TIN TỨC KHÁC

Trường Mầm non Vĩnh Hưng: Một số biện pháp giúp trẻ 24-36 tháng phát triển ngôn ngữ trong hoạt động nhận biết
Ngày đăng 09/09/2019 | 09:32  | View count: 435

Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp giúp trẻ 24-36 tháng phát triển ngôn ngữ trong hoạt động nhận biết

A. ĐẶT VẤN ĐỀ

     I. Lý do chọn đề tài

     Như chúng ta đã biết “Làm quen văn học” là một trong các hoạt động học tập của trẻ ở trường Mầm non , Trẻ mầm non là lứa tuổi đang “học ăn, học nói” chưa biết đọc, biết viết, việc cho trẻ làm quen văn học còn có ý nghĩa lớn lao ở phương diện phát triển lời nói của trẻ. Vì ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học nên phải tiếp xúc với văn học, ngoài ra còn phải tiếp xúc với môn học thì còn có ý nghĩa tiếp xúc với nghệ thuật ngôn từ. Như vậy trẻ sẽ làm quen với những hình tượng ngôn ngữ trong sáng, những từ ngữ trong sáng, biểu cảm (Như “E.U Tri-Kêê- va” nhà giáo dục mẫu giáo Liên Xô (cũ) khẳng định rằng trẻ em học được rất nhiều tiếng mẹ đẻ qua văn học. đặc biệt là văn học dân gian. Nhưng phát triển lời nói không phải là mục đích duy nhất của việc cho trẻ làm quen với văn học. Đối với trẻ mầm non, văn học như những bài học đầu tiên về cuộc sống , về con người. Qua việc cho trẻ làm quen văn học chính là hình thành cho trẻ những tình cảm đạo đức tốt đẹp, những cảm xúc thẩm mỹ phát triển trí tưởng tượng như lòng yêu thiên nhiên như cỏ, cây, hoa lá, lòng kính trọng yêu thương những người gần gũi và giúp đỡ những người xung quanh như ông, bà , bố, mẹ, cô giáo. Thông qua hoạt động này trẻ làm tái tạo sáng tạo thêm những tình tiết của tác phẩm một cách hồn nhiên phù hợp với nội dung tác phẩm. Thông qua sự hiểu biết trí tưởng tượng của trẻ đồng thời trẻ thuộc thơ, sẽ kể lại chuyện được. Chính vì thế đạt được mục đích của môn học. Làm quen văn học bản thân tôi đã nghiên cứu, suy nghĩ, lựa chọn những phương pháp, biện pháp linh hoạt để hướng dẫn trẻ vào hoạt động. Đối với bản thân tôi dạy lớp nhà trẻ trong các bộ môn thì với môn làm quen văn học tôi đã nhận thấy vốn từ của trẻ còn rất hạn chế. Đứng trước tình hình đó, bản thân tôi luôn trăn trở một suy nghĩ là mình phải có biện pháp thế nào ? Để thực hiện giờ làm quen văn học được tốt hơn, đạt hiệu quả hơn.

- “Phát triển nhận thức tuổi mầm non là một bộ phận quan trọng của giáo dục học mầm non”. Nhận thức là một sản phẩm độc quyền của con người. nó chỉ được hình thành, tồn tại và phát triển trong xã hội loài người, do ý muốn và nhu cầu của con người. Nhận thức là phương tiện quan trọng nhất giúp con người có thể hiểu được con người và hiểu các vật khác.

- Để nhận thức có hiệu quả, trẻ em phải học cách tham gia vào các hoạt động trải nghiệm. Thêm vào đó trẻ phải biết diễn đạt bằng cử chỉ, điệu bộ, bằng giọng nói và vận dụng ngữ cảnh để giao tiếp. tính thực tiễn còn được quy định bởi cách giao lưu, cách sử dụng ngôn ngữ, sử dụng vốn từ để giao lưu và giao tiếp thành thạo trẻ em còn phải học tập cách thức giao lưu trong xã hôi nhất định theo các cấp bậc tuổi tác, quan hệ xã hội, cách chào hỏi, cách làm quen.

- Trẻ 24-36 tháng tuổi vốn từ còn ít có trẻ còn chưa nói được. Một số trẻ chưa được quan tâm tạo điều kiện tiếp xúc, trò chuyệnđể làm tăng nhận thức cho trẻ ở độ tuổi này không được đến trường mầm non vì điều kiện, hoàn cảnh nào đó, cho nên không được học lẫn nhau, không học với nhau trong khi chơi, khi nghe mọi người nói chuyện, không được nghe cô kể chuyện, không được nói, phát triển nhận thức trong môi trường sống thực của nó.

- Qua hoạt động nhận biết trẻ học được các từ chỉ tên gọi dồ vật, sự vật, hành động, hiện tượng, các từ chỉ đặc điểm, tính cách, công dungj và các từ biểu cảm. Nghe và hiểu nội dung các câu đơn, câu mở rộng. Trẻ biết dung từ để bày tỏ tình cảm, nhu cầu và kinh nghiệm của bản thân bằng các câu đơn, câu mở rộng. Trẻ trả lời và đặt các câu hỏi Ai? Cái gì? Ở đâuu? Khi nào? Để làm gì?Noz như thế nào?

- Trẻ biết sử dụng các từ biểu thị sự lễ phép, nói và thể hiện cử chỉ, điệu bộ, nét mặt phù hợp với yêu cầu, hoàn cảnh giao tiếp, kể lại sự việc theo trình tự thời gian. Biết mô tả đồ dung, đồ chơi, tranh ảnh mô tả sự vật, hiện tượng, kể chuyện theo tranh, theo kinh nghiệm.

