TIN TỨC KHÁC

Trường THCS Tân Mai: Một vài giải pháp giúp học sinh biết viết văn nghị luận xã hội
Ngày đăng 07/09/2019 | 11:32  | View count: 2882

Sáng kiến kinh nghiệm: Một vài giải pháp giúp học sinh biết viết văn nghị luận xã hội

A. ĐẶT VẤN ĐỀ

     I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

     1. Cơ sở lí luận cho việc lựa chọn đề tài:

      Môn Văn trong trường Trung học cơ sở (THCS) là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội góp phần giáo dục cho học sinh “những tư tưởng, tình cảm cao đẹp như lòng nhân ái, tình yêu gia đình, quê hương, đất nước, sự căm ghét cái xấu, cái ác, rèn luyện tính tự lập, biết tư duy sáng tạo, bước đầu có năng lực cảm thụ những giá trị chân, thiện, mĩ trong nghệ thuật". Đồng thời, nó cũng là môn học thuộc nhóm công cụ, có mối quan hệ với các môn học khác: Học tốt môn Văn sẽ tác động tích cực tới các môn học khác và ngược lại. Hơn nữa, môn học này còn có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hình thành trình độ học vấn THCS cho học sinh THCS nói chung và học sinh lớp 9 nói riêng. Bởi nó chuẩn bị cho các em có điều kiện để có thể ra đời lao động sản xuất, hoặc học tập ở các trường nghề hoặc có thể tiếp tục học tập ở các trường Trung học phổ thông.

      Bắt nguồn từ thực tế đó, Quốc hội đã đề ra Nghị quyết 40/ 2000/ QH 10 về việc đổi mới nội dung, chương trình giáo dục phổ thông ở cấp THCS. Năm học 2002-2003 là năm đầu tiên dạy và học theo chương trình sách giáo khoa Ngữ văn mới (Sự kết hợp ba phân môn Văn + Tiếng Việt + Tập làm văn thành một môn Ngữ văn). 

      Đi cùng với việc đổi mới chương trình sách giáo khoa là việc đổi mới hình thức thi cử, kiểm tra, đánh giá. Cơ cấu và nội dung các đề kiểm tra học kì, thi tuyển sinh vào lớp 10, thi học sinh giỏi có nhiều thay đổi cơ bản so với trước đây. Hầu hết các đề thi đã được ra theo lối đổi mới. Các câu hỏi tự luận, các đoạn văn được hỏi dưới nhiều hình thức. Đặc biệt, trong mấy năm trở lại đây, mỗi đề thi của Sở giáo dục đào tạo Hà Nội không chỉ có dạng đoạn văn nghị luận văn học còn có đoạn văn nghị luận xã hội. Dạng đoạn văn nghị luận xã hội này lúc đầu chỉ chiếm 1.5 điểm nhưng nay nó chiếm 2.0 điểm trong cấu trúc của đề thi tuyển sinh. Tuy nhiên, để viết được dạng đoạn văn này không chỉ đòi hỏi học sinh phải hiểu yêu cầu của đề mà các em còn phải biết vận dụng kiến thức ngoài cuộc sống để trả lời. Muốn làm tốt được điều đó, đòi hỏi giáo viên cần có những giải pháp giúp học sinh nói chung, đặc biệt là học sinh lớp 9 nói riêng biết cách viết văn nghị luận xã hội.

      2. Cơ sở thưc tiễn cho việc lựa chọn đề tài:

      Trong quá trình làm bài kiểm tra định kì cũng như làm bài kiểm tra học kì, bài thi tuyển sinh vào lớp 10 môn Ngữ văn do Sở giáo dục và đào tạo Hà Nội tổ chức, tôi nhận thấy học sinh đã quen với việc viết văn nghị luận về tác phẩm văn học (Nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích; Nghị luận về nhân vật văn học; Nghị luận về tác phẩm thơ, đoạn thơ…). Đặc biệt, từ năm học 2013-2014, trong cấu trúc đề thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT của Sở giáo dục đào tạo Hà Nội không chỉ yêu cầu học sinh viết đoạn văn nghị luận văn học mà các em còn phải vận dụng những kĩ năng, kiến thức, những hiểu biết của mình về xã hội để viết đoạn văn nghị luận xã hội. Tuy nhiên, với học trò hiện nay, kĩ năng viết văn nghị luận xã hội còn nhiều hạn chế. Bài viết của các em còn sơ sài, chung chung, lan man, vừa thừa, vừa thiếu, có khi còn xa đề, lạc đề. Có bài chỉ viết được 7-8 dòng là xong đoạn văn, có nhiều em không xây dựng được luận điểm. Thực trạng ấy khiến đội ngũ thầy cô giáo chúng ta phải trăn trở, suy nghĩ và tôi nhận thấy nguyên nhân cơ bản là do học sinh chưa có kĩ năng viết bài, chưa thực sự tự giác để đầu tư suy nghĩ cho bài làm của mình. Hơn nữa, ngoài thị trường hiện có quá nhiều sách tham khảo; bản thân mỗi học sinh đều có đến vài ba cuốn sách tham khảo dùng làm “bảo bối” cho riêng mình. Và khi đề bài cô giáo ra trùng với những đoạn, bài văn mẫu thì các em chẳng ngần ngại gì mà không chép. Tuy nhiên, để giáo viên khó phát giác ra việc sao chép, các em đã trích nhặt từ nhiều tài liệu khác nhau nhưng lại vụng về nên đã dẫn tới hiện tượng “lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia”.

      Xuất phát từ thực tế đó, tôi nghĩ việc sao chép của học sinh cũng một phần là do lỗi của chúng ta – những người làm công tác giáo dục. Vậy mỗi giáo viên chúng ta phải làm gì để khắc phục tình trạng đó? Chúng ta phải làm gì để giúp các em chủ động, tự tin hơn khi làm các bài kiểm tra định kì, học kì và sẵn sàng đối diện với kì thi tuyển sinh vào THPT?

     Qua quá trình giảng dạy bộ môn Ngữ văn bậc THCS, đặc biệt là môn Ngữ văn ở lớp 9, tôi nhận thấy rằng: Để viết tốt một đoạn văn, bài văn nghị luận xã hội, việc đầu tiên các em cần nắm được đó là hiểu được đặc trưng của kiểu bài, trên cơ sở đó các em sẽ thiết lập được các ý cần thiết cho đoạn, bài văn phải viết. Nếu mỗi thầy cô chúng ta định hướng tốt cho học sinh những yêu cầu trên thì có lẽ các em sẽ tự tin hơn trong khi viết đoạn, bài văn nghị luận xã hội. Tôi cũng đã và đang thực hiện trực tiếp tại lớp mình giảng dạy (Lớp 9A2) và đã thu được một số kết quả đáng kể. Vì vậy, trong đề tài này, tôi xin mạnh dạn nêu ra một vài kinh nghiệm nhỏ của bản thân về “Một vài giải pháp giúp học sinh biết viết văn nghị luận xã hội.”

     II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

      Nghiên cứu vấn đề tìm ra Một vài giải pháp giúp học sinh biết viết văn nghị luận xã hộinhằm giúp cho các em biến những tri thức tiếp nhận được từ mỗi bài giảng của thầy cô trở thành kiến thức, kinh nghiệm của bản thân.

      1. Đối tượng nghiên cứu:

     Với vai trò là một giáo viên đang dạy bộ môn Ngữ văn 9, tôi chọn vấn đề, đối tượng nghiên cứu cho đề tài của mình ở năm học 2018 – 2019 là tìm ra Một vài giải pháp giúp học sinh biết viết văn nghị luận xã hội”.

      2. Phương pháp nghiên cứu:

      Với chủ trương của Sở: học sinh tham gia thi tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2019-2020 sẽ thi 4 môn: Văn; Toán; Anh và một môn thứ tư sẽ được thông báo vào cuối tháng 3/ 2019. Chính vì vậy, ngay từ đầu năm học 2018 – 2019, bất kì một giáo viên nào khi được phân công dạy ở lớp 9 đều có những biện pháp để giúp học trò của mình học tập được tốt để có đầy đủ hành trang bước vào kì thi tuyển sinh vào Trung học phổ thông. Với cá nhân tôi, để có thể dạy và ôn tập tốt môn Ngữ văn 9 cho học sinh, đặc biệt là phần viết đoạn văn Nghị luận xã hội để đáp ứng được yêu cầu thi của Sở trong mấy năm gần đây, tôi đã dựa trên một số cơ sở:

Nội dung kiến thức cần đạt ở mỗi bài học (thông qua cuốn sách giáo viên, tài liệu chuẩn kiến thức).

