TIN TỨC KHÁC

Trường Mầm non Vĩnh Hưng: Một số kinh nghiệm chế biến món ăn cho trẻ mầm non
Ngày đăng 09/09/2019 | 09:00  | View count: 747

Sáng kiến kinh nghiệm: Một số kinh nghiệm chế biến món ăn cho trẻ mầm non

A. ĐẶT VẤN ĐỀ

     I. Lý do chọn đề tài

     Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ… Để đạt được mục tiêu phát triển toàn diện cho trẻ mầm non thì việc kết hợp hài hoà giữa nuôi dưỡng, chăm sóc sức khoẻ và giáo dục là điều tất yếu, nhằm giúp cơ thể trẻ khoẻ mạnh, phát triển cân đối đồng thời tư duy của trẻ cũng phát triển. Muốn cho cơ thể khỏe mạnh thì điều trước tiên chúng ta cần cho trẻ ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng và cân đối giữa các chất. Bản thân tôi là một nhân viên nuôi dưỡng trực tiếp nấu ăn, qua thực tế tôi nhận thấy nếu các bữa ăn của trẻ được chế biến phù hợp với khẩu vị của trẻ, đa dạng của mùi vị sẽ kích thích trẻ ăn ngon miệng thì tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ sẽ giảm được nhiều. Chính vì vậy tôi luôn trăn trở suy nghĩ tìm tòi học hỏi để nâng cao sự hiểu biết về các món ăn cho hợp lý và khoa học nhằm giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng.

     Ngày nay cùng với sự phát triển chung của đất nước, xã hội mỗi gia đình đều có cuộc sống đầy đủ sung túc hơn, vì vậy trẻ em cũng được hưởng sự chăm sóc đầy đủ đặc biệt của gia đình, thế nhưng luôn có những câu hỏi đặt ra là “con mình vẫn ăn đầy đủ của ngon, vật lạ mà bé vẫn gầy yếu hoặc biếng ăn...”. Vậy chế độ dinh dưỡng cho trẻ như thế nào là hợp lý và khoa học. Với những kinh nghiệm thực tế cùng những kiến thức đã học, để giúp trẻ của trường tôi có sức khỏe tốt và phát triển cân đối hài hòa thì điều trước tiên tôi cần phải tìm tòi, suy nghĩ để tìm ra cách chế biến món ăn phù hợp nhằm giúp trẻ của trường tôi ăn ngon miệng, ăn hết xuất, để cơ thể phát triển một cách toàn diện về các mặt.

     II. Cơ sở lý luận.

     Trong gia đình con cái luôn là mối quan tâm hàng đầu của các bậc cha mẹ, vậy chỉ khi bé lớn lên khỏe mạnh, thông minh, ngoan ngoãn thì gia đình mới có tiếng cười, niềm vui và hạnh phúc. Tuy nhiên công việc chăm sóc trẻ đòi hỏi thời gian và công sức của các bậc cha mẹ, đặc biệt trong cuộc sống hiện đại khi công việc và mối quan hệ xã hội đã chiếm phần lớn thời gian và sức lực của các gia đình thì việc chăm lo bữa ăn hàng ngày của trẻ càng trở lên khó khăn, với kinh nghiệm thực tế của một nhân viên nuôi dưỡng  trong trường mầm non, tôi đã nghiên cứu tìm hiểu trên các phương tiện thông tin đại chúng một số món ăn có nhiều chất dinh dưỡng cho trẻ ăn để phát triển cho trẻ khỏe mạnh và thông minh. Những món ăn đó vừa đơn giản khi chế biến vừa phù hợp với trẻ.

     III. Cơ sở thực tiễn:

     1. Thuận lợi:

- Được sự quan tâm chỉ đạo của phòng giáo dục và đào tạo quận Hoàng Mai, của ban giám hiệu nhà trường.

- Nhà trường có cơ sở vật chất khang trang, bếp rộng rãi thoáng mát theo quy trình bếp một chiều, đầy đủ trang thiết bị hiện đại phục vụ cho công tác chăm sóc bán trú.

