pháp luật cung cấp cho học sinh những tình huống mang thông tin phù hợp với nội dung bài học vì trong quá trình sưu tầm các câu chuyện pháp luật giáo dục đã chọn lọc và rút ngắn từ rất nhiều nguồn tài liệu nhưng vẫn đảm bảo tính phù hợp

Chức năng làm rõ tri thức: Qua nội dung kiến thức mà học sinh đã được học, giáo dục đưa ra các câu chuyện pháp luật phù hợp với nội dung cho học sinh, đồng thời thông qua các câu hỏi phụ, học sinh sẽ nắm rõ được tri thức bài học. Chức năng này có thể vận dụng vào phần củng cố từng phần của bài học, kết thúc bài học, hoặc có thể kiểm tra bài cũ

Chức năng gợi mở tri thức: Thông qua các câu chuyện pháp luật giáo viên sẽ dẫn dắt học sinh đi dần vào nội dung của bài học, giáo dục sẽ đưa ra các câu chuyện pháp luật phù hợp với nội dung sắp truyền tải, đồng thời đặt các câu hỏi cho học sinh sau phần kể chuyện. Học sinh nghe, phân tích và trả lời các câu hỏi, từ đó giáo viên tổng hợp, bổ sung ý kiến và đưa ra kiến thức bài học. Chức năng này có thể vận dụng vào phần vào bài mới, vào từng nội dung bài học.

      II. SƯU TẦM, CÁC CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT TRONG GIẢNG DẠY GDCD

      1. NGUYÊN TẮC SƯU TẦM CÁC CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT

      Sưu tầm các câu chuyện pháp luật là một hoạt động xã hội có tính khoa học, tính kỹ thuật và nghệ thuật. Quá trình sưu tầm, các câu chuyện pháp luật vào dạy học muốn đạt kết quả tối ưu thì cần có các nguyên tắc dẫn đường. Nguyên tắc thường được hiểu một cách ngắn gọn là điều cơ bản rút ra từ thực tế khách quan để chỉ đạo hành động. Vì vậy khi sưu tầm các câu chuyện pháp luật giáo viên cần chú ý vào các nguyên tắc sau:

     Sưu tầm các câu chuyện pháp luật phục vụ cho việc dạy học chương trình GDCD, giáo viên phải nắm chắc nội dung cơ bản của bài dạy, có sự hiểu biết tinh tường về cuộc sống để từ đó lựa chọn các câu chuyện phù hợp. Mặt khác giáo viên phải nắm chắc đối tượng học sinh để sưu tầm lựa chọn những các câu chuyện phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh. Các câu chuyện pháp luật sưu tầm, phải “thật” hoặc “giống như thật”, sát với thực tế cuộc sống, thông qua đó học sinh dễ dàng tiếp cận bản chất của vấn đề đạt được tri thức cần lĩnh hội. Lựa chọn các các câu chuyện pháp luật điển hình, sát với thực tế cuộc sống, với địa phương, với tâm lý lứa tuổi học sinh sẽ đạt hiệu quả cao.

     Trong một thế giới tràn ngập thông tin, những thông tin rất đa dạng từ nhiều kênh, nhiều nguồn và nhiều chiều, vì vậy trong quá trình sưu tầm các câu chuyện pháp luật phải có nguồn trích dẫn rõ ràng, nguồn thông tin đó phải là nguồn chính thống để cung cấp cho học sinh. Giáo viên phải hết sức cảnh giác với những thông tin tình huống không chính thống có nguồn gốc không rõ ràng, làm cho học sinh hoang mang giao động, mất niềm tin vào chính bản thân mình, vào cuộc sống và con đường phát triển của đất nước.

     Các câu chuyện pháp luật phải ngắn gọn súc tích, bởi thời gian một tiết dạy rất ít nhưng lượng kiến thức truyền thụ lại rất nhiều, vì thế nếu các câu chuyện pháp luật đưa ra quá dài, quá lan man tốn rất nhiều thời gian. Như thế không đảm bảo nội dung dạy học. Việc sưu tầm các câu chuyện pháp luật phải bảo đảm tính thẩm mỹ, ngôn ngữ chính xác, dễ hiểu không cầu kỳ sáo rỗng. Sưu tầm các câu chuyện pháp luật phải phù hợp với nội dụng, mục tiêu bài học. Mỗi bài học đều có mục tiêu cụ thể theo từng đơn vị kiến thức cần truyền đạt do vậy các câu chuyện pháp luật cần được lựa chọn kỹ càng. Các câu chuyện  pháp luật gắn với trọng tâm bài học. Các câu chuyện pháp luật tự bản thân nó đã mang rất nhiều ý nghĩa, song để phát huy tối đa chức năng của mình thì giáo viên khi sử dụng các câu chuyện pháp luật trong dạy học chương trình GDCD  nên gắn nó với trọng tâm đơn vị kiến thức, không nên sử dụng các câu chuyện pháp luật cho giải thích minh họa cho ý nhỏ, ý không cơ bản trong nội dung của bài học sẽ làm cho mục tiêu của bài dạy sẽ bị chệch hướng không đảm bảo nội dung bài dạy, không rèn luyện cho học sinh kỹ năng và thái độ cơ bản.