Những tài liệu, bộ đề hướng dẫn ôn tập của các nhà xuất bản (Ví dụ: NXB Giáo dục, NXB Đại học quốc gia, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội…).

Kinh nghiệm hướng dẫn học sinh ôn tập của các đồng nghiệp trong tổ, nhóm chuyên môn trong trường.

 Kinh nghiệm hướng dẫn học sinh ôn tập của các trường bạn trong quận Hoàng Mai – nơi tôi công tác và của các trường ở quận bạn.

Đặc biệt, tôi dựa vào tình hình thực tế của chính đối tượng học sinh là các em học sinh lớp 9A2 mà tôi đang giảng dạy.

     3. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu:

     Trong chương trình Ngữ văn THCS, các em đã được làm quen với nhiều kiểu bài văn khác nhau nhưng có lẽ lúng túng nhất đối với các em vẫn là cách đánh giá, nhận định về một vấn đề trong xã hội, trong cuộc sống. Bởi nghị luận xã hội là một lĩnh vực rất rộng: Từ bàn bạc những sự việc, hiện tượng trog đời sống đến bàn luận những vấn đề chính trị, chính sách; từ những vấn đề đạo đức, lối sống đến những vấn đề có tầm chiến lược, những vấn đề tư tưởng triết lí…

     Trong phạm vi làm văn ở nhà trường bậc THCS, các em được làm quen kiểu bài văn nghị luận xã hội ở mức độ thấp:

              Nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống.

              Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí.

     Ngoài ra, để hướng dẫn ôn tập cho học sinh thi vào THPT, tôi nhận thấy không chỉ bản thân tôi mà hiện nay nhiều trường bạn cũng mạnh dạn đưa ra một dạng bài để học sinh làm quen: Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra từ tác phẩm văn học.

     Ngay sau khi được Ban giám hiệu phân công tiếp tục dạy môn Ngữ văn lớp 9A2 năm học 2018 – 2019, tôi đã xác định tầm quan trọng, trách nhiệm của mình đối với việc dạy và học của học sinh bởi không chỉ đối diện với các bài kiểm tra định kì, học kì mà trước mắt các em là một kì rất quan trọng: Kì thi tuyển sinh vào lớp 20 Trung học phổ thông. Vì vậy nên tôi luôn suy nghĩ: Làm thế nào để học sinh của mình đạt kết quả tốt trong kì thi tuyển sinh vào THPT? Làm thế nào cho học sinh viết tốt đoạn văn nghị luận xã hội để các em không bị mất 1.5 đến 2.0 điểm – một số điểm rất quan trọng liên quan tới việc đỗ (trượt) của các em khi đi thi…

     Xuất phát từ suy nghĩ đó nên trong đề tài của mình, tôi tập trung trình bày về Một vài giải pháp giúp học sinh biết viết văn nghị luận xã hội”.

      B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

     I. NỘI DUNG LÍ LUẬN.  

     Văn nghị luận được ra đời từ rất lâu. Ở Trung Quốc, văn nghị luận đã có từ thời Khổng Tử. Ở nước ta, văn nghị luận cũng là một thể loại có truyền thống lâu đời, nó có giá trị và tác dụng hết sức to lớn trong trường kì lịch sử của công cuộc dựng nước và giữ nước. Tác phẩm “Chiếu dời đô” (1010) của Lí Công Uẩn “Cáo bình Ngô” (1428) của Nguyễn Trãi; “Hịch tướng sĩ” (1825) của Trần Quốc Tuấn… và đặc biệt ở thế kỉ XX, văn nghị luận phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Hàng loạt tên tuổi các nhà chính luận xuất sắc với những áng văn nghị luận, bất hủ mà tiêu biểu nhất là Chủ tịch Hồ Chí Minh với “Tuyên ngôn độc lập” (1945) và với biết bao nhà văn viết nghị luận nổi tiếng sau này như Hoài Thanh, Xuân Diệu, Đặng Thai Mai…

     Vậy theo Từ điển từ và ngữ Hán Việt thì “nghị luận” là dùng lí luận để phân tích ý nghĩa trái phải, bàn bạc, mở rộng vấn đề. Còn “xã hội” trước hết là một tập thể người cùng sống, gắn bó với nhau trong quan hệ sản xuất và các quan hệ khác. Cũng có thể hiểu “xã hội” là những gì thuộc về quan hệ giữa người và người về các mặt chính trị, kinh tế, triết học, lịch sử, văn học, ngôn ngữ,…. Từ đó có thể hiểu: Nghị luận xã hội là thể văn hướng tới phân tích, bàn bạc về các vấn đề liên quan đến các mối quan hệ của con người trong đời sống xã hội. Mục đích cuối cùng của nó là tạo ra những tác động tích cực đến con người và những mối quan hệ giữa người với người trong xã hội.

     Trên cơ sở nghiên cứu nêu trên tôi thấy: chủ trương đổi mới nội dung, chương trình SGK môn Ngữ văn và đổi mới hình thức kiểm tra thi cử mà Nghị quyết 40/ 2000/ QH đề ra, đặc biệt là tăng dạng bài mở (đoạn văn nghị luận xã hội) vào đề thi tuyển sinh THPT là hoàn toàn đúng đắn.

     Từ việc đổi mới đó, mỗi giáo viên dạy 6, 7, 8, 9 nói chung và đặc biệt là giáo viên dạy môn Ngữ văn 9 nói riêng cũng phải tự nghiên cứu, tìm tòi để tìm ra giải pháp giúp học sinh biết viết văn nghị luận xã hội và đạt hiệu quả. Tại sao lại như vậy? Vì việc tìm ra một số giải pháp giúp học sinh lớp 6, 7, 8, 9; đặc biệt là học sinh lớp 9 có một vài kĩ năng để viết văn nghị luận xã hội đạt kết quả tốt sẽ đem lại ý nghĩa to lớn đối với cả giáo viên và học sinh. Cụ thể:

       - Đối với giáo viên: Tìm ra một số giải pháp giúp học sinh có kĩ năng viết văn nghị luận xã hội đạt kết quả sẽ giúp cho giờ học và ôn tập Ngữ văn của giáo viên không bị gò bó, khô khan mà nó sẽ trở nên nhẹ nhàng và đạt hiệu quả cao hơn.

       - Đối với học sinh: Giáo viên có giải pháp giúp học sinh có kĩ năng viết văn nghị luận xã hội sẽ khiến các em hứng thú, chủ động hơn trong việc học và viết văn. Từ đó, các em sẽ:

           + Nắm được kiến thức, kĩ năng viết văn nghị luận xã hội.

           + Nắm được đặc trưng, cách làm dạng bài… giúp các em tự tin khi làm các bài kiểm tra định kì, học kì và làm bài thi tuyển sinh vào THPT.

     II . THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

     1. Thuận lợi

     Trong nhà trường THCS hiện nay, học sinh được luyện viết ba dạng đề nghị luận xã hội: Nghị luận về một tư tưởng đạo lý; Nghị luận về một hiện tượng cuộc sống; Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, xã hội, nhân sinh được đặt ra từ một tác phẩm. Cấu trúc của các đề kiểm tra định kì, học kì và thi tuyển sinh cũng tập trung vào những dạng này nên đã tạo được nhiều hứng thú cho học sinh.

     2. Khó khăn

     Đề nghị luận xã hội thường là đề mở, đó là những vấn đề rất rộng của đời sống. Trong khi học sinh lại thiếu hiểu biết xã hội, nên không có vốn để viết. Hơn nữa, ở đề nghị luận xã hội thường hay có những câu danh ngôn, định nghĩa, khái niệm, nên chúng thường rất trừu tượng khiến học sinh gặp khó khăn khi phải hiểu, phải lí giải được ý nghĩa của nó, ngay từ bước đầu đã vướng phải những vấn đề "khó nuốt" như vậy huống hồ phải triển khai thành bài văn với hệ thống ý chặt chẽ, kín kẽ, thuyết phục. Đặc biệt nghị luận xã hội cần ở học sinh sự linh hoạt trong nhận thức vấn đề, và từ nhận thức đi đến trình bày cái hiểu là cả một quá trình, để áp dụng và diễn đạt những cái mình hiểu đâu phải chuyện dễ dàng gì với nhiều học sinh. 