- Từ những vấn đề trên, tôi chọn đề tài: “ Một số biện pháp giúp trẻ 24-36 tháng phát triển ngôn ngữ trong hoạt động nhận biết” Làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm của mình để áp dụng vào công tác giảng dạy tại lớp, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho trẻ.

     II. Mục đích nghiên cứu:

     Nhằm mở rộng, phát triển nhận thức cho trẻ nhà trẻ 24-36 tháng tuổi. Để cho môn “Làm quen văn học” đạt được hiệu quả cao, rèn luyện được kỹ năng kể chuyện, đọc thơ cho trẻ, tôi đã lựa chọn và tìm hiểu kỹ một số biện pháp nhằm giúp trẻ học tốt môn “Làm quen văn học”. Để rèn luyện kỹ năng trẻ nắm được nội dung câu  chuyện, đọc thơ, diễn cảm, nói mạch lạc đủ câu cho trẻ thì bản thân tôi sử dụng các phương pháp chủ yếu là phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan đàm thoại, dùng lời nhưng phương pháp dùng lời là sử dụng xuyên suốt đối với trẻ. Để thực hiện được vấn đề trên tôi chú ý đến từng đặc điểm tâm sinh lý của trẻ tạo điều kiện cho trẻ cùng học, cùng chơi với nhau, trẻ nhanh nhẹn, linh hoạt sẽ cùng giúp đỡ những trẻ yếu hơn. Như vậy dần dần trẻ sẽ hoạt động tích cực hơn.

     III. Đối tượng nghiên cứu: Phát triển nhận thức cho trẻ thông qua làm quen với văn học nhà trẻ 24-36 tháng tuổi

     IV. Phạm vi nghiên cứu: Trẻ nhà trẻ 24- 36 tháng

                                               Học sinh lớp nhà trẻ 1

     V. Phương pháp nghiên cứu.

     1. Nghiên cứu lý luận: Đọc, sử dụng và tổng hợp các tài liệu có liên quan đến dề tài, chỉ ra được các biện pháp tốt nhất để phát triển nhận thức cho trẻ 24-36 tháng tuổi thông qua cho trẻ làm quen văn học.

     2. Trò chuyện với giáo viên, phụ huynh và đặc biệt với trẻ tại trường để tìm ra những biện pháp thiết thực nhất.

     3. Quan sát, ghi chép các hoạt động nhằm phát triển nhận thức cho trẻ, thông qua việc làm quen văn học.

B . GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

     I . Cơ sở lý luận

     Để hoạt động “làm quen văn học”đạt hiệu quả cần đòi hỏi chúng ta phải biết nhiều những biện pháp, phương pháp, đặc điểm tâm sinh lý của từng trẻ, nội dung để áp dụng trong quá trình giảng dạy và sử dụng các phương pháp (đàm thoại, trực quan, dùng lời…) và các biện pháp (như kết hợp với phụ huynh, dạy mọi lúc mọi nơi, tuyên dương, khen ngợi…). Thông qua việc dạy trẻ làm quen với hoạt động văn học là giúp trẻ tiếp nhận những ngoại hình nghệ thuật, giúp trẻ phát triển các khả năng trí tuệ, sự tưởng tượng phát triển ngôn ngữ mạch lạc. Để nâng cao chất lượng học tập của cháu tôi đã theo dõi và tìm hiểu nguyên nhân một số cháu còn học quá yếu môn văn học là do trẻ lần đầu tiên được đến trường, một phần nữa là ba mẹ các cháu thuộc gia đình nông thôn nên rất khó khăn, vất vả, ít quan tâm, chú ý đến việc chăm sóc trẻ .

     2. Cơ sở thực tế

- Dạy trẻ “Làm quen với văn học” là nhằm giúp trẻ hình thành khả năng cảm thụ và khả năng bộc lộ cảm xúc trước các câu chuyện, bài thơ, các bài ca dao, đồng dao… xuất phát từ chính nội dung nghệ thuật của các nhà thơ, câu chuyện, ca dao và phải phụ thuộc vào phương pháp, hình thức của việc tổ chức cho trẻ làm quen văn học lứa tuổi nhà trẻ. Vì vậy hoạt động làm quen văn học là một trong những hoạt động để hình thành và rèn luyện khả năng làm giàu vốn từ, phát âm đúng, dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, nói mạch lạc, với ý nghĩa và mục đích đó đầu năm học 2018-2019 tôi đã khảo sát kết quả học tập của lớp tôi về môn học này và có kết quả như sau: Kỹ năng phát âm kỹ năng nói kỹ năng đọc thơ & kể chuyện.

- Cung cấp đồ chơi, nguyên liệu mới, những câu chuyện, bài thơ cho trẻ ở mọi lúc, mọi nơi đồng thời hỗ trợ trẻ hoạt động trải nghiệm, khám phá tạo cơ hội cho trẻ sử dụng các giác quan để tìm hiểu khám phá thế giới xung quanh: Trò chuyện với trẻ về những gì trẻ nhìn thấy, nghe thấy, sờ, ngửi, nếm, chia sẻ trẻ với thế giới xung quanh. Được tiến hành tích hợp vào các hoạt động chơi mà học, học mà chơi vào tất cả các hoạt động của trẻ

     II. Thực trạng

    1. Thuận lợi

     a. Về nhà trường

+ Lớp có địa điểm tốt, rộng rãi, thoáng mát. Phòng học được dảm bảo thông thoáng sạch sẽ có nhiều không gian mở, đảm bảo an toàn cho trẻ.

+ Được sự quan tâm tạo điều kiện của BGH nhà trường. lớp nhà trẻ 1 có đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị đồ dung đồ chơi. Phục vụ cho các môn học phù hợp và đủ các tài liệu tham khảo để đảm bảo đủ điều kiện thực hiện chương trình.