    Các câu chuyện pháp luật sưu tầm được khai thác theo các hướng khác nhau, thể hiện ở cách giáo viên đặt câu hỏi gợi ý cho học sinh, từ đó học sinh giải quyết và hình thành thái độ của mình đối với vấn đề đưa ra. Trong quá trình sưu tầm các câu chuyện pháp luật giảng dạy chương trình GDCD giáo viên phải vận dụng một cách đồng bộ tất cả các nguyên tắc sưu tầm nói trên, nếu bỏ qua một nguyên tắc nào đó thì khi đưa tình huống vào giảng dạy sẽ không hoàn thành mục tiêu bài học.

     2. QUY TRÌNH SƯU TẦM CÁC CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT

     Quy trình sưu tầm các câu chuyện pháp luật gồm có 3 bước cơ bản:

Lựa chọn các câu chuyện pháp luật: Các câu chuyện pháp luật xảy ra trong cuộc sống rất phong phú, đa dạng, nhưng giáo viên phải chọn ra các câu chuyện pháp luật điển hình nhất, sát với mục tiêu nội dung bài học nhất.

Cấu trúc lại các câu chuyện pháp luật: có 3 phần rõ ràng (mở đầu, phần nội dung, và bình giá các sự kiện). Giáo viên phải đặt các câu hỏi giúp học sinh định hướng công việc phải làm.

Lập luận các câu chuyện pháp luật sao cho lôgic chặt chẽ, rõ ràng để định hướng cho học sinh thấy được nội dung bài học trong đó

     III. SỬ DỤNG CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT ĐỂ DẠY HỌC GDCD

     1. NHỮNG KINH NGHIỆM VẬN DỤNG CÓ HIỆU QUẢ PHƯƠNG PHÁP LIÊN HỆ THỰC TIỄN THÔNG QUA CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT

     a. Sử dụng câu chuyện pháp luật phải đúng mục đích, nội dung, đối tượng

     Là yêu cầu cực kỳ quan trọng trong sử dụng câu chuyện pháp luật để dạy học chương trình môn GDCD, đối với mục đích này, để dạy khi vào bài mới thì cần lựa chọn và sử dụng những câu chuyện phù hợp với việc vào bài, với mục đích củng cố kiến thức thì tìm và sử dụng những câu chuyện phù hợp với củng cố. Sử dụng câu chuyện đúng mục đích thì câu chuyện mới phát huy hiệu quả.

     Không nên lạm dụng các câu chuyện, chỉ sử dụng ở những nội dung phù hợp, cần phân bố việc sử dụng để tiết kiệm thời gian, đặc biệt nên sử dụng câu chuyện pháp luật ở những nội dung trọng tâm của bài học, ở những nội dung không quá khó giáo viên có thể đưa ra một tình huống pháp luật ngắn gọn để học sinh nắm rõ thêm. Sau khi sử dụng câu chuyện pháp luật, học sinh phải là người thực hiện giải quyết các câu hỏi, tình huống trong câu chuyện, giáo viên tổ chức hướng dẫn, kiểm tra, không làm thay công việc của học sinh. Nếu giáo viên làm thay sẽ không phát huy được tính chủ động tích cực của học sinh, lớp học sẽ giảm bớt sự sôi nổi.

     b. Sử dụng câu chuyện pháp luật phải tạo được hứng thú cho học sinh.

     Là yêu cầu quan trọng thứ hai. Nội dung câu chuyện kết hợp với giọng kể của giáo viên là yếu tố để tạo cảm giác cho học sinh. Một khi tạo được hứng thú học tập cho học sinh thì hiệu quả bài dạy là rất cao. Quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh không chỉ là quá trình tư duy mà còn là quá trình tâm lí. Theo các nhà giáo dục và tâm lí học, thì chỉ những gì liên quan đến hứng thú mới kích thích hoạt động tích cực tư duy của học sinh. Nó là động lực bên trong tạo ra hứng thú học tập, sự kiên trì và nỗ lực tìm hiểu những điều chưa biết một cách tự giác, nhờ đó mà kiến thức mang lại cho học sinh mới bền vững.