     Chính vì thế nhiều em đã dở khóc dở cười với văn nghị luận xã hội, trong khi áp lực của thi cử và các bài kiểm tra luôn đè nặng lên các em. Nó đòi hỏi các em phải tập làm quen với văn nghị luận xã hội và các em phải tập với hình thức tư duy của dạng đề này.

     III . CÁC GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH CÓ KĨ NĂNG VIẾT VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI ĐẠT KẾT QUẢ TỐT

     Từ thực tế vừa nêu, để giúp học sinh có hứng thú hơn, biết cách viết văn nghị luận xã hội, ngay từ đầu năm học 2018-2019 khi được phân công dạy lớp 9A2, tôi đã đề ra một vài giải pháp:

     1. Giúp học sinh hiểu thế nào là văn nghị luận xã hội và yêu cầu của một bài văn nghị luận xã hội

     Trong chương trình Ngữ văn bậc Trung học cơ sở, học sinh đã được làm quen với kiến thức về văn nghị luận từ lớp 7 thông qua các tiết học Tìm hiểu chung về văn nghị luận; Các phép lập luận giải thích và chứng minh. Đến chương trình Ngữ văn 9 cũng đã có những tiết dạy và học nghị luận xã hội:

         - Tiết 99: Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống.

         - Tiết 100: Cách làm bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống.

         - Tiết 108: Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí.

         - Tiết 112: Cách làm bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí.

       Tuy nhiên, để học sinh hiểu hơn về văn nghị luận xã hội, tôi vẫn hướng dẫn để các em hiểu:

      a. Văn nghị luận xã hội là gì? Đó là thể văn hướng tới phân tích, bàn bạc về các vấn đề liên quan đến các mối quan hệ của con người trong đời sống xã hội. Mục đích cuối cùng của nó là tạo ra những tác động tích cực đến con người và những mối quan hệ giữa người với người trong xã hội.

       b. Những yêu cầu chung của một bài văn nghị luận xã hội:

         - Đảm bảo kĩ năng nghị luận nói chung: tập trung hướng tới luận đề để bài viết không tản mạn, có ý thức triển khai thành những luận điểm chặt chẽ, nhất quán, tìm được những dẫn chứng xác đáng, giàu sức thuyết phục.

         - Đảm bảo về kiến thức mang chính trị – xã hội: những hiểu biết về chính trị – pháp luật, những kiến thức cơ bản về truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức, tâm lí – xã hội, những tin tức thời sự cập nhật…

         - Đảm bảo mục đích, tư tưởng đúng đắn: phải xuất phát từ một lập trường tư tưởng tiến bộ, cao đẹp, vì con người, vì sự tiến bộ chung của toàn xã hội… để bàn bạc, phân tích, khen chê và đề xuất ý kiến.

         - Đảm bảo diễn đạt: rõ ràng, mạch lạc; ngôn từ trong sáng, dễ hiểu...

         - Đảm bảo bài viết phải thể hiện rõ quan điểm của người viết trước vấn đề xã hội để từ đó giáo dục học sinh ý thức đúng đắn khi tham gia hoạt động xã hội.

      2. Giúp học sinh hiểu đúng từ ngữ trong một đề văn nghị luận xã hội

     Ở phần này, tôi thường hướng dẫn học sinh gạch chân những từ quan trọng để từ đó hiểu hơn về ý nghĩa của từ và xác định được yêu cầu về hình thức, nội dung bài nghị luận. Cụ thể: Một đề văn nghị luận, đặc biệt là đề văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí, có những từ ngữ tuy không khó nhưng nếu học sinh hiểu không đúng, bài văn sẽ bị lệch hướng, lạc đề.

     Những từ ngữ như lí tưởng, mục đích, hoài bão, ước mơ… thường học sinh có hiểu nhưng các em khó diễn đạt thành ý mạch lạc. Trong trường hợp này, tôi hướng dẫn học sinh của mình tra từ điển tiếng Việt hoặc tra từ điển Hán Việt để hiểu nghĩa gốc của từ ngữ.

        Ví dụ 1: Sau khi học xong văn bản “Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long, tôi có một đề bài dành cho học sinh: Khi nói chuyện với ông họa sĩ về công việc của mình, anh thanh niên đã tâm sự:

   – Hồi chưa vào nghề, những đêm bầu trời đen kịt, nhìn kĩ mới thấy một ngôi sao xa, cháu cũng nghĩ ngay ngôi sao kia lẻ loi một mình. Bây giờ làm nghề này cháu không nghĩ như vậy nữa. Vả, khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được? Huống chi công việc của cháu gắn liền với việc của bao anh em đồng chí dưới kia. Công việc của cháu gian khổ thế đấy, chứ cất nó đi, cháu buồn đến chết mất.

       Từ những lời tâm sự  của nhân vật cùng với sự hiểu biết xã hội của mình, em có suy nghĩ gì về lí tưởng sống của thanh niên hiện nay? (Trình bày trong khoảng nửa trang giấy thi).

    Để làm tốt đề này, trước tiên tôi hướng dẫn học sinh cần hiểu đúng nghĩa của từ “lí tưởng” trên cơ sở đó các em mới có thể giải thích, phân tích, chứng minh đúng hướng. Dựa theo từ điển, “lí tưởng” được hiểu là:

         - Lí tưởng: Điều tốt đẹp xuất hiện trong tâm trí con người, do con người tưởng tượng, mong muốn.

         - Lí tưởng: Khái niệm diễn tả một vẻ đẹp tuyệt vời, một hình ảnh hoàn hảo (Chẳng hạn: Người bạn lí tưởng, nơi ở lí tưởng, ngôi trường lí tưởng…).

         - Lí tưởng sống: Quan niệm về lối sống đẹp, toàn diện mà con người ước mơ, khao khát kiếm tìm, xây dựng, nỗ lực phấn đấu để đạt tới (Chẳng hạn: Lí tưởng sống của tuổi trẻ…)

   Ví dụ 2: Sau khi học xong văn bản “Bố của Xi - mông”, tôi có đưa ra cho học sinh một vấn đề: Bằng một bài văn ngắn khoảng một trang giấy thi, em hãy làm rõ: Sự cần thiết phải có lòng vị tha trong cuộc sống.

     Với đề bài này, tôi không định hướng trước mà để các em tự viết bài theo cách hiểu của mình và tôi nhận thấy học sinh thường hiểu khái niệm “vị tha”“tha thứ”. Do vậy, khi viết bài văn học sinh chỉ bàn về một vấn đề là phải tha thứ cho người khác. Cách hiểu này của các em mới chỉ đúng một phần vì “vị tha” có nghĩa là vì người khác, không vị kỉ.

     Vì vậy khi trả bài cho học sinh, tôi đã giảng giải để học sinh hiểu rõ hơn nghĩa của từ “vị tha” để từ đó các em hiểu đúng nghĩa của từ và sẽ dễ dàng chỉnh sửa lại những thiếu sót trong bài viết của mình:

         - Vị có nghĩa là . Như trong quan điểm “nghệ thuật vị nghệ thuật” của các nhà văn lãng mạn và “nghệ thuật vị nhân sinh” của các nhà văn hiện thực phê phán trước năm 1945.

         - Tha có nghĩa là khác. Như trong các từ ngữ“Tha hương”, “Tha nhân”.

     Ví dụ 3: Giải thích và bình luận quan điểm sau đây của UNESCO về giáo dục: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để khẳng định mình”.

     Với đề bài này, tôi xác định đây là một quan điểm về giáo dục, do vậy tôi hướng dẫn học sinh cần phải giải thích được 4 ý:

         - Học để biết (Learning to know): Học để biết về thế giới xung quanh, phát triển các kĩ năng nghề nghiệp, biết cách giao tiếp với mọi người, khám phá khoa học, phát huy kĩ năng tập trung, ghi nhớ và năng lực tư duy.

         - Học để làm (Learning to do): Học để vận dụng những kiến thức lí thuyết vào thực tế cuộc sống, đáp ứng được nhiều đòi hỏi trong công việc, có khả năng phân tích, thiết kế, tổ chức…

         - Học để chung sống và hợp tác (Learning to live together): Người học cần được tạo điều kiện, cơ hội để đến với các dự án hợp tác, tham gia vào các hoạt động xã hội, học được các phương pháp giải quyết mâu thuẫn, hiểu được sự đa dạng của con người.

