TIN TỨC KHÁC

Trường Tiểu học Lĩnh Nam: Một số kinh nghiệm áp dụng phương pháp dạy học tích cực để rèn luyện kỹ năng thực hành phép nhân cho học sinh lớp 3
Ngày đăng 11/09/2019 | 17:30  | View count: 22

Sáng kiến kinh nghiệm: Một số kinh nghiệm áp dụng phương pháp dạy học tích cực để rèn luyện kỹ năng thực hành phép nhân cho học sinh lớp 3

A. PHẦN MỞ ĐẦU 

     I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI     

     Đổi mới phương pháp dạy học  là: “Phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh trên cơ sở khai thác triệt để các đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học”, là phương hướng đổi mới phương pháp dạy và học môn toán ở bậc tiểu học. Một trong những biện pháp chủ yếu  để đạt được mục đích trên là gây cho học sinh hứng thú học tập, tạo niềm tin, niềm vui bằng cách lôi cuốn các em vào những giờ toán học hấp dẫn , phù hợp với trình độ nhận thức, đặc điểm lứa tuổi các em, đặc biệt là ở các lớp đầu cấp.

     Trọng tâm và hạt nhân của chương trình toán ở Tiểu học là nội dung Số học. Trong đó phép nhân các số tự nhiên là một nội dung cơ bản, quan trọng trong nội dung số học. Bởi vì, nhiệm vụ trọng yếu của môn toán Tiểu học là hình thành cho học sinh kỹ năng tính toán - một kỹ năng rất cần thiết trong cuộc sống, lao động và học tập. Dạy học phép nhân trên tập hợp số tự nhiên còn nhằm củng cố các kiến thức có liên quan đến đại lượng, các yếu tố hình học và giải toán. Ngoài ra,  rèn kỹ năng thực hành phép nhân còn góp phần không nhỏ trong việc phát triển năng lực tư duy, năng lực thực hành, đặc biệt là khả năng phân tích, suy luận lôgíc và những phẩm chất không thể thiếu được của người lao động mới.

     Xuất phát từ thực trạng việc dạy học môn toán cụ thể là kỹ năng thực hành phép nhân cho học sinh lớp 3 trong nhà trường Tiểu học hiện nay. Trong chương trình môn học ở bậc tiểu học, môn toán chiếm số giờ rất lớn. Bốn phép tính cộng, trừ, nhân , chia được sử dụng hầu hết vào các khâu trong quá trình dạy học toán.Tuy nhiên, phép nhân là khái niệm trừu tượng. Vì vậy tôi thấy việc áp dụng những phương pháp dạy học tích cực trong môn toán là yêu cầu rất cấp thiết nhằm nâng cao chất lượng dạy học toán ở Tiểu học.

     II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

     1. Tìm hiểu hệ thống nội dung phương pháp dạy học tích cực.

     2. Góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Toán ở Tiểu học. Đặc biệt là rèn kĩ năng thực hành phép nhân cho học sinh lớp 3.

     III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

     1. Tìm hiểu tầm quan trọng của dạy học tích cực.

     2. Tìm hiểu ý nghĩa, tác dụng của phương pháp dạy học Toán tích cực.

     3. Nghiên cứu tâm sinh lý lứa tuổi học sinh tiểu học.

     4. Phân tích tổng hợp rút ra bài học kinh nghiệm.

     IV. PHẠM VI  NGHIÊN CỨU

     1. Học sinh khối lớp 3

     2. Thời gian từ tháng 9/ 2018 đến tháng 3/ 2019.

     V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu.

- Phương pháp điều tra, quan sát.

- Phương pháp thực nghiệm.

B. PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

     I. CƠ SỞ LÝ LUẬN

     1. Phương pháp dạy học tích cực là gì ?

     Phương pháp dạy học tích cực là phương pháp dạy học phát huy được sự chủ động, sáng tạo của người học. Phương pháp dạy học tích cực ở tiểu học sẽ giúp giáo viên và học sinh tăng sự tương tác, giúp giáo viên sáng tạo trong giảng  dạy và học sinh chủ động hơn trong việc học.

      Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy. Cách dạy chỉ đạo cách học  nhưng trong thực tế cách học tập của học sinh cũng ảnh hưởng tới cách dạy của thầy. Chẳng hạn, có trường hợp học sinh đòi hỏi cách dạy tích cực hoạt động nhưng thầy giáo chưa đáp ứng được, hoặc có trường hợp thầy giáo tích cực vận dụng phương pháp dạy học tích cực nhưng không thành công vì học sinh chưa thích nghi vẫn quen với lối học tập thụ động. Vì thế , thầy giáo phải bền chí dùng cách dạy hoạt động để dần dần xây dựng cho học sinh phương pháp học tập chủ động một cách vừa sức, từ thấp lên cao. Trong đổi mới phương pháp dạy học phải có sự hợp tác cả của thầy và trò, sự phối hợp ăn nhịp hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công. Như vậy , việc dùng thuật ngữ “Dạy và học tích cực” để phân biệt với “Dạy và học thụ động”.