     Để làm được điều đó trong quá trình sử dụng câu chuyện pháp luật để dạy học môn GDCD  giáo viên phải sử dụng một cách hiệu quả, thích hợp để tác động vào việc nhận thức của học sinh.

     c. Sử dụng câu chuyện pháp luật phù hợp trong 1 tiết học

     Không nên sử dụng quá nhiêu câu chuyện pháp luật trong một tiết dạy, vì thời gian của một tiết là rất ít, nếu sử dụng nhiều sẽ ảnh hưởng đến việc truyền tải nội dung đầy đủ của bài học. Giáo viên cần xác định kiến thức phù hợp có thể sử dụng câu chuyện pháp luật. Trong một tiết dạy chỉ cần sử dụng từ 2 đến 3 câu chuyện. Nếu sử dụng nhiều hơn sẽ mất thời gian lại gây cảm giác loãng kiến thức của bài học đối với học sinh. Cần có sự lựa chọn ưu tiên sử dụng câu chuyện ở phần trọng tâm bài học, tiết học. Như vậy sẽ nhấn được trọng tâm của bài học đối với học sinh. Học sinh sẽ nhớ lâu hơn.

     Giáo viên nắm được các yêu cầu trên sẽ thực hiện một cách hiệu quả khi sử dụng câu chuyện pháp luật trong dạy học môn GDCD.

      2. SỬ DỤNG CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT ĐỂ DẠY HỌC  GDCD

     Các bài giáo dục pháp luật trong chương trình Giáo dục công dân đều có thể vận dụng câu chuyện pháp luật vào giảng dạy. Trong đề tài này tôi đưa ra một số câu chuyện pháp luật theo chủ đề của 4 khối lớp từ lớp 6 đến lớp 9.

     a. Một số ví dụ về bài dạy, tiết dạy vận dụng phương pháp liên hệ thực tiễn thông qua câu chuyện pháp luật:

LỚP 6

 BÀI 12: Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em

Chú Khang là hàng xóm nhà Tuyết. Bé Bi, con trai của chú Khang vừa mới tròn 2 tuổi. Tuyết thường hay sang chơi với bé Bi. Có một lần Tuyết nghe thấy bố mình hỏi chú Khang: “Em đã đăng ký khai sinh cho cháu Bi chưa?” Chú Khang cười rồi trả lời: “ Em chưa anh ạ. Đợi đến lúc bé Bi đi học tiểu học thì đăng ký cũng được. Vội gì!”

Hỏi: Trẻ em có quyền được đăng ký khai sinh ngay sau khi ra đời không? Pháp luật Việt Nam quy định về trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em như thế nào?

Trả lời:

Được đăng ký khai sinh ngay sau khi ra đời là một quyền cơ bản của trẻ em.

Khoản 1, Điều 7 Công ước liên hợp quốc về quyền trẻ em ghi nhận rằng: "Trẻ em phải được đăng ký ngay lập tức sau khi được sinh ra và có quyền có họ tên, có quốc tịch ngay từ khi chào đời…"

Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 của Việt Nam đã khẳng định rằng: Trẻ em có quyền được khai sinh và có quốc tịch. Cha mẹ, người giám hộ có trách nhiệm khai sinh cho trẻ em đúng thời hạn; UBND cấp xã có trách nhiệm thực hiện đăng ký khai sinh cho trẻ em, vận động cha mẹ, người giám hộ khai sinh cho trẻ em đúng thời hạn. Trẻ em của hộ nghèo không phải nộp lệ phí đăng ký khai sinh.

Điều 14 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 5 năm 2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch cũng quy định rõ : “Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày sinh con, cha, mẹ có trách nhiệm đi khai sinh cho con; nếu cha, mẹ không thể đi khai sinh, thì ông, bà hoặc những người thân thích khác đi khai sinh cho trẻ em”.

Bé Bi đã tròn 2 tuổi mà chú Khang chưa đi đăng ký khai sinh cho bé là không đúng. Việc này có thể làm ảnh hưởng đến các quyền lợi khác trong tương lai của bé Bi.

BÀI 14: Thực hiện trật tự an toàn giao thông.

 Vào giờ đi làm buổi sáng một vụ tai nạn giao thông xảy ra ngay trên đường Xuân Thủy, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Một phụ nữ đi xe máy va phải một xe máy khác, tiếp theo bị hất thẳng vào chiếc ô tô hiệu CRV đang chạy. Hậu quả chị phụ nữ bị bánh trước xe ô tô chèn qua người, mặt va xuống mặt đường, máu đổ.

Mấy chiếc ô tô chạy qua thấy cảnh đó nhưng đi thẳng, để mặc nạn nhân nằm trên đường trong khi người thanh niên chạy ra giúp bế nạn nhân lên và vẫy tay xin nhờ chở vào bệnh viện.

Hỏi: Việc không cứu giúp người bị nạn có phải là hành vi vi phạm pháp luật không ? Pháp luật quy định thế nào về trách nhiệm của người điều khiển phương tiện khác khi đi qua nơi xảy ra vụ tai nạn?

Trả lời:

Theo quy định của Luật Giao thông đường bộ năm 2008 (sau đây gọi là luật Giao thông đường bộ) khi có tai nạn giao thông xảy ra, những người có mặt tại nơi xảy ra vụ tai nạn có trách nhiệm bảo vệ hiện trường, giúp đỡ, cứu chữa kịp thời người bị nạn và báo tin ngay cho cơ quan công an, y tế hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất.