         - Học để khẳng định mình, học để làm người (Learning to be): Người học cần được phát triển toàn diện về nhân cách, trí tuệ và thể lực; sự thông minh và tình cảm phong phú, óc tự lập; phương pháp phê bình, đánh giá; khả năng đưa ra những quyết định đúng đắn trong những tình huống khác nhau của cuộc sống… Do vậy, người học cần trở thành một thành viên tốt của gia đình, xã hội dựa trên cơ sở những kiến thức của cá nhân và những mối quan hệ cộng đồng.

      3. Giúp học sinh đặt câu hỏi tìm ý cho đề văn nghị luận xã hội

     Trước mỗi một đề văn nói chung, đề văn nghị luận xã hội nói riêng, việc học sinh biết đặt câu hỏi để tìm ý là rất quan trọng. Câu hỏi có thể do cá nhân, nhóm tự biên soạn để đưa ra trao đổi trước lớp. Câu hỏi cũng có thể do giáo viên gợi ý, học sinh tìm tài liệu. Hệ thống câu hỏi sẽ rất cần thiết cho những đề bài buộc phải tìm tòi tư liệu, dẫn chứng từ trên mạng Iternet hoặc trong sách báo.

     Ví dụ 1:

     Học xong văn bản “Làng” của Kim Lân, tôi có cho học sinh làm một bài tập: Kim Lân đã cho ta thấy tình  yêu làng, yêu nước tha thiết của người nông dân trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Chưa bao giờ tinh thần yêu nước và lòng tự hào dân tộc lại dấy lên mạnh mẽ trong lòng mỗi người dân Việt Nam như thời điểm đầu tháng 5/ 2014 - khi Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trên khu đặc quyền kinh tế của Việt Nam, tiêu biểu là hình ảnh những ngư dân Việt Nam ngày đêm bám biển để giữ vững chủ quyền của đất nước. 

     Bằng những hiểu biết về xã hội, qua một đoạn văn  khoảng nửa trang giấy thi, em hãy trình bày suy nghĩ của mình về những con người ấy.

     Với đề bài này, tôi hướng dẫn học sinh đặt một số câu hỏi để tìm ý như:

          - Những con người ấy, những ngư dân ấy là những ai?

         - Họ sống ở đâu và làm công việc gì?

         - Họ bộc lộ tình cảm dành cho quê hương đất nước bằng những cách nào?

         - Việc làm của họ có ý nghĩa như thế nào trong thời điểm hiện nay?

         - Thái độ, tình cảm của mọi người đối với họ ra sao?

         - Em thấy bản thân mình có thái độ, tình cảm, trách nhiệm gì?

     Ví dụ 2:

         Học xong văn bản “Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới”, tôi có cho học sinh làm một bài tập: Về chuẩn bị hành trang vào thể kỉ mới, tác giả Vũ Khoan có viết: “Sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất.”

     Bằng một đoạn văn khoảng 2/3 trang giấy thi, em hãy trình bày ý kiến của mình về vấn đề trên.

     Ở đề bài này, tôi nhận thấy học sinh của mình viết đoạn tương đối tốt bởi các em đã biết cách đặt câu hỏi tìm ý như sau:

        - Hiểu thế nào là con người?

        - Vì sao nói: Bước vào thế kỉ mới thì sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất?

        - Làm gì cho việc chuẩn bị bản thân con người?

       - Ngay từ bây giờ, bản thân em – một học sinh đang chuẩn bị thi vào THPT sẽ cần chuẩn bị những gì?...

  4. Giúp học sinh nhận ra các dạng đề văn nghị luận xã hội

     Tôi luôn hướng dẫn học sinh của mình để các em nắm được trong nhà trường THCS, đề văn nghị luận xã hội thường có ba dạng chính:

     Dạng 1: Bàn về một vấn đề tư tưởng, đạo lí thông qua những nhận xét, phán đoán về tinh thần, tình cảm, tư tưởng, đạo lí, lối sống,…

     Đối với học sinh trong nhà trường THCS, do tâm lí, lứa tuổi, tầm nhận thức nên những vấn đề đặt ra để bàn luận không phải là những vấn đề quá phức tạp, lớn lao mà chỉ là những khía cạnh đạo đức, tư tưởng, tình cảm gắn liền với cuộc sống hằng ngày như tình cảm quê hương, gia đình, bạn bè, ý thức trách nhiệm, tinh thần học tập, phương pháp nhận thức,…. Những vấn đề này có thể đặt ra một cách trực tiếp, nhưng thường là được gợi mở qua một câu danh ngôn (tục ngữ, ca dao, câu nói của các bậc hiền triết, các lãnh tụ, các nhà văn hóa, khoa học, nhà văn nổi tiếng,…).

     Ví dụ: Trong sách giáo khoa Ngữ văn 9, tập II, trang 51 có một số đề bài:

           - Suy nghĩ từ truyện ngụ ngôn “Đẽo cày giữa đường”.

           - Đạo lí “Uống nước nhớ nguồn”.

           - Bàn về tranh giành và nhường nhịn.

           - Đức tính khiêm nhường.

           - Có chí thì nên.

           - Đức tính trung thực.

           - Tinh thần tự học.

           - Hút thuốc lá có hại.

           - Lòng biết ơn thầy, cô giáo.

           - Suy nghĩ từ câu ca dao: “Công cha như núi Thái Sơn – Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.”

     Dạng 2: Bàn về một hiện tượng, con người, sự việc có thật trong cuộc sống ở mọi phương diện, mọi khía cạnh của nó.

   Khác với dạng đề bàn về một tư tưởng, đạo lí, dạng đề này thường nêu lên một hiện tượng có thật trong đời sống. Đó có thể là một hiện tượng tích cực, nhưng cũng có thể là một hiện tượng tiêu cực trong xã hội, hoặc một hiện tượng có cả mặt tích cực lẫn tiêu cực, Như thế đòi hỏi người viết, bằng nhận thức của bản thân, phải thể hiện được chủ kiến của mình, bằng phân tích và lập luận để ca ngợi và biểu dương cái đẹp, cái tốt, cái thiện (chân, thiện, mĩ) và lên án, vạch trần cái xấu, cái ác, cái phi nhân, Tất nhiên những hiện tượng đời sống nêu trong các đề văn dạng này vừa phải gần gũi với tuổi trẻ học đường vừa phải có ý nghĩa lớn lao đối với cả cộng đồng dân tộc và thế giới.

     Ví dụ: Trong sách giáo khoa Ngữ văn 9, tập II, trang 22 có một số đề bài:

           - Đất nước ta có nhiều tấm gương học sinh nghèo vượt khó, học giỏi. Em hãy nêu một số tấm gương đó và trình bày suy nghĩ của mình.

           - Chất độc màu da cam mà đế quốc Mĩ đã rải xuống các cánh rừng miền Man thời chiến tranh đã để lại lại di họa nặng nề cho hàng chục vạn gia đình. Hàng chục vạn người đã chết. Hàng vạn trẻ em chịu tật nguyền suốt đời. Cả nước đã lập quỹ giúp đỡ các nạn nhân nhằm phần nào cải thiện cuộc sống và xoa dịu nỗi đau cho họ. em hãy nêu suy nghĩ của mình về các sự kiện đó.

           - Trò chơi điện tử là món tiêu khiển hấp dẫn. Nhiều bạn vì mải mê chơi mà sao nhãng học tập và còn phạm những sai lầm khác. Hãy nêu ý kiến của em về hiện tượng đó.

           - Đọc mẩu chuyện sau đây và nêu những nhận xét, suy nghĩ của em về con người và thái độ học tập của nhân vật.

     Nguyễn Hiền nhà rất nghèo, phải xin làm chú tiểu trong chùa. Việc chính là quét lá và dọn dẹp vệ sinh. Nhưng cậu thông minh và ham học. Những buổi thầy giảng kinh, cậu đều nép bên cửa lắng nghe, rồi chỗ nào chưa hiểu, cậu hỏi thầy giảng thêm. Thấy Nguyễn Hiền thông minh, mau hiểu, thầy dạy cho cậu học chữ. Không có giấy, Nguyễn Hiền lấy lá để viết chữ, rồi lấy que tre xâu thành từng xâu ghim xuống đất. Mỗi ghim là một bài.

     Một hôm Nguyễn Hiền xin thầy cho đi thi. Thầy ngạc nhiên bảo:

     - Con đã học tập được bao nhiêu mà dám thi thố vwois thiên hạ?

     - Con xin thi thử xem sức học của mình đến đâu.

     Năm ấy, Nguyễn Hiền đã đỗ Trạng nguyên. Vua Trần cho Nguyễn Hiền còn nhỏ quá, mới 12 tuổi, nên không bổ dụng.