+ Lớp được trang bị đầy đủ cở sở vật chất, máy tính, ti vi, đồ chơi các góc phù hợp lứa tuổi.

+ Trang thiết bị học liệu đồ dùng, đồ chơi đa dạng phong phú về âm thanh, màu sắc, kích thước, chất liệu, có đủ học phẩm cho trẻ theo quy định.

     b. Về giáo viên

- Lớp nhà trẻ 1 do 3 cô giáo phụ trách:

- Các cô tận tâm với nghề, có ý thức học hỏi các kiến thức để từ đó trau dồi thêm cho mình các kiến thức như tham gia các buổi học chuyên đề, các buổi học trọng tâm của năm học, các lớp công nghệ thông tin.

- Được học các lớp bồi dưỡng chuyên môn do phòng giáo dục và đào tạo quận Hoàng Mai và nhà trường tổ chức.

- Các cô có khả năng xây dựng môi trường lớp và các góc chơi, góc chuyên đề,  bảng tuyên truyền với phụ huynh đẹp phù hợp với chủ điểm, với các mùa trong năm.

- Giáo viên luôn cố gắng làm tốt công tác xã hội, phối kết hợp với toàn bộ các bậc phụ huynh của lớp. Để cùng với phụ huynh kết hợp chăm sóc giáo dục trẻ một cách tốt nhất và có khoa học.

     c. Về trẻ

- Tổng số học sinh lớp: 45 trẻ

- Trẻ ngoan, cùng độ tuổi, nhút nhát, hồn nhiên.

     d. Về phụ huynh học sinh

- Phụ huynh quan tâm ủng hộ. Tạo điều kiện tốt về cơ sở vật chất, đồ dùng học liệu cho cô và trẻ

Phối kết hợp với nhà trường, lớp để có những biện pháp tốt nhất trong việc chăm sóc và giáo trẻ.

     2. Khó khăn

- Cần nhiều đồ chơi đồ dùng có tính sáng tạo, đẹp hấp dẫn trẻ hơn nữa.

- Nhiều trẻ đầu năm vẫn chưa tích cực và chủ động trong các hoạt động làm quen văn học, tạo hình, nhận biết…

- Khả năng tiếp thu kiến thức và nhận thức của trẻ còn hạn chế.

- Một số trẻ phát âm chưa rõ: Ngọc Khánh, Đức Huy, Gia Huy…

- Một số trẻ nhận thức còn hạn chế chứ tập chung trong các hoạt động: Bình Minh, Minh Khang, Trung Kiên…

     3. Khảo sát đầu năm:

 

Mức độ

 

Số trẻ

 

Tính %

Trẻ nhận thức tốt

28

62 %

Trẻ nhận thức chậm

15

33 %

Trẻ chưa nhận thức được

2

5 %

     III. Các biện pháp

  

Nội dung các phương pháp

Biện pháp 1: Thường xuyên nghiên cứu kỹ bài soạn, soạn bài: Trước khi dạy, làm, mua sắm, sưu tầm đủ đồ dùng, đồ chơi phong phú hấp dẫn với trẻ và đảm bảo tính khoa học

Biện pháp 2:

Giáo viên tạo điều kiện dạy cho trẻ ở mọi lúc, mọi nơi một cách thường xuyên.

Biện pháp 3:

Sử dụng một số biện pháp khơi gợi hứng thú của trẻ đến với câu chuyện, thơ, ca dao.

Biện pháp 4:

Lấy trẻ làm trung tâm

Biện pháp 5:

Tuyên truyền kết hợp với phụ huynh phát triển nhận biết cho trẻ.

     1. Biện pháp 1:Thường xuyên nghiên cứu kỹ bài soạn, soạn bài: Trước khi dạy, làm, mua sắm, sưu tầm đủ đồ dùng, đồ chơi phong phú hấp dẫn với trẻ và đảm bảo tính khoa học.

- Với tất cả các môn học ở chương trình mẫu giáo đặc biệt là môn làm quen văn học lứa tuổi nhà trẻ là một môn học mà đòi hỏi cô giáo cần phải nghiên cứu, tìm hiểu kỹ bài trước khi dạy.

+ Đối với chuyện thì cô giáo cần phải đọc nhiều lần để thuộc nội dung câu chuyện để phân chia từng đoạn trong câu chuyện để vẽ tranh, đưa ra hệ thống câu hỏi phù hợp với trẻ. Theo phương châm “Lấy trẻ làm trung tâm”. Để phát huy trí tưởng tượng những cảm xúc của trẻ, tính liên hệ thực tiễn sáng tạo phù hợp với từng nội dung của bài mà trẻ không bị áp đặt một cách gò bó. Bên cạnh đó để thu hút, lôi cuốn trẻ vào giờ học tôi lựa chọn các hình thức tổ chức phù hợp, hấp dẫn như qua tổ chức hội thi “Bé yêu thơ, bé thích nghe kể truyện” hình thức tại lớp, được thể hiện qua câu đố, tham quan đặc biệt là chọn những hình ảnh thật, đẹp, sinh động và hình ảnh động, những nhân vật ngộ nghĩnh sáng tạo đưa vào công nghệ thông tin để trẻ hòa nhập, hóa thân vào các nhân vật trong tác phẩm mà tôi đã lồng ghép được. Để rồi từ chỗ trẻ chăm chú xem, lắng nghe cô giới thiệu dẫn đến trẻ nắm bắt nội dung tiết học một cách chủ động.