Khoản 2 Điều 38 Luật Giao thông đường bộ quy định rõ trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi xảy ra tai nạn giao thông như sau:

2. Những người có mặt tại nơi xảy ra vụ tai nạn có trách nhiệm sau đây:

a) Bảo vệ hiện trường;

b) Giúp đỡ, cứu chữa kịp thời người bị nạn;

c) Báo tin ngay cho cơ quan công an, y tế hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất;

d) Bảo vệ tài sản của người bị nạn;

đ) Cung cấp thông tin xác thực về vụ tai nạn theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.

Đồng thời, để kịp thời giúp đỡ nạn nhân, khoản 3, Điều 38 Luật Giao thông đường bộ đã quy định trách nhiệm của người điều khiển phương tiện khác như sau:

“Người điều khiển phương tiện khác khi đi qua nơi xảy ra vụ tai nạn có trách nhiệm chở người bị nạn đi cấp cứu”.

Khi có điều kiện cứu giúp mà cố ý không cứu giúp người bị tai nạn giao thông là một trong những hành vi bị nghiêm cấm quy định tại khoản 18, Điều 8, Luật giao thông đường bộ.

Như vậy, việc những chiếc ô tô chạy qua hiện trường vụ tai nạn nhưng đi thẳng, để mặc nạn nhân nằm trên đường, trong khi người thanh niên chạy ra giúp bế nạn nhân lên và vẫy tay xin nhờ chở vào bệnh viện cho thấy, những người lái xe ô tô đã không thực hiện đúng trách nhiệm cứu giúp người bị nạn theo quy định của pháp luật.

Người có hành vi không cứu giúp người bị tai nạn giao thông khi có yêu cầu cứu giúp có thể bị xử phạt theo quy định tại điểm đ, khoản 3 Điều 14 Nghị định 34/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ.

BÀI 15: Quyền và nghĩa vụ học tập

Do nhà nghèo, lại đông con nên khi thấy con bé lớn học xong tiểu học, anh Du quyết định cho con nghỉ học để phụ giúp việc gia đình. Biết chuyện, bác Trưởng thôn đã sang động viên gia đình cố gắng cho con tiếp tục đi học để ít ra thì cũng hoàn thành phổ cập giáo dục. Anh Du thì cho rằng, con anh đã học xong tiểu học là hoàn thành phổ cập giáo dục.

Hỏi: Vậy hiện nay, Nhà nước ta quy định về phổ cập giáo dục như thế nào?

Trả lời:

Phổ cập giáo dục là quá trình tổ chức để mọi công dân đều được học tập và đạt tới một trình độ học vấn tối thiểu theo quy định của Nhà nước. Hiện nay, Nhà nước ta thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học và phổ cập giáo dục trung học cơ sở (tức là hết lớp 9). Nhà nước thực hiện các điều kiện để phổ cập giáo dục trong cả nước.

Điều 11 Luật Giáo dục quy định: mọi công dân trong độ tuổi quy định có nghĩa vụ học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập. Gia đình có trách nhiệm tạo điều kiện cho các thành viên của gia đình trong độ tuổi quy định được học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập. Khoản 1 Điều 28 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em cũng quy định: gia đình, Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm cho trẻ em thực hiện quyền học tập; học hết chương trình giáo dục phổ cập; tạo điều kiện cho trẻ em theo học ở trình độ cao hơn.

Người có hành vi vi phạm quy định về phổ cập giáo dục có thể bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng trong trường hợp cản trở việc đi học của người học các cấp học phổ cập hoặc bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng trong trường hợp xúi giục người học các cấp học phổ cập không đi học hoặc bỏ học

LỚP 7

BÀI 16: Quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo

Cả gia đình ông P theo đạo Thiên chúa giáo từ rất lâu đời. Vì vậy khi anh H con trai ông yêu và muốn cưới chị G theo đạo Phật về làm dâu. Ông P đã ra điều kiện chỉ cho anh H cưới vợ nếu chị G từ bỏ đạo Phật, đi theo đạo Thiên chúa giáo.

Hỏi: Việc làm của ông T có vi phạm pháp luật hay không? Các hành vi vi phạm pháp luật về tự do tín ngưỡng và tôn giáo có bị xử phạt về mặt hình sự hay không?

Trả lời:

Theo quy định của pháp luật, công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, có nghĩa là công dân có quyền theo hoặc không theo một tín ngưỡng hay tôn giáo nào; người đã theo một tín ngưỡng hay một tôn giáo nào đó có quyền thôi không theo nữa, hoặc bỏ để theo tín ngưỡng, tôn giáo khác mà không ai được cưỡng bức hay cản trở.

Do vậy, việc làm của ông P là sai theo quy định của pháp luật. Việc ông lấy quyền làm cha, làm mẹ ra điều kiện không chỉ vi phạm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, mà vi phạm cả quyền tự do kết hôn của con trai mình.

BÀI 15: Bảo vệ di sản văn hóa.