     Một thời gian sau, vua có viêc tiếp sử giả nước ngoài, cho gọi Nguyễn Hiền vào triều. Nguyễn Hiền bảo:

     - Đón Trạng nguyên mà không có võng lọng sao? Ông về tâu với vua xin cho đầy đủ nghi thức.

     Vua đành cho các quan mang võng lọng rước quan Trạng tí hon về kinh.

     Dạng 3: Bàn về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học.

       Đây là dạng đề tổng hợp, đòi hỏi học sinh kiến thức về cả hai mảng văn học và đời sống, cũng đòi hỏi cả kĩ năng phân tích văn học và kĩ năng phân tích, đánh giá các vấn đề xã hội. Nghĩa là có thể kiểm tra được người viết về cả kiến thức văn học và kiến thức đời sống. Đề thường xuất phát từ một vấn đề xã hội giàu ý nghĩa có trong một tác phẩm văn học nào đó để yêu cầu học sinh bàn bạc rộng ra vấn đề xã hội đó. Vấn đề xã hội được bàn bạc có thể rút ra từ một tác phẩm văn học đã học trong chương trình nhưng cũng có thể từ một câu chuyện chưa được học (thường là một câu chuyện ngắn gọn, giàu ý nghĩa). Hãy đọc các đề văn sau đây:

     Ví dụ: Sau khi học xong các tác phẩm văn học, tôi thường cho học sinh một số dạng đề bài:

- Trong văn bản “Lặng lẽ Sa Pa”, Nguyễn Thành Long có viết : Khi kể về công việc của mình, anh thanh niên đã tâm sự: -Hồi chưa vào nghề, những đêm bầu trời đen kịt, nhìn kĩ mới thấy một ngôi sao xa, cháu cũng nghĩ ngay ngôi sao kia lẻ loi một mình. Bây giờ làm nghề này cháu không nghĩ như vậy nữa. Vả, khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được? Huống chi công việc của cháu gắn liền với việc của bao anh em đồng chí dưới kia. Công việc của cháu gian khổ thế đấy, chứ cất nó đi, cháu buồn đến chết mất.

Từ những lời tâm sự  của nhân vật cùng với sự hiểu biết xã hội của mình, em có suy nghĩ gì về lí tưởng sống của thanh niên hiện nay? (Trình bày trong khoảng nửa trang giấy thi).

- Từ văn bản Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang” kết hợp với những hiểu biết xã hội, hãy viết đoạn văn khoảng ½ trang giấy thi nêu suy nghĩ của em về ý chí, nghị lực, lòng kiên trì để vượt qua khó khăn, gian khổ trong cuộc sống hiện nay.

     -Kết thúc truyện ngắn "Cố hương" của nhà văn Lỗ Tấn là suy nghĩ của nhân vật "tôi": "Đã gọi là hy vọng thì không thể nói đâu là thực, đâu là hư. Cũng giống như những con đường trên mặt đất, kỳ thực trên mặt đất vốn làm gì có đường. Người ta đi mãi thì thành đường thôi." Viết một đoạn văn khoảng 8 câu trình bày suy nghĩ của em về con đường phía trước của bản thân mỗi học sinh lớp 9.

     - Bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt chứa đựng một ý nghĩa triết lí sâu xa: Những gì thân thiết nhất của tuổi thơ mỗi con người đều có sức tỏa sáng, nâng đỡ con người trong suốt hành trình dài rộng của cuộc đời. Tình yêu thương, lòng biết ơn đối với người thân, gia đình chính là khởi nguồn của tình yêu quê hương, đất nước. Từ tình cảm cao đẹp của người cháu trong bài thơ, em hãy viết đoạn văn khoảng nửa trang giấy thi trình bày suy nghĩ về tình yêu quê hương đất nước của mọi người trong xã hội hiện nay.

     Tuy nhiên, mỗi dạng bài lại có những đòi hỏi phương pháp triển khai riêng. Chính vì vậy, khâu quan trọng tiếp theo mà bản thân tôi thường làm để học sinh viết tốt văn nghị luận xã hội đó là hướng dẫn các em cách làm bài ở mỗi dạng bài khác nhau.

      5. Giúp học sinh cách làm các dạng đề văn nghị luận xã hội

      5.1. Cách làm dạng bài nghị luận về một hiện tượng đời sống

     Nhìn chung, để tìm ý cho dạng bài này vẫn là người viết biết đặt ra và trả lời các câu hỏi có ý nghĩa xung quanh vấn đề trọng tâm mà đề yêu cầu. Các câu hỏi và nội dung trả lời cũng có thể sắp xếp theo ba bước:

     - Giới thiệu thực trạng

     - Phân tích và bình luận nguyên nhân – kết quả (hậu quả)

     - Phân tích lơi – hại; đúng – sai. Vì sao?

     - Đề xuất ý kiến (giải pháp)

     Cụ thể là:

     Bước 1: Giới thiệu thực trạng:

     Để luyện tập viết các bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống, trước hết cần biết nhận diện hiện tượng ấy (sự việc, con người): Các biểu hiện, các dạng tồn tại, thậm chí cần cả những số liệu cụ thể. Thực hiện thao tác này đòi hỏi học sinh một sự hiểu biết và quan tâm đến các vấn đề đang tồn tại trong đời sống xã hội hiện nay. Nghĩa là không phải đợi tới lúc nhận đề bài mới tìm hiểu mà học sinh nên có sự chuẩn bị từ trước bằng việc chú ý nghe thời sự hằng ngày, cập nhật thông tin về các vấn đề trong nước cũng như quốc tế. Tuy nhiên không phải hiện tượng nào cũng được đặt ra trong các đề nghị luận xã hội mà phải là những gì có ý nghĩa sâu sắc, tạo ảnh hưởng rộng và thường là ảnh hưởng xấu đến đời sống cộng đồng và cuộc sống của chính lứa tuổi học sinh: ô nhiễm môi trường, an toàn giao thông, các tệ nạn xã hội, các thói quen xấu như ham mê Internet, hút thuốc lá, quay cóp bài trong giờ kiểm tra,…. Ngoài ra, có khi người ra đề đưa ra những hiện tượng có ảnh hưởng tích cực làm đề tài bàn luận như những tấm gương hiếu thảo, vượt khó của thanh thiếu niên,…. Khi phản ánh thực trạng, ta cần đưa ra những con số, những thông tin cụ thể, tránh lối nói chung chung, mơ hồ vì chính sự cụ thể của thông tin sẽ tạo ra tính thuyết phục cho những ý kiến đánh giá sau đó. Chẳng hạn, muốn bàn về tình trạng ô nhiễm nguồn nước, cần tìm thông tin về những con sông đang bị ô nhiễm nặng nhất, mức độ ô nhiễm cụ thể, các loại chất gây ô nhiễm hiện có mặt có trong nguồn nước sông,…. Muốn bàn về nạn bạo hành với phụ nữ, cần tìm hiểu xem trong xã hội hiện tại, người phụ nữ phải đối mặt với những kiểu (dạng) bạo hành như thế nào, tỉ lệ phụ nữ phải sống chung với nạn bạo hành, …

     Bước 2: Phân tích và bình luận nguyên nhân – kết quả (hậu quả)

     Sau khi hướng dẫn học sinh xác định rõ thực trạng, tôi hướng dẫn các em cần phân tích hiện tượng ở các mặt nguyên nhân, hậu quả và cố gắng tìm ra các giải pháp để giải quyết thực trạng đó. Việc này không quá khó. Chỉ cần chú ý một chút đến cách nói của các phóng viên, bình luận viên trên các báo, đài, chú ý quan tâm đến dự luận xã hội và chịu khó tìm hiểu cuộc sống xung quanh mình là các em sẽ làm được.

     Tuy nhiên, khi nghe và tiếp nhận thông tin, dư luận, cần có sự tỉnh táo để xem xét, chọn lọc và xử lí đích đáng trên cơ sở hiểu biết và cố gắng xây dựng một lập trường tư tưởng vững vàng, tránh chạy theo dư luận không chính thống mà dẫn tới chủ quan, hồ đồ khi phân tích, đánh giá hiện tượng. Lưu ý là khi phân tích nguyên nhân, nên chú ý tới các mặt khách quan – chủ quan. Chẳng hạn, với hiện tượng tai nạn giao thông thì nguyên nhân khách quan là do hệ thống giao thông còn nhiều bất cập (cách phân luồng, phân tuyến, hệ thống biển báo chỉ dẫn, chất lượng của phương tiện tham gia giao thông,…), nguyên nhân chủ quan là người tham gia giao thông chưa ý thức đầy đủ về trách nhiệm, chưa nắm vững pháp luật, chưa chú ý đúng mức tới vấn đề an toàn,…. Khi đánh giá hậu quả, cần xem xét ở các phạm vi cá nhân – cộng đồng, hiện tại – tương lai,…. Ví dụ: Hiện tượng nghiện Internet không chỉ làm hao tổn về sức lực, tiền của, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển nhân cách cá nhân mà còn tạo mầm mống cho những bất ổn trong xã hội.