 - Cùng với từng bài dạy tôi dùng các thủ thuật khác nhau để dẫn dắt vào bài chuyển hoạt động một cách linh hoạt ví như trong tiết truyện “Hai chú dê con” khi tiến hành hoạt động tôi cho trẻ chơi “Con gì biến mất’ hỏi trẻ “Con gì biến mất” vậy con trẻ trả lời và sau đó cô giới thiệu dẫn dắt vào và kể chuyện cho trẻ nghe không có tranh bằng giọng kể của cô, sau đó cô kết hợp cho trẻ trí giác bằng tranh, con rối từ đó trẻ nhận thấy, phân tích tính cách nhân vật, biết đâu là  là tốt, xấu, để trẻ hướng tới cái đích mà trẻ cần làm đó là biết nhườn nhịn, yêu thương giúp đỡ.

VD:Trong giờ làm quen văn học truyện: “ Vì sao thỏ cụt đuôi” của trẻ nhà trẻ 24- 36 tháng tuổi. Đầu tiên tôi đã cho trẻ được xem một màn ảo thuật đoán tên các nhân vật trong truyện. Tiếp theo trẻ được xem câu chuyện bằng sa bàn xoay kết hượp rối tay. Tôi đã kết hợp đàm thoại câu chuyện trên sa bàn.

  • Trẻ biết được tên câu chuyện?
  • Nội dung câu chuyện?
  • Các nhân vật có trong truyện?
  • Diễn biến của câu chuyện ntn?
  • Giảng giải từ khó trong truyện?
  • Trẻ làm được một vài hành động của Thỏ và Nhím?

- Cuối cùng trẻ hiểu được câu chuyện  muốn nói đến Thỏ và Nhím rủ nhau đi chơi. Thỏ vì chạy băng qua đường mà bị ô tô đâm cụt đuôi. Nhím chạy lại đỡ bạn, Thỏ rất hối hận vì đã chạy qua dường.

- Bài học mang lại là: Khi ra đường hoặc muốn băng qua đường chún ta phải có người lớn đi cùng và dắt qua đường và không nên đi một mình khi băng qua đường. 

VD: Trong giờ nhận biết tập nói, quan sát và trò chuyện về quả cam của trẻ nhà trẻ 24-36 tháng tuổi. Tôi đã cho trẻ quan sát quả cam thật. Trước tiên tôi để trẻ tự khám phá về quả cam sau đó tôi hỏi trẻ để tìm hiểu sự hiểu biết của trẻ: “ Đây là quả gì? Vỏ của quả cam như thế nào? Cho trẻ sờ vỏ quả cam. Vị của quả cam như thế nào? Cho trẻ nếm thử quả cam”. Từ những câu hỏi tôi đã cung cấp cho trẻ những vốn từ: “ Quả cam, màu vàng, màu xanh, sần sùi, ngọt, chua...” Tôi sẽ chốt lại những đặc điểm nội bật của quả cam để trẻ nhận thức được hình ảnh rõ ràng.

- Sử dụng đò chơi để phát triển nhận thức cho trẻ. Phải sử dụng đồ dùng đồ chơi phù hợp với lứa tuổi, ở nhà trẻ các câu chuyện, bài thơ cần có hình ảnh sáng sủa và bắt mắt, đẹp, tạo được tính tò mò và ham tìm hiểu khám phá của trẻ. Cũng có thể là những đồ dùng đồ chơi được giấu kín và lần lượt đưa ra kích thích trí tò mò, khám phá của trẻ.

- Ngoài việc cho trẻ làm quen với mẫu thật, vật thật. Tôi còn chú trọng vào việc xây dựng môi trường lớp học đẹp, hấp dẫn trẻ tôi cũng tận dụng việc khơi gợi, cung cấp vốn từ cho trẻ.

     2. Biện pháp 2: Giáo viên tạo điều kiện dạy cho trẻ ở mọi lúc, mọi nơi một cách thường xuyên.

- Ngoài những hoạt động chung của tiết học làm quen với văn học tôi luôn tạo điều kiện cho trẻ được tiếp xúc và củng cố tích lũy những biểu tượng mà cô đã cung cấp cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi như dạo chơi ngoài trời, xem tranh ảnh, cho trẻ quan sát các sự vật, hiện tượng thiên nhiên trong cuộc sống, trong các môn học khác, trong vui chơi đồng thời đặt nền móng cho giờ học sau đạt hiệu quả cao hơn.

VD: Khi dạy bài thơ: “Hoa nở” cô cho trẻ đến gần các chậu hoa hay ở vườn hoa ở sân trường và nói, cô đố các con xung quanh chúng ta có những gì ? Hoa có những màu gì ? Hoa có ích lợi gì ? Hoa có rất là nhiều lợi ích như hoa dùng để trang trí, làm đẹp, còn tặng nhân những ngày lễ vậy có một bài thơ rất hay nói về hoa để tặng cô giáo đó là bài thơ “Hoa nở”. Bên cạnh việc quan sát , khi xem tranh cô giáo cần vẽ những bức tranh sát với nội dung bài và màu sắc hài hòa. Cô đặt cho trẻ quan sát và hiểu nội dung bức tranh. Như vậy trẻ đã khắc sâu vào tâm trí sẽ mau thuộc. Ngoài những hoạt động chung thì tôi còn áp dụng vào hoạt động góc, hoạt đồng chiều. Cứ mỗi chủ điểm cô lên kế hoạch cụ thể cho phù hợp để bổ sung cho hoạt động có chủ đích như vậy đem lại hiệu quả cao.

VD: Ở giờ hoạt động có chủ đích tôi cho trẻ đọc thơ “Cô và mẹ” hoặc dạy các bài đồng giao “nu na nu nống” khi cô tổ chức hoạt động góc, hoạt động chiều cô đọc các bài thơ, đồng dao, hoặc cô lại cùng tham gia chơi với trẻ như kể chuyện cho trẻ nghe.