Ngôi chùa cổ ở xã của Thành nghe nói đã được gần trăm tuổi, được công nhận là di tích lịch sử - văn hóa. Thời gian trước, có mấy hộ dân sống xung quanh chùa khi xây dựng nhà đã xâm lấn vào khuôn viên chùa. Vừa qua, cơ quan chức năng đã xử phạt các hộ gia đình đó, trả lại vẻ đẹp cổ kính cho ngôi chùa.

Hỏi: Thành rất muốn biết người có hành vi vi phạm quy định về bảo vệ di sản văn hóa thì bị xử lý như thế nào?

Trả lời:

Theo quy định của pháp luật, mọi hành vi vi phạm quy định pháp luật về bảo vệ di sản văn hóa thì tùy theo mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra mà người có hành vi vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

a) Xử phạt hành chính

Theo Điều 34 Nghị định số 75/2010/NĐ-CP ngày 12/7/2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa thì hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ công trình văn hoá, nghệ thuật, bảo vệ di sản văn hoá bị xử phạt như sau:

- Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 300.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi làm hoen bẩn di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh, công trình văn hóa, nghệ thuật đồng thời buộc khôi phục lại trạng thái ban đầu của di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh, công trình văn hóa, nghệ thuật đó.

- Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

+ Tuyên truyền, phổ biến, trình diễn sai lệch nội dung và giá trị di sản văn hoá phi vật thể;

+ Tuyên truyền, giới thiệu sai lệch nội dung, giá trị di tích lịch sử - văn hoá.

- Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

+ Làm hư hại hiện vật có giá trị dưới 50.000.000 đồng trong các bảo tàng, di tích lịch sử - văn hóa;

+ Không đăng ký bảo vật quốc gia với cơ quan có thẩm quyền hoặc khi thay đổi chủ sở hữu bảo vật quốc gia mà không thông báo với cơ quan có thẩm quyền theo quy định;

+ Sửa chữa, tẩy xóa bằng xếp hạng di tích lịch sử - văn hoá;

+ Làm bản sao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia mà không có giấy phép;

+ Buôn bán trái phép di vật, cổ vật (đồng thời tịch thu tang vật).

- Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

+ Làm hư hại nhưng chưa nghiêm trọng di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, công trình văn hóa, nghệ thuật;

+ Làm thay đổi yếu tố gốc của di sản văn hoá.

Ngoài bị phạt tiền, người vi phạm còn bị buộc khôi phục lại trạng thái ban đầu của di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, công trình văn hóa, nghệ thuật đã bị hư hại hoặc thay đổi do hành vi vi phạm gây ra. 

- Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

+ Làm hư hại hiện vật có giá trị từ 50.000.000 đồng trở lên trong bảo tàng; làm hư hại nghiêm trọng di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, các công trình văn hoá, nghệ thuật;

+ Lấn chiếm, sử dụng trái phép di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, công trình văn hoá, nghệ thuật vào bất cứ mục đích gì (đồng thời buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép, thu hồi diện tích lấn chiếm);

+ Xây dựng trái phép trong các khu vực bảo vệ di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh (đồng thời buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép, thu hồi diện tích lấn chiếm);

+ Buôn bán trái phép bảo vật quốc gia (đồng thời tịch thu tang vật).

- Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi hủy hoại các di tích lịch sử - văn hoá, công trình văn hoá, nghệ thuật, đồng thời buộc khôi phục lại trạng thái ban đầu của các di tích lịch sử - văn hoá, công trình văn hoá, nghệ thuật đó.

b) Xử lý hình sự

Theo quy định tại Điều 272 của Bộ luật hình sự thì người nào vi phạm các quy định về bảo vệ và sử dụng các di tích lịch sử, văn hoá, danh lam, thắng cảnh gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ hai triệu đồng đến hai mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm. Phạm tội trong trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

LỚP 8

          BÀI 16: Quyền sở hữu tài sản và nghĩa vụ tôn trọng tài sản của người khác.

Hôm đó, Nam và Dũng có mâu thuẫn với nhau, lời qua tiếng lại dẫn đến đánh nhau. Trong lúc bực tức, Dũng đã lấy chiếc xe đạp của Nam ném rất mạnh ra đường khiến nó bị hư hỏng. Dũng cho rằng do Nam đánh Dũng trước nên Dũng mới làm như vậy.

Hỏi: Trong trường hợp này, Dũng vì bực tức mà làm hỏng tài sản của Nam thì có đúng không? Pháp luật quy định việc xử lý đối với hành vi hủy hoại hoặc làm hỏng tài sản của người khác như thế nào?

Trả lời:

Mỗi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền sở hữu, tôn trọng tài sản của người khác, không được xâm phạm tài sản của cá nhân, của tổ chức, của tập thể và của Nhà nước. Nếu gây hư hỏng hoặc gây thiệt hại tài sản của người khác thì phải sửa chữa hoặc bồi thường theo quy định của pháp luật. Bởi vậy, Dũng không thể lấy lý do bực tức Nam mà làm hỏng tài sản của Nam như trong trường hợp trên.