- Đội ngũ nhân viên nhiệt tình, yêu nghề mến trẻ, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, đều đã đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn.

-Nhà trường thực hiện ký kết hợp đồng cung ứng thực phẩm với các đơn vị uy tín đã được UBND Quận Hoàng Mai thẩm định.

- 100% trẻ ăn bán trú tại trường. Các bậc phụ huynh lu«n quan tâm, nhiÖt t×nh ñng hé công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ.   

     2. Khó khăn:

- Một số nhân viên trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc chế biến món ăn

- Một số trẻ biếng ăn, ăn không ngon miệng hết xuất nên tỷ lệ trẻ SDD còn cao.

     IV . Mục đích nghiên cứu:

     Chế biến ra những món ăn ngon, giúp trẻ phát triển về thể lực, trí lực

     V. Đối tượng nghiên cứu:

     Chế biến món ăn cho trẻ tại trường mầm non.

     VI. Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp khảo sát.

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu và thực tế.

     VII. Phạm vi nghiên cứu:

     - Nghiên cứu chế biến món ăn cho trẻ mầm non

     VIII. Thời gian nghiên cứu:

     - Thời gian nghiên cứu: Bắt đầu từ tháng 9/2018 - 3/2019

B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

 

CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN

 

    

 

 

Biện pháp 1:  

 

Lựa chọn thực phẩm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm

Biện pháp 2:   

 

Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong quá trình chế biến món ăn

 

Biện pháp 3:  

 

Xây dựng thực đơn phù hợp theo mùa đa dạng các loại thực phẩm

 

Biện pháp 4:  

 

Phối hợp với giáo viên trong việc tổ chức giờ ăn cho trẻ tạo tâm lí thoải mái giúp trẻ ăn ngon miệng hết xuất

Biện pháp 5:   

 

Cải tiến một số món ăn cho trẻ

 

 

 

 

 

 

 

     1. Biện pháp 1: Lựa chọn thực phẩm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm

     Hiện nay do sự phát triển kinh tăng cao nên những thực phẩm từ động vật cũng như thực vật đều chứa nhiều chất bảo quản và chất kích thích.

     Để có nguồn thực phẩm sạch nhà trường đã ký hợp đồng với đơn vị cung ứng thực phẩm sạch, có uy tín, chất lượng đã được UBND quận thẩm định. Hợp đồng cung ứng thực phẩm sạch có các điều khoản chặt chẽ từ khâu vận chuyển thực phẩm đến khâu giao nhận thực phẩm tại bếp ăn của nhà trường, đảm bảo kịp thời, đủ định lượng và chất lượng. Tuy nhiên công tác tham gia kiểm tra giám sát cần phải có sự phối hợp của nhiều thành phần trong nhà trường và cảm quan chất lượng thực phẩm bằng mắt cần lưu ý một số điểm sau.

         - Đối với rau, trái cây nên lựa chọn loại tươi, còn nguyên cuống, không dập nát, không có những đốm màu khác nhau. Những loại rau quả ít dùng thuốc trừ sâu là bầu, bí xanh, bí đỏ, chuối... Thận trọng với những loại rau: rau muống,  rau cải xoong, cải bẹ xanh, cải ngọt, đậu đũa. Không nhận rau đã héo úa, dập nát hay có mùi lạ, có dấu hiệu bất thường như quá mập, quá phồng hoặc dính các hạt bụi nhỏ…

        Đối với những loại thịt chọn như sau: Thịt có màng ngoài khô, màu sắc đỏ tươi hoặc đỏ sẫm, có màu sắc bình thường, sáng, khô. Tránh thịt có màu hơi xanh nhạt hoặc hơi thâm, không bóng, màng ngoài nhớt. Thịt tươi, ngon phải có độ rắn chắc, đàn hồi cao, lấy ngón tay ấn vào thịt, không để lại vết lõm khi bỏ ngón tay ra và không bị dính. Thịt tươi và sạch cần phải không có mùi lạ, mùi ôi thiu hay mùi thuốc kháng sinh.