 - Bên cạnh đó ở hoạt động chiều và hoạt động ngoài trời cũng vậy tôi sẽ cho cả lớp cùng tham gia đọc thơ trong chương trình, ngoài chương trình luyện đọc theo nhiều hình thức lớp tổ, các nhân, thi đua giữa các tổ. Như vật tất cả các trẻ đều hoạt động và hứng thú hơn trong giờ học ở hoạt động có chủ đích. Ngoài tiết thơ thì kể chuyện cũng vậy bằng cách tôi kể cho trẻ nghe hết cả câu chuyện, hoặc cô kể từng đoạn trẻ kể tiếp hoặc kể theo sự trí nhớ của trẻ. Qua các giờ hoạt động như vậy thì cô giáo phải tuyên dương, khen ngợi, động viên kịp thời sau mỗi lần trẻ đọc thơ, hoặc kể chuyện. Với các biện pháp trên thì phương pháp dạy học tích cực là một vấn đề cần phải quan tâm trong giờ hoạt động này. - Một số trẻ mới đi học ở độ tuổi này trẻ chưa bao giờ tiếp xúc những bài thơ, bài ca dao, đồng dao, câu chuyện trong chương trình nhà trẻ nên trẻ không cảm nhận được cảm xúc, không phát triển được trí tưởng tượng trước những câu chuyện bài thơ nên khi đọc thơ hay kể chuyện trẻ cũng thể đọc diễn cảm không thể hiện được các tính cách nhân vật trong câu chuyện.

VD: Khi cô dạy bài thơ “ Yêu mẹ” cô hỏi trẻ các con nghe cô đọc bài thơ như thế nào?  Nếu trẻ chưa bao giờ được nghe thì trẻ sẽ không cảm nhận được những hình ảnh không bộc lộ được cảm xúc thì trẻ không thể đọc thơ diễn cảm được. Mà sau khi cô đọc được lần một xong, cô hỏi trẻ các con nghe cô đọc bài thơ đó như thế nào? Trẻ sẽ trả lời theo suy nghĩ của trẻ? Các con  có thích cô đọc lại một lần nữa không, cô đọc lần 2 và có thể kèm theo tranh, qua lời thơ diễn cảm của cô và những h/ả trong bài thơ trẻ sẽ có cảm xúc, hình dung những hình ảnh sinh động trong bài thơ, trẻ thích đọc thơ và sẽ đọc diễn cảm theo nhịp điều của bài thơ. - Ở câu chuyện cũng vậy.

VD: Cô kể chuyện “ Quả trứng” cô khơi gợi để dẫn dắt vào câu… “ Quả trứng” lần một cô cũng kể chuyện cho trẻ nghe bằng giọng của cô, các con  nghe câu chuyện cô vừa kể có hay không? Trẻ trả lời? Các con có thích cô kể nữa không? Câu chuyện 1 lần nữa thể hiện qua tranh hoặc cho trẻ nghe qua như vậy qua những lần như vậy trẻ sẽ dần dần cảm nhận được cái hay trong câu chuyện thích nghe cô kể chuyện, và cũng thuộc chuyện, khi hoạt động ngoài trời hay hoạt động góc thì cô tiếp tục kể cho trẻ nghe nữa như vậy trẻ dần dần sẽ nhớ được câu chuyện và thích nghe kể chuyện. Như vậy nhìn chung để bộ môn này đạt hiệu quả cao thì tôi đã sử dụng đúng lúc, đúng chỗ, tạo hứng thú bất ngờ để thu hút trẻ, thi đua giữa bạn này bạn khác, giữa tổ này và tổ kia. Trong quá trình trẻ luyện tập cô chú ý sửa sai, động viên, khuyến khích để trẻ phát huy được tính tích cực của mình. Trong mỗi tiết dạycô nên lồng ghép các trò chơi dân gian hoặc bài hát và các hình ảnh khi bắt đầu vào bài học mới. Như vậy trẻ sẽ hứng thú hơn.

 - Tôi thường trò chuyện với trẻ theo câu hỏi. Các câu hỏi có tác dụng hướng trẻ tới đối tượng cần nhận thức. Dạy trẻ quan sát đối tượng một cách tổng thể cũng như quan sát tỉ mỉ các đặc điểm, tính chất và các mối quan hệ của sự vật, hiện tượng trong thiên nhiên. Các câu hỏi cũng đồng thời kích thích trẻ nói, gọi tên hoặc mô tả đối tượng được quan sát. Qua đó vốn từ của trẻ ngày càng được mở rộng hơn.

- Khi trò chuyện với trẻ tôi sử dụng một số thủ thuật : Nói mẫu, nhắc lại, giảng giải, khen gợi, cho trẻ sử dụng các thao tác sờ mó, cầm nắm.

Cô giáo kết hợp với phụ huynh và những người xung quanh luôn trò chuyện với trẻ. Tò chuyện để hình thành các khái niệm, các ký hiệu tượng trưng của sự vật hiện tượng. Ban đầu các biểu tượng này rời rạc sau này có liên hệ vời nhau. Người lớn dạy trẻ và phát triển vốn từ cho trẻ, dạy trẻ cách giao tiếp cởi mở, tự tin.