     Bước 3: Đề xuất ý kiến (giải pháp)

     Sau khi phân tích và bình luận nguyên nhân – kết quả, tôi hướng dẫn học inh đến phần tiếp theo thường là phần nêu, đề xuất giải pháp khắc phục. Trước hết các em cần phải xem lại phần nguyên nhân vì nó chính là gợi ý tốt nhất để có thể tìm ra các giải pháp khắc phục. Chẳng hạn một trong những nguyên nhân của tai nạn giao thông là do người tham gia giao thông chưa có ý thức trách nhiệm, chưa nắm vững luật pháp và chưa chú ý đầy đủ đến sự an toàn thì một trong những giải pháp có thể thực hiện là tuyên truyền, giáo dục về an toàn giao thông, xây dựng chế tài xử phạt đối với những trường hợp vi phạm an toàn giao thông…

     Về cơ bản, bài nghị luận về hiện tượng đời sống cần là sự bộc lộ vốn hiểu biết và lập trường, thái độ của người viết về hiện tượng được nêu. Vì vậy, bên cạnh việc nắm vững các bước trong quá trình làm bài, người viết còn cần thể hiện tiếng nói cá nhân và quan điểm đánh giá thật rõ ràng, sắc sảo thì bài viết mới có tính thuyết phục.

      5.2. Cách làm dạng bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí

     Đối với dạng đề nghị luận về một tư tưởng, đạo lí, để giải quyết vấn đề, ta cần lưu ý cách xem xét nó từ nhiều góc độ. Cách đơn giản nhất là thử đặt ra và trả lời những câu hỏi. Sau đây là một số dạng câu hỏi chính:

       - Nó là gì?

       - Nó như thế nào?

       - Vì sao lại như thế?

       - Được thể hiện trong cuộc sống và văn học ra sao?

       - Như thế thì có ý nghĩa gì với cuộc sống, với con người, với bản thân?

     Từ việc đặt ra và trả lời các câu hỏi, có thể hình dung một bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí thường được triển khai theo ba bước cơ bản:

       - Giải thích khái niệm (từ ngữ, hình ảnh,…)

       - Phân tích, lí giải

       - Bình luận, đánh giá

   Cụ thể:

     Bước 1: Giải thích khái niệm:  

     Tùy theo từng yêu cầu cụ thể mà mức độ và cách giải thích có thể sẽ khác nhau.      Chẳng hạn: Với đề bài: Nêu suy nghĩ về câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn” các em cần giải thích được:

       Uống nước: Hưởng thụ thành quả, sản phẩm vật chất và tinh thần.

       Nguồn: Nguồn gốc, cội nguồn của tất cả những thành quả mà con người được hưởng, bao gồm con người, lịch sử, truyền thống.

       Nhớ nguồn: Thành quả không tự nhiên mà có, cho nên người hưởng thụ phải biết tri ân, gìn giữ, phát huy các thành quả của người làm ra chúng.

       Uống nước nhớ nguồn: Khi chúng ta hưởng thụ những thành quả về vật chất, tinh thần thì ta phải biết ghi nhớ công ơn của những người đã tạo ra thành quả đó.

     Bước 2: Phân tích, lí giải

     Bản chất của thao tác này là giảng giải nghĩa lí của vấn đề được đặt ra để làm sáng tỏ bản chất vấn đề cùng với các khía cạnh, các mối quan hệ của nó. Phần này thực chất là trả lời câu hỏi: Tại sao? Vì sao?

     Để làm được việc này, tôi hướng dẫn các em cần tách vấn đề thành các khía cạnh nhỏ để xem xét, nghiên cứu. Cách đơn giản nhất là đặt ra các câu hỏi để khảo sát, tìm hiểu. Muốn đặt ra được những câu hỏi thực sự cần thiết cho việc giải quyết yêu cầu của đề, cần làm thật tốt khâu giải thích để xác định chính xác vấn đề mà đề bài đặt ra cùng với các khía cạnh, phương diện của nó. Chỉ khi ấy mới có thể xác định được những gì cần lí giải cho vấn đề trở nên sáng tỏ, rõ ràng.

     Chẳng hạn: Với đề bài: Nêu suy nghĩ về câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn” các em cần lí giải: Vì sao khi “uống nước” chúng ta lại phải “nhớ nguồn”?...     

     Bước 3: Bình luận, đánh giá

    Đây là phần việc để các em bộc lộ nhận thức về vấn đề ở mức độ cao nhất, cũng là phần việc khó khăn nhất đối với nhiều em. Vì vậy, trước hết tôi hướng dẫn các em cần đánh giá vấn đề ở nhiều bình diện, khía cạnh khác nhau: ý nghĩa tư tưởng, ý nghĩa thực tế, mức độ đúng – sai, đóng góp – hạn chế, …

     Từ sự đánh giá trên các bình diện, các em cần nhìn nhận giá trị của vấn đề như một bài học kinh nghiệm trong cuộc sống cũng như trong học tập, trong nhận thức cũng như trong tình cảm, tư tưởng để tự mình bồi đắp, nâng cao kinh nghiệm sống, kinh nghiệm ứng xử trong đời sống.

     Ngoài ra, tùy theo yêu cầu và tính chất cụ thể của từng đề bài mà các em có thể bổ sung, thêm bớt các phần khác nhau như: liên hệ, mở rộng; rút ra bài học. Phần này nên có trong những đề bài đề cập đến những vấn đề gắn liền hoặc gần gũi với đời sống của lứa tuổi học sinh. Ví dụ: phương pháp học tập, tích lũy kiến thức, quan hệ bạn bè, cách sống và cách ứng xử,…. Ở những đề bài như thế, việc liên hệ, mở rộng cũng chứng tỏ mức độ hiểu và khả năng cảm nhận vấn đề của học sinh. Hoặc có thể không có phần giải thích khái niệm (từ ngữ) nếu thấy không cần giải thích gì….

     Cuối cùng, tôi cũng nhắc với học sinh mô hình ý và bố cục bài viết chỉ là một cách, trong khi triển khai có thể linh hoạt đề xuất ra nhiều ý và bố cục khác, miễn là bài viết của các em làm sáng tỏ được vấn đề và có sức thuyết phục cao.

      5.3. Cách làm dạng bài nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học

     Ở dạng bài này, tôi giảng giải cho các em hiểu: Vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học có thể là một vấn đề tư tưởng, đạo lí, nhưng cũng có thể là một hiện tượng cuộc sống đáng ca ngợi hay phê phán. Như thế để làm loại đề này, các em nên tiến hành hai bước:

       - Bước 1: Giới thiệu và phân tích vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học (gọi tắt là bước Giới thiệu và phân tích)

       - Bước 2: Nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học.

     Trong hai bước trên, trọng tâm bài viết thuộc về bước 2, vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học chỉ là cái cớ, như là đề tài để người viết bàn bạc, trao đổi, mở rộng, nâng cao,… ở bước 2.

   Cụ thể:

     Bước 1: Giới thiệu và phân tích

     Để làm dạng bài này, trước hết các em phải nêu và phân tích làm rõ vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học cùng với các khía cạnh, các phương diện biểu hiện của nó. Từ đó mới dẫn dắt để chuyển sang phần 2: Nghị luận về ý nghĩa của vấn đề đó với cuộc sống hôm nay.

     Bước 2: Nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm

    Khi bàn về vấn đề trong mối liên hệ với cuộc sống hiện tại, các em sẽ tùy theo tính chất của vấn đề mà có cách xử lí cụ thể:

       - Nếu vấn đề đặt ra mang màu sắc tư tưởng, đạo lí, cần vận dụng mô hình: Giải thích khái niệm – Phân tích, lí giải – bình luận, đánh giá.

       - Nếu vấn đề đặt ra là một hiện tượng đời sống, cần vận dụng mô hình: Giới thiệu thực trạng – Phân tích và bình luận nguyên nhân – kết quá (hậu quả) – Đề xuất ý kiến (giải pháp).