        Đối với cá và hải sản, tốt nhất nên mua cá tôm đang còn sống, đang bơi trong nước. Cá tươi có miệng ngậm kín. Thân cá rắn chắc, đàn hồi, không để lại vết ấn của ngón tay trên thịt cá. Vảy cá óng ánh, bám chặt thân cá, không có niêm dịch và mùi hôi thối khó chịu. Mang có có màu đỏ hồng, không bị nhớt hay mùi hôi. Trôn cá thụt sâu vào bên trong, có màu trắng nhạt và bụng cá lép. Chọn tôm tép vỏ sáng lóng lánh, dài và trơn láng. Nghêu sò ốc còn sống. Mực nang thì nên chọn mực có thịt trắng như mứt dừa là ngon, mực ống thì nên chọn loại vừa, không qúa lớn, chưa vỡ túi đen. Các loại thủy sản khác nên chọn loại còn tươi, có màu sắc bình thường, đặc biệt không có mùi ươn hôi.

     Nhóm ngũ cốc nguyên hạt như gạo tẻ, gạo nếp, đậu xanh, đậu đen và các nhóm hạt cung cấp chất béo như lạc, vừng, …: Hạt phải khô, không bị ẩm mốc, các hạt đều nhau, trong, không đục, màu săc tự nhiên, không bị biến đổi. Nếu cắn thử thấy hạt giòn, không vỡ vụn. Ngửi mùi có mùi thơm đặc trưng.

     Nhóm sữa và chế phẩm như sữa tươi, sữa tiệt trùng, phomat …: cần chọn sản phẩm có ghi đầy đủ nhãn mác, hạn sử dụng. Sản phẩm màu đặc trưng, không chuyển màu, có mùi thơm của sữa.

     2. Bi n pháp 2: Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong quá trình chế biến món ăn

* V ệ sinh môi trường

      Tăng cường vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi trường không chỉ giúp sạch sẽ mà còn có tác dụng giúp chúng ta tránh được một số bệnh.

        Đối với bản thân tôi và chị em trong tổ bếp luôn chấp hành tốt nội quy nhà bếp: Đầu tóc gọn gang, quần áo, móng tay, móng chân phải sạch sẽ gọn gàng, rửa tay bằng xà phòng, trước khi chia thức ăn, sau khi đi vệ sinh và khi tẩy bẩn trong quá trình chế biến thức ăn cho trẻ, thay dép trước khi vào bếp, có khẩu trang, tạp dề, mũ.  

         Đối với môi trường: Hàng ngày quét dọn bếp và các khu vực gần bếp, khơi thong cống rãnh, hố rác, xử lý rác thải hợp vệ sinh. Chúng tôi thống nhất trong nhà bếp thực hiện nguyên tắc “Làm đậu sạch đây đứng dậy dọn ngay”. Thực hiện tốt đảm bảo tính ngăn nắp, gọn gàng môi trường làm việc.

*Bảo quản thực phẩm:

Các thực phẩm chưa được chế biến ngay cần được bảo quản đúng cách, điều này sẽ giúp không bị mất các chất dinh dưỡng của thực phẩm, đồng thời đảm bảo độ tươi, ngon khi chế biến món ăn. Đối với nhóm tươi sống như rau, quả thì cần bảo quản trong tủ lạnh ở ngăn mát. Đối với nhóm thịt, cá, hải sản nếu chưa chế biến ngay cần bảo quản trong tủ lạnh với nhiệt độ phù hợp.Nhóm trứng, sữa cần để ngăn mát tủ lạnh hoặc nơi mát trong nhà, tránh ánh nắng trực tiếp. Nhóm ngũ cốc, hạt cần để nơi thoáng, khô ráo, tránh ẩm.

*Sơ chế thực phẩm

Sơ chế thực phẩm trước khi chế biến cũng cần đúng cách, với rau xanh cần rửa dưới vòi nước chảy, sục ozôn và không nên ngâm rau quả lâu trong chậu nước tránh mất các vitamin B, C và một số khoáng chất hòa tan vào trong nước. Với hoa quả rửa sạch bằng nước, gọt vỏ, loại bỏ các quả sâu, giập nát. Sơ chế xong cần chế biến ngay, để lâu sẽ làm mất các chất dinh dưỡng như rau quả thái nhỏ để lâu sẽ làm mất vitamin C, beta-caroten...