Theo quy định của pháp luật, mọi hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản thì tùy theo mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra mà người vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Riêng đối với hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác, pháp luật quy định hình thức xử lý như sau:

- Xử phạt hành chính: phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác như chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự

- Xử lý hình sự: tùy theo giá trị tài sản bị hủy hoại hoặc hư hỏng (từ hai triệu đồng đến năm trăm triệu đồng trở lên) và tùy từng trường hợp cụ thể, người phạm tội có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 20 năm hoặc tù chung thân. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm (Điều 143 Bộ luật hình sự).

BÀI 18: Quyền khiếu nại, tố cáo của công dân.

Nhà tôi ở gần phân xưởng sản xuất thực phẩm của ông V, nên biết được ông V có nhiều hoạt động vi phạm pháp luật như sản xuất nhiều mặt hàng giả, nhái tên các nhãn mác nổi tiếng hay việc lạm dụng sức lao động của người chưa thành niên, bắt các em lao động quá nhiều thời gian, không cho nghỉ ngơi, trả lương rẻ mạt…Vì vậy, bố tôi đã quyết định sẽ tố cáo hành vi vi phạm của ông V. Song mẹ tôi lại cản trở ý định của bố, vì sợ bị trả thù.

Hỏi: Xin hỏi pháp luật có các quy định gì để bảo vệ người tố cáo hay không?

Trả lời:

Theo quy định của pháp luật tố cáo, không những bố bạn là người tố cáo được pháp luật bảo vệ, mà cả gia đình bạn (người thân thich của người tố cáo) cũng sẽ được pháp luật bảo vệ. Điều 34 Luật Tố cáo năm 2011 quy định về phạm vi, đối tượng và thời hạn bảo vệ như sau:

- Việc bảo vệ người tố cáo được thực hiện tại nơi cư trú, công tác, làm việc, học tập, nơi có tài sản của người cần được bảo vệ hoặc những nơi khác do cơ quan có thẩm quyền quyết định.

- Đối tượng bảo vệ gồm có:

+ Người tố cáo;

+ Người thân thích của người tố cáo.

- Thời hạn bảo vệ do cơ quan có thẩm quyền quyết định tùy thuộc vào tình hình thực tế của từng vụ việc, mức độ, tính chất của hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng cần được bảo vệ.

LỚP 9

       BÀI 15: Vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí của công dân.

Ninh năm nay 15 tuổi là học sinh lớp 11. Sáng hôm đó ngủ dậy muộn em đã lấy xe máy của bố để đi học. Trên đường đến trường do vội, Ninh đã vượt đèn đỏ khi qua ngã tư, Ninh bị cảnh sát giao thông giữ lại kiểm tra giấy tờ. Ninh bị xử phạt cảnh cáo và phạt tiền, do chưa đủ tuổi sử dụng xe máy, không có giấy phép lái xe. Ninh rất ấm ức, em cho rằng mình chưa đến tuổi chịu trách nhiệm pháp lý theo quy định của pháp luật.

Hỏi: Theo bạn, Ninh có vi phạm pháp luật không? Cảnh sát giao thông xử phạt đối vói Ninh có đúng pháp luật không ? Pháp luật quy định thế nào về tuổi chịu trách nhiệm hành chính?

Trả lời:

  Ninh đã có những hành vi vi phạm pháp luật như:

- Sử dụng xe máy khi chưa đủ tuổi, không có giấy phép lái xe.

- Không chấp hành quy định về tín hiệu giao thông khi qua ngã tư. Cụ thể là vượt đèn đỏ.

Việc cảnh sát giao thông xử phạt đối với Ninh là đúng. Theo quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính thì:

- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt hành chính về vi phạm hành chính do cố ý;

- Người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt hành chính về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra.

          BÀI 16: Quyền tham gia quản lí nhà nước, quản lí xã hội của công dân.

Đường vào trường Trung học cơ sở của xã sau những trận mưa lớn rất lầy lội, học sinh đến trường khó khăn, vất vả, nhiều khi không an toàn. Tâm và các bạn cùng lớp bàn nhau cách sửa đường đến trường cho dễ đi. Bạn Xuân bảo phải tổ chức buổi lao động tập thể cùng nhau gánh đất lấp ổ voi, ổ gà trên đường. Bạn Hải nêu ý kiến chúng mình nên làm đơn đề nghị xã sửa lại đường vào trường cho tốt hơn. Thấy thế, có bạn ngạc nhiên nói : “Chúng mình là trẻ con làm sao đề nghị được. Không ai nghe đâu”.

Theo bạn, trong trường hợp trên, học sinh có quyền được đề nghị với xã không ? Vì sao ?

Trả lời:

Việc tham gia góp ý xây dựng, sửa chữa đường xá và các cơ sở hạ tầng ở địa phương là một trong những cách thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội của công dân.