     Tuy nhiên, khi dạy dạng bài này, tôi cũng lưu ý với học sinh: Dạng bài này rất dễ lẫn với bài nghị luận văn học vì buộc phải có khâu phân tích tác phẩm để xác định vấn đề cần nghị luận. Để tránh nhầm lẫn, các em cần xác định và phân biệt rõ sự khác biệt về mục đích và cách thức tiến hành. Mục đích của nghị luận văn học là bàn bạc, phân tích để đánh giá chất lượng về nội dung, nghệ thuật của văn bản tác phẩm, còn mục đích của loại đề nghị luận xã hội này là chỉ nhằm rút ra và làm sáng tỏ vấn đề xã hội được đặt ra ở văn bản tác phẩm đó trước khi tiến hành nghị luận ở phần chính. Vì thế khi làm bài nghị luận văn học, các em cần cắt nghĩa, bình giá cái hay, vẻ đẹp của các yếu tố của văn bản như ngôn ngữ, hình tượng về cả hai phương diện nội dung ý nghĩa và đặc sắc nghệ thuật; còn khi làm bài nghị luận xã hội các em lại chỉ cần chú ý đến mặt nội dung (tư tưởng, đạo lí, hiện tượng tích cực, tiêu cực của đời sống)

     6. Đưa đề văn nghị luận xã hội vào nội dung kiểm tra và ôn tập hàng tuần

     Xác định nghị luận xã hội là dạng bài chiếm khoảng 15% - 20% tổng số điểm khi thi tuyển sinh vào THPT – đây là số điểm rất quan trong với các em. Chính vì vậy, trong quá trình dạy học trên lớp, để tạo cho các em một thói quen và có kĩ năng tốt khi viết văn nghị luận, tôi thường làm như sau: Đưa các đề văn nghị luận vào nội dung ôn kiểm tra (kiểm tra định kì, kiểm tra học kì, thi tuyển sinh) và các buổi ôn tập hàng tuần.

    Cụ thể:

       Để phục vụ cho tiết kiểm tra Văn (Phần truyện) – Tiết 155 trong phân phối chương trình môn Ngữ văn 9, tôi đã đưa một số dạng đề nghị luận xã hội dưới hình thức của một đoạn văn vào để học sinh làm như sau:

       - Từ văn bản Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang” kết hợp với những hiểu biết xã hội, hãy viết đoạn văn khoảng 8 câu nêu suy nghĩ của em về ý chí, nghị lực, lòng kiên trì để vượt qua khó khăn, gian khổ trong cuộc sống.

       - Trong văn bản “Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang” , tác giả Đ.Đi-phô có viết: Còn về diện mạo của tôi, nó không đến nỗi đen cháy như các bạn có thể nghĩ về một kẻ chẳng quan tâm gì đến da dẻ của mình lại sống ở vào khoảng chín hoặc mười độ vĩ tuyến miền xích đạo. Râu ria của tôi đã có lúc để mặc cho nó mọc dài đến hơn gang tay; nhưng rồi tôi có cả kéo và dạo cạo đủ dùng, nên tôi cắt đi khá ngắn gọn…

     Ở nơi đảo hoang, cuộc sống đầy khó khăn, thiếu thốn nhưng Rô-bin-xơn vẫn luôn thể hiện tinh thần lạc quan- đó là nét sống đẹp đáng trân trọng. Từ những hiểu biết xã hội, em hãy viết đoạn khoảng một nửa trang giấy thi nêu suy nghĩ về nét sống đẹp của thanh niên Việt Nam hiện nay.

       - Từ nhân vật bác Phi – líp trong văn bản “Bố của Xi - mông” của nhà văn Pháp Guy đơ Mô – pa – xăng, kết hợp với những hiểu biết xã hội, em hãy viết một đoạn văn khoảng 8 – 10 câu để suy nghĩ về lòng nhân ái của con người trong cuộc sống.

       - Trong văn bản “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê có đoạn viết: “...Thực tình, trong suy nghĩ của tôi, những người đẹp nhất, thông minh, can đảm và cao thượng nhất là những người mặc quân phục có ngôi sao trên mũ.” 

       Theo em trong cuộc sống hiện nay, thế nào là người can đảm và cao thượng nhất? Hãy viết một đoạn văn khoảng 8 câu trình bày suy nghĩ của em về những con người đó.

     Hàng tuần, khi ôn tập cho học sinh, trong đề ôn tập tổng hợp, tôi luôn đưa dạng bài nghị luận xã hội vào để học sinh làm. Ví dụ: Để chuẩn bị ôn tập kiểm tra Học kì II môn Ngữ văn, tôi đã soạn cho học sinh một số dạng bài (trong đó có bài nghị luận xã hội) để các em làm.

   Ví dụ 1: Cho đoạn trích:

    Bây giờ là buổi trưa. Im ắng lạ. Tôi ngồi dựa vào thành đá và khe khẽ hát. Tôi mê hát. Thường cứ thuộc một điệu nhạc nào đó rồi bịa ra lời mà hát. Lời tôi bịa lộn xộn mà ngớ ngẩn đến tôi cũng ngạc nhiên, đôi khi bò ra mà cười một mình.

     Tôi là con gái hà Nội. Nói một cách khiêm tốn, tôi là một cô gái khá. Hai bím tóc dày, tương đối mềm, một cái cổ cao, kiêu hãnh như đài hoa loa kèn. Còn mắt tôi thì các anh lính lái xe bảo: “Cô có cái nhìn sao mà xa xăm!”.

      1. Đoạn trích trên có trong văn bản nào? Của ai? Nêu hoàn cảnh ra đời văn bản đó.

      2. Việc chọn nhân vật chính – ngôi thứ nhất là người kể chuyện có tác dụng gì cho nội dung và nghệ thuật trần thuật của truyện?

      3. Cũng trong văn bản chứa đoạn trích trên có câu: Còn mắt tôi thì các anh lính lái xe bảo: “Cô có cái nhìn sao mà xa xăm”. Hãy chỉ ra thành phần khởi ngữ trong câu đó.

      4. Bằng một đoạn văn T – P – H ( khoảng 10 – 12 câu ), nêu cảm nhận của em về hoàn cảnh sống và chiến đấu của những cô gái thanh niên xung phong trong tác phẩm chứa đoạn trích trên; từ đó trình bày suy nghĩ của em về tinh thần vượt khó của lớp trẻ hiện nay. Trong đoạn có một phép thế đồng nghĩa và một lời dẫn gián tiếp.

     Ví dụ 2: Trong văn bản “Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới”, tác giả Vũ Khoan có viết: Bước vào thế kỉ mới, muốn “sánh vai với các cường quốc năm châu” thì chúng ta sẽ phải lấp đầy hành trang bằng những điểm mạnh, vứt bỏ những điểm yếu.

         1. Văn bản “Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới” ra đời vào thời điểm nào của lịch sử nước nhà? Ra đời  trong hoàn cảnh đó sẽ có ý nghĩa to lớn gì?

        2. Em hiểu từ “hành trang” trong nhan đề của văn bản nghĩa là gì?

        3. Từ những hiểu biết xã hội, em hãy viết một đoạn văn khoảng ½ trang giấy thi nêu suy nghĩ của em về những điểm mạnh của thanh niên Việt Nam trong thời kì hội nhập kinh tế hiện nay.   

    Ví dụ 3: Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu sau:

NGƯỜI ĂN XIN

      Một người ăn xin đã già. Đôi mắt ông đỏ hoe, nước mắt ông giàn giụa, đôi môi tái nhợt, áo quần tả tơi. Ông chìa tay xin tôi.

     Tôi lục hết túi nọ đến túi kia, không có lấy một xu, không có cả khăn tay, chẳng có gì hết. Ông vẫn đợi tôi. Tôi chẳng biết làm thế nào. Bàn tay tôi run run nắm chặt lấy bàn tay run rẩy của ông:

     - Xin ông đừng giận cháu! Cháu không có gì cho ông cả.

     Ông nhìn tôi chăm chăm, đôi môi nở nụ cười:

     - Cháu ơi, cảm ơn cháu! Như vậy là cháu đã cho lão rồi.

     Khi ấy tôi chợt hiểu ra: cả tôi nữa, tôi cũng vừa nhận được một cái gì đó của ông.

     Câu 1. Phân tích tác dụng của dấu hai chấm cuối cùng trong văn bản trên.