Nắm rõ loại thực phẩm nào luôn tồn tại sẵn độc tố ở một số bộ phận để có cách sơ chế phù hợp.Chẳng hạn, trong củ khoai tây, độc tố thường tập trung ở mắt nên khi sơ chế phải khoét cạnh mắt rồi ngâm trong nước khoảng 15 phút.

Đối với nhóm thịt, cá tươi cần rửa sạch dưới vòi nước, không ngâm lâu tránh thực phẩm bị trương, rữa.

Với gạo, sau khi vo ta nên tráng nhanh một chậu nước sạch. Chú ý nếu vo kỹ quá sẽ bị mất vitamin và khoáng chất trong gạo.

*Chế biến món ăn :

          Trong quá trình chế biến thực phẩm, để hạn chế hao hụt các chất dinh dưỡng cần thực hiện các nguyên tắc sau:

Sử dụng lượng nước vừa đủ tùy theo số lượng thực phẩm tương ứng với số học sinh để chế biến thì món ăn sẽ ngon, tiết kiệm được thời gian khi chế biến. Với đặc thù của trẻ mầm non cần phải xay, thái nhỏ, om mềm nhừ để phù hợp với khẩu vị của trẻ.

Giảm thời gian nấu ăn: do nhiều vitamin rất nhạy cảm với nhiệt, dễ bị phá hủy trong quá trình nấu, nên cần lưu ý thời gian nấu để tránh thất thoát chất dinh dưỡng. Ví dụ có thể đậy vung khi đun nấu để giúp thực phẩm chín nhanh, giảm thời gian thực phẩm bị tiếp xúc quá lâu với nhiệt.

Trong quá trình chế biến, giảm nhiệt độ ở mức vừa phải giúp hạn chế sự mất đi các chất dinh dưỡng, sự biến đổi các chất dinh dưỡng đặc biệt là nhóm dầu mỡ và vitamin. Ví dụ: khi chế biến món ăn xào rán, chiên cần lưu ý hạn chế nhiệt độ cao trong chế biến.

Mỗi loại thực phẩm đều có nhiều cách chế biến, cách ăn khác nhau. Nếu biết lựa chọn cách chế biến, cách ăn phù hợp sẽ làm giảm tối thiểu lượng các chất dinh dưỡng bị hao hụt của thực phẩm và hạn chế tạo ra các chất bất lợi cho sức khỏe.

       Đối với chất đạm (protein): Khi nướng, rán các loại thực phẩm giàu protein như thịt, cá, trứng, sữa ở nhiệt độc cao quá lâu, giá trị dinh dưỡng của protein giảm đi vì chúng tạo thành các lien kết khó tiêu. Do đó với các thực phẩm giàu chất đạm như thịt, cá, trứng đều phải sử dụng nhiệt dộ trên 70°C, tốt nhất là 100°C để nấu chín và diệt khuẩn.

Đối với chất béo (lipid): Khi đun lâu ở nhiệt độ cao, các axit béo không no sẽ bị oxy hóa làm mất tác dụng dinh dưỡng. Mặt khác, các liên kết kép trong cấu trúc của các axit béo này bị bẻ gãy tạo thành các sản phẩm trung gian như peroxit aldehyt, aldehyt rất có hại đối với cơ thể. Tránh sử dụng lại dầu, mỡ đã qua chiên rán ở nhiệt độ cao.

Đối với nhóm vitamin: Về cơ bản, các vitamin bị tác động bởi nhiệt, còn các khoáng chất không bị tác động bởi nhiệt. Đối với nhóm vitamin (gồm vitamin tan trong nước và vitamin tan trong dầu) thì giữa thực phẩm sống và thực phẩm sau chế biến thì có hàm lượng thường không giống nhau, do nhóm vitamin thường bị hao hụt bởi nhiệt, không khí, nước, chất béo. Một số nghiên cứu cho thấy lượng vitamin mất do quá trình nấu nướng; vitamin C mất 50%; vitamin B1 mất 30%, carotene mất 20%.