Quyền tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội của công dân là một trong những quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp.

Điều 53 Hiến pháp năm 2013 quy định:  “Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân”.

Mọi công dân, kể cả trẻ em cũng có quyền phát biểu, đề đạt ý kiến, nguyện vọng của mình với chính quyền cơ sở và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. 

Cụ thể hóa quy định này của Hiến pháp, Điều 20 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định: Trẻ em có quyền được tiếp cận thông tin phù hợp với sự phát triển của trẻ em, được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng về những vấn đề mình quan tâm.

         BÀI 17: Nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc.

Mới hơn 8 giờ sáng, địa điểm khám tuyển nghĩa vụ quân sự đợt 2/2011 của xã HT rất đông thanh niên. Ngồi chờ bên ngoài, Vũ nói chuyện với Ân: “Khám thì khám thôi, nhưng mình không phải đi đâu. Đi nghĩa vụ khổ lắm. Bố mình “chạy” hết rồi. Năm ngoái cũng vậy”. Ân ngạc nhiên: “Sao cậu lại làm thế. Tham gia nghĩa vụ quân sự để bảo vệ Tổ quốc là trách nhiệm của mọi công dân mà”.

Hỏi: Bạn có ý kiến gì về suy nghĩa của Vũ và việc làm của gia đình Vũ ? Theo quy định của pháp luật hành vi trốn nghĩa vụ quân sự có bị  xử lý hay không ?

Trả lời:

Suy nghĩ cho rằng đi nghĩa vụ quân sự khổ và “chạy chọt” để con không phải thực hiện nghĩa vụ quân sự, trốn tránh trách nhiệm của một công dân đối với đất nước là suy nghĩ và việc làm sai trái. 

Bảo vệ Tổ quốc, tham gia lực lượng vũ trang là trách nhiệm và là một trong những nghĩa vụ cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp.

Điều 77 Hiến pháp năm 2013 khẳng định:

Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân.

Công dân phải làm nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân.

Hàng năm, công dân nam giới đủ 17 tuổi trong năm đó phải đến Ban chỉ huy quân sự xã, phường, thị trấn để đăng ký nghĩa vụ quân sự. Việc gọi công dân nhập ngũ được tiến hành theo lệnh của Bộ trưởng Bộ quốc phòng.

Người được gọi nhập ngũ phải có mặt đúng thời gian và địa điểm ghi trong lệnh gọi nhập ngũ. Trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ quân sự là hành vi vi phạm pháp luật.

b. Hiệu quả đạt được

Trên cơ sở nắm vững mục đích của việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông, phát huy những thuận lợi của phương pháp dạy học tích cực và khắc phục những khó khăn chúng tôi đã thu được những kết quả nhất định.

Có rất nhiều phương pháp dạy học đưa lại hiệu quả cho tiết dạy. Việc lựa chọn một hoặc một số phương pháp phù hợp cho nội dung bài học là rất cần thiết. Sau một thời gian giảng dạy bộ môn Giáo dục công dân lớp tôi nhận thấy việc đưa câu chuyện pháp luật vào dạy học là rất cần thiết và phù hợp. Khi đưa phương tiện là những câu chuyện pháp luật vào bài học thì hiệu quả của phương pháp liên hệ thực tiễn đã được phát huy tích cực. Học sinh học theo cách lồng ghép câu chuyện pháp luật vào từng mục bài sẽ cảm thấy hứng thú và tăng tính liên hệ thực tiễn. Hầu hết học sinh ở các khối lớp đã cảm thấy hứng thú và thích học bộ môn vì nó giảm đi tính khô khan.

Tôi đã tiến hành điều tra, trưng cầu ý kiến của HS 2 lớp 9A, 9B (84 HS) dạy thực nghiệm và 2 lớp đối chứng 9C, 9D (92 HS)

TT

Nội dung câu hỏi và các phương án trả lời

 

              Tổng hợp ý kiến

 

 

 

Lớp thực nghiệm

( 2Lớp -92HS )

 

Lớp đối chứng

( 2 Lớp - 84 HS )

 

Em có thích bài học hôm nay không ?

a. Rất thích

60

24

b. Thích vừa phải

21

32

c. Bình thường

12

22

d. Không thích

0

7

2

Em có hiểu rõ nội dung bài học hôm nay không?

 

a. Rất hiểu bài

68

13

b. Hiểu

18

26

c. Chưa hiểu lắm

6

45

d.  Không hiểu

0

0

3

Em thấy thái độ của các bạn trong lớp đối với môn học này thế nào?

 

a. Hăng say học tập và phát biểu

65

29

b. Có hứng thú

10

21

c. Học bình thường

7

37

d. Không quan tâm đến bài học

0

7

4

Em có thích môn GDCD không?