     3. Biện pháp 3: Sử dụng một số biện pháp khơi gợi hứng thú của trẻ đến với câu chuyện, thơ, ca dao.

 - Ở biện pháp này đòi hỏi sự chuẩn bị của giáo viên phải học thuộc nội dung truyện, thơ thuộc và diễn cảm, đối với các bài ca dao, đồng dao thì giáo viên nên lựa chọn các bài đơn giản, gần gũi đến với trẻ, có vần điệu rõ nét, dễ nhớ, dễ thuộc. Các đồ dùng minh họa sử dụng khi dạy, sưu tầm tranh ảnh, bài thơ, bài hát có nội dung gần gũi khi dạy ở các tiết đó. Để đạt hiệu quả ở tiết dạy thì đầu tiên phải khơi gợi hứng thú của trẻ đến với các thể loại mà mình dạy. Trước khi kể chuyện giáo viên có thể cho trẻ xem tranh, nghe đọc thơ, nghe kể chuyện, hát các bài hát có nội dung gần gũi với thể loại sắp dạy, cho trẻ xem tranh rối, diễn kịch trong quá trình dạy. Phải giúp trẻ hiểu nội dung.

VD1: Đối với thể loại truyện. Để giúp trẻ hiểu nội dung câu chuyện, nhớ trình tự các sự kiện của câu chuyện, giáo viên phải đàm thoại với trẻ theo hệ thống các loại câu hỏi sau đây:

+ Loại câu hỏi về nội dung: Cô kể chuyện “ Cá và Chim”

Câu chuyện có tên là gì?

Trong câu chuyện có ai ?...

Cô nói nội dung chuyện  câu chuyện cho trẻ để trẻ có thể biết được câu chuyện muốn nói về điều gì?

+ Loại câu hỏi  Trong câu chuyện bạn Cá và bạn Chim đã rủ nhau đi đâu?

Bạn Cá đã trả lời như thế nào?

Bạn Chim đã trả lời như thế nào?… Sau khi trẻ hứng thú thì cô giáo hướng trẻ kể lại truyện thì để giúp trẻ nhớ được truyện. Sau khi đàm thoại, giáo viên nên kể lại truyện cho trẻ nghe, như vậy trẻ nghe kể chuyện nhiều lần, trong hoạt động học và ở mọi lúc, mọi nơi nhất là vào các giờ chơi buổi chiều.

 - VD: Lần đầu cô kể chuyện kèm minh họa để giúp trẻ làm quen nhớ tên các nhân vật trong truyện, sau đó đặt câu hỏi về truyện.

- Lần 2 cô kể lại kèm theo tranh minh họa hoặc không kèm theo minh họa, giáo viên nên trò chuyện với trẻ về các từ, cụm từ miêu tả đặc điểm, tính cách hành động các nhân vật, dạy trẻ nhắc lại một cách diễn cảm câu nói của các nhân vật. - Khi kể chuyện cho trẻ nghe cô giáo nên ngồi trước mặt trẻ và ngang bằng với trẻ, sao cho tất cả trẻ đều nhìn thấy nhìn rõ cô và đồ dùng.

 - Đồ dùng phải đẹp, màu sắc tươi sáng, sinh động không làm trẻ sợ hãi.

+ Đối với thể loại thơ cũng vậy.

- Như vậy để khơi gợi sự hứng thú của trẻ đến với các thể loại thì đòi hỏi sự chuẩn bị chu đáo của cô giáo để trẻ hứng thú hơn.

- Ngoài ra giáo viên còn có thể lồng ghép các trò chơi để cho trẻ phát triển trí nhớ và ngôn ngữ của mình.

* Trò chơi 1 :Trồng cây hái quả

- Mục đích: Luyện trí nhớ và khả năng phát triển vốn từ của trẻ

- Nội dung: cho trẻ tiếp xúc với dối tượng ,bằng tình huống chơi nhớ được các màu xanh ,đỏ,vàng và tên gọi các laoij quả các loại màu đó.

- Cách tiến hành :

+ Chuẩn bị : các cây nhựa cso quả gần gữi với trẻ :na,chuối ,cam,cà chua

  Tranh chụp một số loại quả .

+ Cách chơi :

Lần 1: cô cho trẻ ngồi vòng cung rồi nói cách chơi.Cô yêu cầu trẻ vào vườn quả và hái quả theo yêu cầu của cô.

Cô yêu cầu trẻ nói tên quả và nói màu sắc của quả

Lần 2: Cô mô tả quả (1 loại quả hoặc 2 loại quả )

Yêu cầu trẻ hái quả theo sự mô tả ,mô phỏng của cô.Trẻ nói tên quả và màu sắc.

Ví dụ :Hãy hái cho cô quả tròn ,vỏ sần ,ăn chua ,có hạt ?

          Trẻ hái quả cam và nói quả cam

           Cô hỏi :quả cam có màu gì ?

           Trẻ nói :quả cam màu xanh

     * Trò chơi 2 :bắt chước tiếng kêu.

- Mục đích :Luyện cho trẻ phát âm những từ  khó’tu tu’ ,pim pim pim ,tuýt tuýt.

- Nội dung: Dùng tình huống trò chơi để dạy trẻ phát triển vốn từ ,bắt chước tiếng kêu của còi của các loại phương tiện giao thông: tàu hỏa,xe đạp ,ô tô…

- Cách tiến hành:

+ Chuẩn bị: ô tô, tàu hỏa, xe máy ( đồ chơi) Tranh: ô tô, tàu hỏa, xe máy.