Đối với nhóm khoáng chất: Các chất khoáng (canxi, phosphor, kali, magiê …) trong quá trình nấu có thể biến đổi về số lượng do chúng hòa tan vào nước. Vì vậy, khi ăn nên ăn cả cái lẫn nước mới tốt cho sức khỏe.

     3. Biện pháp 3: Xây dựng thực đơn phù hợp theo mùa đa dạng các loại thực phẩm

      Như chúng ta đã biết với mỗi một mùa nào thì đều có những loại thực phẩm phù hợp với mùa đó. Ăn những loại thực phẩm phù hợp với mùa vừa ngon lại không có chất kích thích, chất bảo quản và đó cũng là lý do quan trọng để  xây dựng thực đơn cho trẻ.

      Để có một thực đơn hợp lý và cân đối cho trẻ thì tôi luôn phải phối hợp nhiều loại thực phẩm với nhau trong ngày ở tỷ lệ thích hợp và đảm bảo năng lượng theo lứa tuổi nhằm đảm bảo đầy đủ nhu cầu về năng lượng và các chất dinh dưỡng cần thiết cho trẻ.

      Chế biến các món ăn phù hợp với từng độ tuổi để trẻ ăn được hết xuất, phải cân đỗi tỷ lệ giữa các bữa trưa, chiều, đủ lượng calo, caxi, B1, cân đối giữa các chất P- L- G.

      Nhóm lương thực khi ăn giàu chất đạm, chất béo, nhóm thức ăn Vitamin và khoáng chất không có loại thức ăn nào là dư các chất dinh dưỡng cần thiết cho nhu cầu của cơ thể. Do đó tôi thường chọn cho trẻ ăn những món ăn đa dạng hỗn hợp nhiều loại thực phẩm trong ngày, nhóm thức ăn phải thay đổi từng bữa, từng món ăn cũng cần nhiều gia giảm để làm món ăn them phong phú và hấp dẫn trẻ.

      Bên cạnh việc phối hợp nhiều loại thực phẩm với nhau trong ngày ở tỷ lệ thích hợp thì tôi cũng rất chú trọng tới việc xây dựng thực đơn theo mùa như: Mùa hè nóng bức thì nhu cầu về các món có nhiều nước tăng lên, những món như canh riêu, canh cua, canh chua, bún, phở…trẻ rất thích. Còn về mùa đông thời tiết lạnh tôi có thể sử dụng các món xào, hầm nhừ, kho, xốt nhiều hơn như thịt trứng chim cút kho tàu, thịt lợn thịt bò hầm củ quả, canh củ quả nấu thịt lạc vừng…

      Những thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật mà tôi đã lựa chọn đưa vào xây dựng thực đơn đều có giá trị dinh dưỡng cao: Những loại thực phẩm rau, củ, quả, rau ngót, rau dền, bí đỏ, cà rốt, bí xanh, bắp cải, cà chua, khoai tây, su hào…

      Đặc biệt nhất là nhóm thực phẩm: rau ngót, rau dền, bí đỏ, cà rốt là những loại thực phẩm trong đó chứa rất nhiều Vitamin C đối với trẻ em có thể phòng ngừa bệnh thiếu máu, khô mắt và có khả năng chống ung thư.

       Những loại thực phẩm có nguồn gốc động vật như: Thịt bò, thịt lợn, thịt gà, trứng, cá là những loại thực phẩm trong đó có chứa rất nhiều Protein, hàm lượng Protein của các loại thực phẩm này đều sấp xỉ ngang nhau về chất lượng có đầy đủ các Axit, amin cần thiết ở tỷ lệ cân đối nên trong thực đơn mà tôi xây dựng đều phải có thịt, trứng, cá. Vì vậy mà bữa ăn chính của trẻ luôn được tô màu, nhằm đảm bảo được nhóm thức ăn hàng ngày của trẻ.    