 

a. Thích

69

26

b. Thích vừa phải

14

35

c. Bình thường

9

17

d. Không thích

0

6

     Thông qua phiếu điều tra tôi nhận thấy những câu chuyện pháp luật có thật sẽ tạo cơ hội cho các em nắm bắt thực tế vào nội dung bài học dễ dàng hơn rất nhiều. Đa số học sinh chịu khó tìm tòi câu chuyện pháp luật làm tư liệu, phân loại theo nội dung bài học và nắm kiến thức vững vàng hơn. Các em có cơ hội trao đổi với nhau về nội dung câu chuyện pháp luật giáo viên cung cấp hoặc mình tự tìm được. Thông qua việc trao đổi, bàn luận nhóm, lớp các em đã đưa ra những thắc mắc, câu hỏi với giáo viên hoặc bạn bè mình. Các em đã mở rộng tầm nhận thức là tự học hỏi được nhiều kinh nghiệm từ những câu chuyện thực tế đó. Như vậy câu chuyện pháp luật đã phát huy tác dụng, góp phần giáo dục ý thức pháp luật cho các em.

     Trong năm học vừa qua với việc tiến hành sử dụng các câu chuyện pháp luật trong giờ dạy GDCD tôi nhận thấy học sinh hiểu bài, hứng thú với môn học hơn và đặc biệt là qua bảng số liệu đã thống kế điểm của bài kiểm tra nhận thức của HS thì kết quả học tập của HS đã cao hơn so với những năm học trước.

     Cụ thể như sau:

+ Tỉ lệ HS đạt điểm giỏi ( từ 9- 10 điểm ) là 70 %

+ Tỉ lệ HS đạt điểm khá ( từ 7 – 8 điểm ) là 23,1 %

+ Tỉ lệ HS đạt điểm trung bình ( từ 5- 6 điểm ) là 6,9 %

+ Tỉ lệ HS yếu,  kém là 0%

     Như vậy, từ kết qủa học tập và kết qủa điều tra lấy ý kiến của HS thì chúng ta thấy rằng việc GV sử dụng câu chuyện pháp luật trong giảng dạy môn GDCD là cần thiết và đúng đắn, phù hợp với xu hướng dạy học trong  xã hội phát triển như hiện nay tạo cho HS có hứng thú, giảm đi tính khô khan của môn học .

  PHẦN III - KẾT LUẬN

     Có rất nhiều phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân , bao gồm các phương pháp dạy học truyền thống (Trực quan, giảng giải, vấn đáp...) và các phương pháp hiện đại (như đóng vai, liên hệ thực tiễn, dự án...). Mỗi phương pháp dạy học đều có mặt mạnh và mặt hạn chế riêng. Các phương pháp sẽ phù hợp với từng loại bài riêng, từng hoạt động trong tiết dạy. Do đặc trưng của môn học Giáo dục công dân nên việc sử dụng phương pháp sử dụng các câu chuyện pháp luật để dạy học là rất cần thiết đây là một trong những phương pháp mới đem lại hiệu quả cao trong quá trình giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh. Với phương pháp dạy học mới này sẽ kích thích tư duy học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, sáng tạo chủ động trong học tập. Thông qua những câu chuyện pháp luật các em được tiếp xúc với thực tiễn nhiều hơn và phân tích để hiểu sâu sắc nội dung bài học. Học sinh biết vận dụng kiến thức và thực tiễn biết đánh giá thực tiễn và phát huy được tính tích cực trong học tập. Để giúp các em hiểu và vận dụng pháp luật vào đời sống thực tế là một vấn đề hoàn toàn không đơn giản, chính vì thế, trong học tập pháp luật, các em cần được tiếp cận, tập dượt với thực tế, được tạo điều kiện để các em vừa nâng cao kiến thức lý luận vừa có năng lực vận dụng pháp luật vào cuộc sống. Với ý nghĩa đó ngoài việc học lý luận, nghiên cứu các quy phạm pháp luật, các em cần được tham gia, nghiên cứu thực tiễn. Những câu chuyện pháp luật sẽ là những bài tập tập thực hành để các em giải quyết và vận dụng tri thức vào bài học, việc vận dụng các câu chuyện pháp luật vào trong giảng dạy một cách đầy đủ là điều kiện cần thiết để chuyển tải nội dung bài học đến học sinh một cách hiệu quả, kích thích tư duy, sự hứng thú của học sinh. Tạo điều kiện cho học sinh thực hiện “học đi đôi với hành”, “lý thuyết gắn liền với thực tiễn” đảm bảo tốt cho sự phát triển nhân cách toàn diện cho các em.

     Do vậy việc giảng dạy phần công dân với pháp luật bằng sử dụng các câu chuyện pháp luật có vai trò rất quan trọng nhằm giúp cho học sinh có thêm hiểu biết, có thêm niền tin, tự tin bước vào cuộc sống, trang bị cho các em một số những kiến thức ban đầu về pháp luật.

thời tiết các vùng

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

Bình chọn

Đánh giá thái độ tiếp công dân của cán bộ Một cửa quận