+ Cách chơi: Cô cho trẻ ngồi hình vòng cung rồi giới thiệu luật chơi .Hôm nay cô đến tặng cho chúng mình một hộp quà to,chúng ta cùng đoán và nói xem đó là quà gì nhé ! Cô lấy ô tô và hỏi :cái gì đây ?Còi ô tô kêu như thế nào ?Sau đó cho ô tô chạy :các cháu hãy làm cho còi ô to kêu: ”pim pim pim’. Tiếp tục cô lấy tàu hảo ra tiếng còi tàu kêu ‘tu tu’và cho tàu chạy. Trẻ làm tiếng còi tàu. Sau đó cô lấy tiếng xe máy ra kêu ‘tuýt tuýt ‘và vặn cót cho xe chạy. Các cháu bắt chước còi kêu. Tất cả cá loại phương tiện giao thông là đồ chơi đang chạy .Bây giờ cô và các cháu hãy chọn nhũng đồ chơi này để chơi nhé !Các con cũng chọn ô tô nào. ô tô đây rồi, còi ô tô kêu thế nào ?’pim pim’, các con hãy bắt chước còi ô tô kêu .Cô lần lượt vờ lái xe máy ,tùa hỏa và cho trẻ bắt chước tiếng còi kêu ‘tu tu’ ,tiếng còi xe máy ‘tuýt tuýt’

Cô cho cả lớp, tổ, cá nhân bắt chước tiếng còi xe máy, tàu hỏa, ô tô. Khuyến khích trẻ chơi giỏi. Khi trẻ đã biết chơi, cô có các bức tranh, tàu hỏa, ô tô, xe máy cho trẻ lên lấy tranh và bắt chước tiếng kêu theo yêu cầu của cô. Ví dụ: Lấy cho cô tranh xe máy và làm tiếng còi xe máy kêu.

- Trong quá trình nhận thức, việc đầu tiên và quan trọng nhất là trẻ phải thu nhận được những khái niệm chuẩn.

- Đầu tiên tôi làm mẫu và giải thích cho trẻ hiểu và đặc điểm của vật. Trẻ học thông qua mô phỏng của người lớn. Qua việc tiếp nhận âm thanh và quan sát. Vì vậy, để trẻ nhận biết chuẩn từ ngay từ đầu bố mẹ, cô giáo và người lớn phải cung câp cho trẻ kiến thức chuẩn và đúng. Ngoài ra để trẻ hiểu và ghi nhớ lâu hơn, người lớn giải thích từng từ và cụm từ một cách đơn giản cho trẻ hiểu.

     4. Biện pháp 4: Lấy trẻ làm trung tâm

- Với chương trình đổi mới hiện nay ta thường lấy trẻ làm trung tâm với từng bài dạy, thể loại tôi đưa ra hệ thống câu hỏi đã chuẩn bị có tính lô gích, để đàm thoại với trẻ một cách sôi nổi, để phát huy trí tưởng tượng, những cảm xúc của trẻ .

 - Trẻ cần được thể hiện với những đồ dùng mà trẻ thích, với vai mà trẻ thích cô giáo không nên ép buộc, gò bó trẻ.

- VD1: Cô kể chuyện “Quả thị” sau khi cô kể xong cho trẻ nghe trẻ có thể nói làm một số hành động của bà như: nói lại lời của bà với quả Thị hoặc các hành động của bà trong câu chuyện để lại dấu ấn cho trẻ. Nếu trẻ không hiểu thì cô có thể giải thích cho trẻ hiểu.

 - Ở biện pháp này khi dạy trẻ ở các thể loại thơ, truyện, thì cô giáo cần hỏi nhiều môn tính tư duy đê khuyến khích trẻ suy nghĩ tìm cách trả lời.

5.Biện pháp 5:

- Tuyên truyền kết hợp với phụ huynh phát triển nhận biết cho trẻ.

 Như chúng ta đã biết: Giờ làm quen văn học đạt hiệu quả rất thấp. Là giáo viên đứng lớp nhưng tôi cũng tìm tòi học hỏi từ các chị đi trước nên tôi đã sử biện pháp này và đạt hiệu quả. Sau mỗi giờ đọc chuyện hoặc đọc thơ ở trên trường thì có những trẻ chậm không thể tiếp thu bài được trẻ không thuộc hết bài thơ hoặc không nhớ được nội dung câu chuyện của cô kể nên trẻ cảm thấy chán nản, học không tập trung, ngồi hay phá bạn nên tôi đã tìm cách liên hệ với phụ huynh nhờ cùng tôi giúp đỡ để cháu học tốt hơn môn này. Tôi đã ghi lại những bài thơ, câu chuyện vừa học trên trường để về phụ huynh cùng bày thêm cho cháu để những câu thơ nào chưa thuộc thì trẻ thuộc, hoặc trẻ nhớ lại nội dung chuyện, như thế trẻ sẽ không thuộc và khắc sâu, khi lên trường bản thân tôi cho trẻ ôn lại thì trẻ nhớ và đọc cùng các bạn hoặc cô có thể kể được tóm tắt câu chuyện cho trẻ nhớ lại…

 - Ngoài ra tôi còn có thể giới thiệu với phụ huynh đến các nhà sách để mua những câu chuyện có thể về kể cho trẻ nghe hoặc cho trẻ xem hình ảnh trong sách truyện để từ đó  phát triển ngôn ngữ và vốn từ cho trẻ....

-  Như vậy trẻ dẫn dần sẽ thích học môn này trẻ không cảm thấy chán. Qua thời gian kết hợp với phụ huynh nhờ đó mà bộ môn làm quen văn học của trẻ có phần tiến bộ hơn so với đầu năm học.

- Phối hợp với phụ huynh là một cách làm hết sức quan trọng. Phụ huynh là người đánh giá chất lượng giáo dục của giáo viên một cách chính xác nhất.Phụ huynh cũng là lực lượng đắc lực giúp cho giáo viên chăm sóc ,giáo dục trẻ tốt nhất .Vì vậy,ở lớp tôi thường xuyên trao đổi với phụ huynh về tình hình của trẻ

- Tôi còn hướng dẫn cho phụ huynh ôn bài cho con khi ở nhà, theo chương trình giáo dục thực hàng tuần treo ở bảng tuyên truyền của lớp. Ngoài ra tôi còn phô tô thơ, truyện, bài hát đang học trong tháng để gửi đến phụ huynh để rèn luyện trẻ khi trẻ ở nhà.