      Để có một khẩu phần ăn cân đối cho trẻ, cần phải phối hợp nhiều loại thực phẩm với nhau trong ở tỷ lệ thích hợp và đảm bảo năng lượng theo lứa tuổi. Đảm bảo đầy đủ nhu cầu về năng lượng các chất dinh dưỡng cần thiết cho trẻ. Nhà trường nghiêm túc xây dựng thực đơn, khẩu phần ăn cho trẻ ở các độ tuổi đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng theo quy định tại Thông tư số 28/2016/TT-BGDĐT ngày 30/12/2016 của Bộ GD& ĐT về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Chương trình GDMN. Về thực đơn: Thực hiện thực đơn riêng của từng lứa tuổi. Chú trọng chế biến, phối hợp món ăn hợp lý, bữa chính đáp ứng tiêu chuẩn có trên 10 loại thực phẩm, trong đó có từ 3 đến 5 loại rau, củ và bao gồm các món: cơmmón xào, món mặn, canh và tráng miệng. Tỷ lệ dinh dưỡng duy trì ở mức: P:15 - 25% (Tỷ lệ L động vật/ L thực vật= 70% và 30%); L: 25 - 35%; G: 45- 52%, tỷ lệ Ca, B1 trong thực đơn bữa ăn của trẻ và cân đối kịp thời phù hợp với mức tiền ăn 25.000đ/trẻ/ngày.

     4. Biện pháp 4: Phối hợp với giáo viên trong việc tổ chức giờ ăn cho trẻ tạo tâm lí thoải mái giúp trẻ ăn ngon miệng hết xuất

     Để tổ chức giờ ăn cho trẻ đạt kết quả cao, trẻ ăn ngon miệng, ăn hết xuất tôi đã kết hợp cùng giáo viên tổ chức giờ ăn cho trẻ, qua đây tôi cũng được chăm sóc cho trẻ, xem trẻ ăn có ngon miệng không. Để giờ ăn đạt hiệu quả cao tôi cùng giáo viên trên lớp giới thiệu món ăn của ngày hôm nay là món gì và món ăn hôm nay được phối hợp các nguyên liệu thực phẩm như thế nào, bên cạnh đó tôi cùng giáo viên còn động viên trẻ ăn hết xuất, tham kham khảo ý kiến các cháu “ Hôm nay các con ăn món này có ngon miệng không” để cùng điều chỉnh thực đơn.

- Đối với trẻ có tình trạng béo phì thì cho các cháu ngồi riêng bàn chia cơm cho trẻ 2 bát thành 3 bát để cho trẻ có cảm giác ăn được nhiều và tăng cường cho trẻ ăn nhiều rau xanh.

Hỗ trợ giáo viên trên lớp tuyên truyền về công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, giáo dục trẻ bằng nhiều hình thức như: Tổ chức cho trẻ chơi “ Bé tập làm nội trợ’, xây dựng góc học tập tranh ảnh. Tôi giới thiệu cho trẻ hiểu them về việc làm hàng ngày của các cô bác tổ nuôi và động viên trẻ ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng, dán bảng theo dõi sức khoẻ của trẻ hàng tháng ở cửa lớp để tuyên truyền với các bậc phụ huynh học sinh.

     5. Bi n pháp 5: Cải tiến chế biến một số món ăn cho trẻ.

     Muốn để trẻ ăn ngon miệng không có cảm giác chán, ăn hết xuất, tổ nuôi chúng tôi đã thường xuyên thay đổi cách chế biến món ăn, học hỏi kinh nghiệm để nâng cao chất lượng các món ăn đưa món xào vào thực đơn  sao cho hợp khẩu vị với trẻ. Mặc dù vẫn cùng một loại thực phẩm, định lượng tiêu chuẩn của trẻ ăn không thay đổi nhưng chúng tôi chỉ thay đổi cách chế biến, hay tẩm ướp gia vị khác nhau sẽ được một món ăn có mùi vị khác tạo sự hứng thú cho trẻ.