     Câu 2. Trong cuộc trò chuyện, người ăn xin và nhân vật “tôi” đã cùng thực hiện một phương châm hội thoại, đó là phương châm nào? Dựa vào đâu em khẳng định điều đó?

     Câu 3. Hãy viết đoạn văn nghị luận khoảng 2/3 trang giấy thi, trình bày suy nghĩ của em về vấn đề được gợi ra từ câu chuyện trên.

  7. Lên kế hoạch kiểm tra và sửa lỗi sai cho học sinh

     Được sự phân công của Ban giám hiệu nhà trường, ngay khi dạy lớp 9A2, tôi đã xác định cần phải rèn cho học sinh kĩ năng viết văn nghị luận xã hội được tốt. Trên cơ sở đó, tôi đã có những cách làm như vừa trình bày ở trên. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở việc hướng dẫn học sinh kĩ năng làm bài mà thiếu đi khâu kiểm tra, đánh giá xem học sinh viết bài như thế nào thì sẽ là một thiếu sót rất lớn. Chính vì vậy, không chỉ đợi đến các bài kiểm tra định kì, kiểm tra học kì mà hàng tuần, trong các tiết, giờ luyện tập… bên cạnh việc dành thời gian cho học sinh viết bài và đọc bài trước lớp tôi còn thường xuyên yêu cầu các em viết đoạn văn ra giấy để tôi kiểm tra và chấm.

     Chính việc yêu cầu học sinh viết đoạn ra giấy để kiểm tra và chấm đã giúp tôi sớm nhận ra lỗi sai của học sinh và từ đó có giải pháp giúp các em khắc phục lỗi sai. Chẳng hạn: Dạy xong văn bản “Chị em Thúy Kiều”, tôi có đưa ra một đề bài:

     Trước khi khắc họa bức chân dung của hai chị em Kiều, Nguyễn Du đã giới thiệu:

Đầu lòng hai ả tố nga,

Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân.

Mai cốt cách tuyết tinh thần,

Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.

                                   ( Chị em Thúy Kiều Trích Truyện Kiềucủa Nguyễn Du)

     Sau lời giới thiệu trên, Nguyễn Du đã khắc họa rõ bức chân dung mười phân vẹn mười của Thúy Kiều, Thúy Vân. Theo em vẻ đẹp mười phân vẹn mười ấy có còn phù hợp với thiếu nữ ngày nay?

     Bằng một đoạn văn khoảng ½ trang giấy thi, hãy trình bày ngắn gọn suy nghĩ của em về vẻ đẹp của người thiếu nữ trong xã hội hiện đại.

      Với đề nghị luận xã hội này, sau khi cho học sinh làm trên giấy và thu về chấm, tôi đã nhận xét cụ thể những lỗi sai trong bài làm của các em. Chẳng hạn:

           Đặc biệt, với những em kĩ năng viết còn chưa tốt, còn hay mắc những lỗi sai về chính tả, dùng từ; vốn hiểu biết xã hội còn hạn chế… khi gọi yêu cầu các em đọc bài của mình hoặc khi chấm bài trên giấy của các em, tôi không phê bình mà chủ yếu chỉ ra lỗi sai cụ thể, động viên, khích lệ các em về viết lại bài …  Điều đó đã khiến các em đỡ mặc cảm với thầy cô và các bạn trong lớp hơn. Thậm chí, sau khi chấm bài xong, tôi thường đọc một số bài của những học sinh viết tốt để các em có điều kiện nghe bài bạn và từ đó học hỏi, rút kinh nghiệm cho bài làm của bản thân….

     Sau đây, tôi xin giới thiệu một vài đoạn văn mà học sinh lớp 9A2 do tôi dạy các em đã viết được trong những lần làm bài kiểm tra.

    IV. KẾT QUẢ CỤ THỂ

     Qua thực tế giảng dạy tại lớp 9A2 tôi đã thu được một số kết quả như sau:

     1. Đối với học sinh:

     - Nhìn chung các em đã nắm chắc hơn kĩ năng viết văn nghị luận xã hội; biết phân biệt dạng đề và từ đó các em hào hứng, tự tin hơn khi làm văn nghị luận xã hội.

     - Các em đã hiểu được văn nghị luận xã hội là dạng đề mở, nó kích thích tư duy sáng tạo của các em nên dường như các em đã thoải mái hơn trong việc trình bày suy nghĩ của bản thân mình.

     - Nắm được những đặc điểm cơ bản này của văn nghị luận nên kết quả các bài kiểm tra định kì, học kì chung của cả khối, học sinh lớp tôi dạy đều đạt TBC: 7.8 – 8.0 điểm. Trong đó, điểm cho bài nghị luận xã hội, các em đều đạt 1.25 – 1.75/ 2.0 điểm.

     - Bên cạnh những thuận lợi trên thì tôi nhận thấy, học sinh của mình vẫn còn một vài hạn chế sau:

         + Đôi khi các em còn lúng túng trong việc chuyển ý, sắp xếp dẫn chứng.

         + Thời gian để các em có thể tự học, viết văn nghị luận xã hội và tham khảo thêm tư liệu chưa có nhiều.

     2. Đối với giáo viên:

     - Tôi nhận thấy, khi đầu tư nghiêm túc cho việc dạy văn nghị luận xã hội, tôi dễ nắm bắt được tâm tư, tình cảm, mơ ước, cá tính của học sinh hơn là khi học sinh làm văn nghị luận văn học. Điều này, không chỉ có ích cho với giáo viên dạy Ngữ văn mà với tôi, 9A­2 vừa là lớp tôi dạy văn nhưng cũng đồng thời là lớp tôi chủ nhiệm. Do vậy, việc nắm bắt được tâm tư, tình cảm, mơ ước của các em giúp tôi rất nhiều trong việc đề ra những giải pháp giáo dục học sinh trong vai trò chủ nhiệm lớp.

     - Hơn nữa, khi học sinh nắm được cách làm dạng bài văn nghị luận thì các em sẽ chủ động viết bài. Điều này khiến tôi thực sự cảm thấy yên tâm vì không phải lo lắng đến việc học sinh sẽ học tủ như khi làm văn nghị luận văn học nữa.

     - Tuy nhiên, khi hướng dẫn các em kĩ năng làm văn nghị luận xã hội, bản thân tôi cũng gặp phải một số khó khăn:

       + Nghị luận xã hội là câu danh ngôn, tục ngữ, ca dao; hiện tượng trong cuộc sống lại đa dạng nên tôi không thể tập trung dạy quá sâu, quá kĩ như ở bài nghị luận văn học được mà chỉ có thể hướng dẫn các em làm các dạng bài theo chủ đề: Lòng yêu nước; Lòng hiếu thảo; Môi trường; An toàn giao thông; Biết ơn; Lí tưởng…

       + Phải thuyết phục, làm công tác tư tưởng cho học sinh vì câu nghị luận xã hội trong bài kiểm tra chỉ được 1.5 điểm và bản thân các em rất khó để có thể đạt mức điểm tuyệt đối trong khi nội dung phải ôn, phải học sẽ rộng hơn…

C. KẾT LUẬN

         Qua thực tiễn giảng dạy với việc mạnh dạn áp dụng những giải pháp trên để giúp học sinh có kĩ năng viết văn nghị luận xã hội, tôi rút ra được cho mình những bài học:

         1. Để học sinh thực sự yêu văn, thích học văn, để có được giờ hướng dẫn học sinh viết văn nghị luận xã hội thật hấp dẫn thì giáo viên phải thực sự có tâm huyết, phải hiểu thấu đáo bài dạy; phải nắm được những tồn tại của học sinh để giúp học sinh biết cách ôn tập có hiệu quả.

         2. Từ đó, giáo viên sẽ tự nâng cao ý thức, nâng cao trình độ chuyên môn của mình: đọc tài liệu tham khảo, dự giờ đồng nghiệp, thu thập kiến thức qua sách báo, vô tuyến; đề ra những giải pháp riêng phù hợp với thực tế học sinh lớp mình để từ đó giúp các em có kĩ năng làm văn nghị luận xã hội tốt.

         3. Từ việc say mê, nhiệt tình mà tôi nhận thấy mình đã cảm hóa được học sinh một cách dễ dàng hơn. Các em thấy thầy, cô gần gũi với mình hơn, quan tâm đến việc học của mình hơn và qua đó cũng mạnh dạn hơn khi trao đổi với thầy cô.

thời tiết các vùng

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

Bình chọn

Đánh giá thái độ tiếp công dân của cán bộ Một cửa quận