     IV. Kêt qủa

- Như chúng ta đã biết: Giờ làm quen văn học đạt hiệu quả rất thấp. Là giáo viên mới đứng lớp nhưng tôi cũng tìm tòi học hỏi từ các chị đi trước nên tôi đã sử biện pháp này để việc giảng dạy đạt được kết quả cao.

- Với những biện pháp như vậy đến cuối năm học, tôi nhận trẻ đã phát triển ngôn ngữ rất nhiều.

- Đối với phụ huynh : Đa số phụ huynh đã quan tâm đến việc học tập của con em mình tại lớp. Không còn suy nghĩ là trẻ 2 tuổi đến trường chỉ biết ăn và chơi. Phụ huynh cũng đã có sự kết hợp với giáo viên đẻ chăm sóc- giáo dục các co một cách toàn diện nhất.

 

Mức độ

 

         Số trẻ

 

Tính %

Trẻ nhận thức tốt

36

80 %

Trẻ nhận thức còn chậm

8

18 %

Trẻ chưa nhận thức được

1

2 %

     V. Bài học kinh nghiệm

- Qua một thời gian chăm sóc giáo dục nhà trẻ 24-36 tháng tuổi. Tôi nhận thấy các con thật dễ thương, đáng yêu, nhanh nhẹn không kém gì các anh chị mẫu giáo. Nếu như có sự chăm sóc, dạy dỗ, yêu thương nhiệt tình từ phía các cô cộng với sự phối kết hợp của phụ huynh.

- Qua việc học hỏi đồng nghiệp, tìm tòi sách vở, dự giờ ở trường bạn, bản thân tôi đã tìm cho mình một sô biện pháp để giúp trẻ học tốt các môn văn học và từ những biện pháp đó và sự tìm tòi, học hỏi tôi đã rút ra cho mình một số kinh nghiệm sau. Là giáo viên mầm non thì rất vất vả điều đầu tiên ở bản thân phải thật sự yêu nghề, mến trẻ, nhiệt tình trong công tác giảng dạy. Thực hiện theo đúng chương trình chăm sóc trẻ ở độ tuổi (24- 36 tháng tuổi) soạn giảng nghiên cứu có sự sáng tạo theo hình thức đổi mới. Lấy trẻ làm trung tâm. Lời nói, cử chỉ của cô phải chuẩn xác, lượng kiến thức đưa ra phù hợp vừa sức trẻ. Sưu tầm và sáng tạo các câu đố, trò chơi, thăm quan hội thi đặc biệt là áp dụng đưa công nghệ thông vào tiết dạy một cách phù hợp, linh hoạt ngộ nghỉnh để gây tình huống bất ngời.

- Trong giờ học tôi luôn quan sát từng trẻ, uốn nắn sửa sai từng câu, từng lời và động viên khuyến khích động viên trẻ để trẻ hào hứng trong từng tiết học.

- Trẻ nắm bắt được nội dung câu chuyện, thuộc thơ. Bên cạnh đó việc kết hợp với phụ huynh là rất quan trong và cần thiết. Như vậy với kết quả trên chưa phải là kết quả cao nhưng đó là sự động viên cho tôi tiếp tục phấn đấu hơn nữa trong công việc chăm sóc giáo dục trẻ sau này đối với bản thân tôi.

- Trong các biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ, trò chơi học tập cũng có một vai trò quan trọng trong quá trình hình hình thành và phát triển vốn từ cho trẻ bởi đặc điểm của lứa tuổi nhà trẻ là chơi mà học, học mà chơi. Qua thực tiễn chúng ta thấy việc sử dụng tò chơi và áp dụng một số biện pháp để phát triển ngôn ngữ cho trẻ là rất hiệu quả. Nó có tác dụng tích cực đến trẻ về khả năng sử dụng từ, khả năng ghép từ thành câu và khả năng diễn đạt từ ngắn bó với tình huống giao tiếp của trẻ ở độ truổi nhà trẻ. Chính vì vậy, việc xây dựng hệ thống trò chơi học tập để phát triển vốn từ cho trẻ là rất cần thiết và quan trọng đối với nhiệm vụ giáo dục lứ tuổi mầm non đặc biệt là trẻ nhà trẻ 24-36 tháng tuổi.

- Yêu nghề mến trẻ, tận tụy với công việc của mình, luôn tìm tòi nghên cứu các phương pháp, hình thức dạy phù hợp có kết quả cao. Sử dụng các đồ dùng hang ngày có đọ thẩm mỹ cao, màu sắc tươi sáng đẻ trẻ có ấn tượng với cái đẹp. Luôn tìm tòi học hỏi qua sách báo, mạng internet, đồng nghiệp để nâng cao kiến thức của bản thân.

- Phối hợp với phụ huynh trong lớp, thường xuyên trao đổi về tình hình của trẻ. Đặc biệt là việc phát triển ngôn ngôn ngữ cho trẻ, phát triển vốn từ cho trẻ, cách phát âm và trao đổi với cô khi ở lớp của trẻ. Hướng dẫn cho phụ huynh ôn bài cho con khi ở nhà, theo chương trình giáo dục thực hiện hàng tuần treo ở bảng tuyên truyền của lớp. Sưu tầm các loại tranh ảnh, họa báo, câu chuyện mang tính giáo dục trẻ, có vốn từ mới, phong phú. Để đọc cho trẻ nghe khi ở lớp và ở nhà.

thời tiết các vùng

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

Bình chọn

Đánh giá thái độ tiếp công dân của cán bộ Một cửa quận