     Dưới đây là một số ví dụ về món ăn mà chúng tôi đang áp dụng trong trường mầm non:

TUẦN 1

THỨ

BỮA CHÍNH SÁNG

BỮA PHỤ CHIỀU

MÓN MẶN

MÓN CANH

MÓN XÀO

TRÁNG
 MIỆNG

QUÀ CHIỀU

UỐNG
SỮA

2

Cơm tẻ

Gà sốt kem

Canh rau nấu cua

 

Caramen

Phở bò

Sữa tươi

3

Cơm tẻ

Tôm thịt
nấu cari

Canh rau nấu xương

Su su cà rốt
xào thịt

Sữa chua

Súp thập cẩm

Sữa bột

4

Cơm tẻ

Trứng cút kho thịt

Canh khoai tây cà rốt nấu xương

 

Váng sữa

Phở gà

Sữa bột

5

Cơm tẻ

Thịt bò, lợn sốt vang

Canh bí xanh nấu xương

 

Hoa quả

Cháo gà sen xanh

Sữa bột

6

Cơm tẻ

Cá thịt xào nấm

Canh rau nấu xương

 

Sữa chua

Bánh hải hà

Sữa bột

TUẦN 2

THỨ

BỮA CHÍNH SÁNG

BỮA PHỤ CHIỀU

MÓN MẶN

MÓN CANH

MÓN XÀO

TRÁNG
 MIỆNG

QUÀ CHIỀU

UỐNG
SỮA

2

Cơm tẻ

Thịt bò , lợn xào thập cẩm

Canh rau nấu cua

 

Caramen

Phở gà

Sữa tươi

3

Cơm tẻ

Thịt, cá thu sốt cà chua

Canh rau củ nấu xương

Cải thảo xào nấm

Sữa chua

Bánh bao

Sữa bột

4

Cơm tẻ

Gà, lợn hầm hạt sen phô mai

Canh rau nấu xương

 

Váng sữa

Bánh đa cá

Sữa bột

5

Cơm tẻ

Thịt rim tôm sú

Canh củ quả nấu sườn

 

Hoa quả

Cháo chim câu

Sữa bột

6

Cơm tẻ

Thịt bò, lợn sốt chanh leo

Canh bí xanh nấu tôm

 

Sữa chua

Bánh hải hà

Sữa bột

TUẦN 3

THỨ

BỮA CHÍNH SÁNG

BỮA PHỤ CHIỀU

MÓN MẶN

MÓN CANH

MÓN XÀO

TRÁNG
 MIỆNG

QUÀ CHIỀU

UỐNG
SỮA

2

Cơm tẻ

Gà om nấm

Canh củ
quả nấu xương

 

Caramen

Bún bò

Sữa tươi

3

Cơm tẻ

Cá thịt
 sốt me

canh rau cải
 nấu xương cá

Bí đỏ xào thịt

Sữa chua
ba vì

Súp thập cẩm

Sữa bột

4

Cơm tẻ

Lươn thịt
 om thập cẩm

Canh rau nấu xương

 

Váng sữa
milk 100

Bún mọc thịt

Sữa bột

5

Cơm tẻ

Thịt bò lợn
 hầm khoai tây

Canh mướp mùng tơi nấu cua

 

Hoa quả

Cháo gà
 sen xanh

Sữa bột

6

Cơm tẻ

Tôm thịt
sốt chua ngọt

Canh bí xanh
 nấu xương

 

Sữa chua

Bánh hải hà

Sữa bột

TUẦN 4

THỨ

BỮA CHÍNH SÁNG

BỮA PHỤ CHIỀU

MÓN MẶN

MÓN CANH

MÓN XÀO

TRÁNG
 MIỆNG

QUÀ CHIỀU

UỐNG
SỮA

2

Cơm tẻ

Mực thịt
 sốt cà chua

Canh khoai tây cà rốt nấu xương

 

Caramen

Phở bò

Sữa tươi

3

Cơm tẻ

Gà lợn rim gừng

Canh củ quả nấu xương

Bí xanh cà rốt xào thịt

Sữa chua

bánh bao

Sữa bột

4

Cơm tẻ

Cá thịt
sốt mayonaise

Canh cải
 nấu xương cá

 

Váng sữa

Cháo
chim câu

Sữa bột

5

Cơm tẻ

Thịt bò lợn
 hầm  cari

Canh bí (bầu) nấu xương

 

Hoa quả

Bún thịt nấu chua

Sữa bột

6

Cơm tẻ

Tôm xào thập cẩm

Canh rau nấu cua

 

Sữa chua

Bánh hải hà

Sữa bột

C. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

     1. Những kết quả đạt được:

- Nhờ sự nỗ lực của bản thân, lòng yêu nghề hay tìm tòi các cách chế biến món ăn kết hợp với các biện pháp khoa học như trình bày ở trên, tôi cùng các chị em trong tổ bếp làm việc với tinh thần trách nhiệm cao đã hoàn thành tốt công việc nuôi dưỡng của mình cũng như tiêu trí của trường đã đề ra đó là: Thực hiện“Bếp ăn 5 tốt” và  “10 nguyên tắc vàng” để chế biến món ăn an toàn cho trẻ.

- Trẻ phát triển cân đối, hài hòa, hoạt bát, tích cực vào các hoạt động của lớp và các hoạt động hàng ngày.

Bảng so sánh kết quả khảo sát trước và sau khi thực hiện đề tài

STT

Nội dung khảo sát

 Tháng 9/2018

 Tháng 2/2019

Số trẻ

Tỷ lệ %

Số trẻ

Tỷ lệ %

1

Trẻ ăn uể oải, kén chọn thức ăn, ăn không hết xuất

139/784

17,8%

64/779

8,3%

2

Trẻ hào hứng vào bữa ăn, ăn ngon miệng không kén chọn, ăn hết xuất

645/784

82,2 %

715/779

 91,7 %

     2. Bài học kinh nghiệm.

Qua quá trình thực hiện đề tài và kết quả đạt được bản thân tôi đã rút ra được một số bài học kinh nghiệm sau:

- Là một nhân viên nuôi dưỡng tôi đã có được chuyên môn và nghiệp vụ vững chắc, tôi luôn luôn không ngừng học hỏi, tự rèn luyện mình, năng động, sáng tạo, đúc rút kinh nghiệm, cải tiến công việc của mình để nâng cao chất lượng.

- Khi tiến hành nội dung biện pháp thực hiện đối chiếu với trường của mình có hiệu quả rất cao trong việc chăm sóc nuôi dưỡng và nhất là những kinh nghiệm để chế biến ra những món ăn ngon, hợp khẩu vị cho các cháu ở trường mầm non.

- Cùng phối hợp các chị em trong tổ nuôi để cùng tiến bộ đi lên và được sự tín nhiệm của toàn trường cũng như theo kế hoạch nhiệm vụ năm học.

- Với sự tâm huyết và sự yêu thích công việc của mình, tôi luôn suy nghĩ lắng nghe ý kiến của các cấp lãnh đạo, các chị em đồng nghiệp và các sách nấu ăn xem trên báo chí truyền thông khoa học về chăm sóc nuôi dưỡng trẻ. Luôn tham khảo thực đơn của các trường bạn để điều chỉnh thực đơn cho hợp lý, cân đối phù hợp với giá cả thị trường để trẻ được ăn ngon miệng, hết xuất.

- Được sự tín nhiệm của các chị em trong tổ nuôi và ban giám hiệu nhà trường, tôi rất vinh dự và tự hào đã được đi dự thi “ngày hội dinh dưỡng của bé”. Qua đợt thi này tôi cũng học hỏi được ở các trường bạn một số thực đơn và cách chế biến món ăn ngon, từ đó cũng rút ra được nhiều kinh nghiệm cho bản thân.

     3. Khuyến nghị , đề xuất.

     Phòng giáo dục và đào tạo quận tổ chức các buổi đi kiến tập tại các trường mầm non trong quận để tôi có điều kiện được học hỏi tìm hiểu thêm một số kinh nghiệm chế biến món ăn cho trẻ để trẻ trường tôi ngày càng được chăm sóc hơn, khỏe mạnh hơn.

thời tiết các vùng

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

Bình chọn

Đánh giá thái độ tiếp công dân của cán bộ Một cửa quận