     Lịch sử phát triển giáo dục cho thấy, trong nhà trường một thầy dạy cho một lớp đông học trò với trình độ không đồng đều thì giáo viên ít có điều kiện quan tâm đến từng học trò nên đã hình thành kiểu dạy “thông báo – đồng loạt”. Thầy mới chỉ quan tâm đến việc hoàn thành bổn phận của mình là truyền đạt cho hết nội dung quy định trong thời hạn và sách giáo khoa, chưa cố gắng làm cho mọi học trò hiểu và nhớ những điều thầy giảng. Cách dạy này dẫn đến học trò học thụ động, thiên về ghi nhớ, ít chịu nghĩ suy, dẫn đến chất lượng, hiệu quả dạy và học không đáp ứng được sự phát triển năng động của thời đại. Để khắc phục tình trạng này, người thầy phải phát huy tính hăng hái chủ động của học trò, thực hành “dạy học phân hóa”  quan tâm đến nhu cầu, khả năng của mỗi cá nhân trong tập thể lớp.

      Trong thực tiễn quá trình dạy học người học vừa là đối tượng của hoạt động dạy, vừa là chủ thể của hoạt động học. Hoạt động học dưới sự chỉ đạo của thầy, người học phải hăng hái chủ động cải biến chính mình về tri thức, năng lực, thái độ hành vi, hoàn thiện nhân cách, không ai làm thay cho mình được. Bởi vậy, nếu người học không tự giác chủ động, không chịu học, không có biện pháp học tốt thì hiệu quả của việc dạy sẽ rất hạn chế.

      Như vậy khi đã chú trọng vị trí hoạt động và vai trò của người học thì phải phát huy được tính hăng hái chủ động của người học. Cũng vì vậy cần thiết phải nhân rộng phương pháp dạy học tích cực.

     II. CƠ SỞ THỰC TIỄN :

     1. THỰC TRẠNG VIỆC DẠY HỌC PHÉP NHÂN TRONG NHÀ TRƯỜNG TIỂU HỌC HIỆN NAY

      Việc dạy học toán ở các trường Tiểu học của nước ta đã có một quá trình phát triển lâu dài. Trong quá trình đó với sự cố gắng chung của đội ngũ giáo viên, các phương pháp dạy học đã vận dụng và đã thường xuyên được cải tiến cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của nhà trường Tiểu học Việt Nam. Việc làm đó đã góp phần nâng cao chất lượng dạy học toán ở Tiểu học.

      Tuy nhiên trong thực tiễn ở Tiểu học phương pháp học toán chưa được thay đổi, chưa đáp ứng những đổi mới về mục tiêu, nội dung giáo dục. Đặc điểm chính của phương pháp dạy học đó là:

      - Giáo viên chỉ truyền đạt, giảng giải theo các tài liệu đã có sẵn trong sách giáo khoa, sách hướng dẫn giảng dạy. Vì vậy giáo viên thường làm việc một cách máy móc và thường ít quan tâm đến việc phát huy khả năng sáng tạo của học sinh.

      - Học sinh học tập một cách thụ động, chủ yếu chỉ nghe giảng, ghi nhớ và làm bài theo mẫu. Do đó việc học tập thường ít hứng thú, nội dung các hoạt động học tập thường đơn điệu, nghèo nàn, ít quan tâm đến phát triển năng lực cá nhân học sinh.

     Dạy học theo phương pháp như vậy đang cản trở việc đào tạo những người lao động, năng động tự tin, linh hoạt, sáng tạo, sẵn sàng thích ứng với những đổi mới diễn ra hàng ngày. Yêu cầu giáo dục mới đòi hỏi phải chuyển sang phương pháp dạy học nhằm tích cực hóa các hoạt động học tập của học sinh, tạo điều kiện cho giáo viên và học sinh đều tham gia tích cực vào quá trình dạy học.

      2. THỰC TRẠNG CỦA LỚP CHỦ NHIỆM:  

      Năm nay tôi được phân công dạy lớp 3. Lớp tôi có 53 học sinh  trong đó có: 25 em nữ, 28 em nam, học sinh chủ yếu sống trên cùng địa bàn phường, gia đình chủ yếu là lao động tự do, khả năng nhận thức của các em không đồng đều, các em thiếu mạnh dạn tự tin. Vì vậy ngay từ đầu năm tôi đã vạch ra kế hoạch phải làm sao cho lớp mình hoạt động  sôi nổi hơn trong giờ học, đặc biệt là trong giờ học toán. Tôi mạnh dạn đưa các phương pháp dạy học tích cực vào các tiết học toán ở lớp mình. Đầu năm, lớp tôi rất trầm,  khi tôi đưa các phương pháp dạy học tích cực vào áp dụng trong giờ học thì không khí học tập khác hẳn, các em học tập tích cực, những em chậm chạp như em Phương Anh B, em Quang Minh cũng năng động hơn. Những em có tính rụt rè như em Tuệ Linh, em Hải  Đăng tỏ ra mạnh dạn, tự tin hơn. Qua các đợt thao giảng, tôi mạnh dạn đưa sáng kiến của mình vào áp dụng.  BGH đã đánh giá cao chất lượng tiết dạy. Tôi nhận thấy rằng sáng kiến của tôi đưa vào áp dụng không những giúp các em năng động, sáng tạo ham muốn khám phá  mà còn giúp các em biết thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, cùng giúp nhau tiến bộ.

CHƯƠNG II. NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TOÁN Ở TIỂU HỌC

     I. NỘI DUNG VỀ PHÉP TÍNH NHÂN TRONG CHƯƠNG TRÌNH TOÁN LỚP 3

     1. Phép nhân trong bảng

- Các bảng nhân 6, 7, 8, 9

- Bảng nhân tổng hợp: Từ bảng 1-> bảng 10

     2. Phép nhân ngoài bảng

- Nhân số có 2 chữ số với số có 1 chữ số

- Nhân số có 3 chữ số với số có 1 chữ số

- Nhân số có 4 chữ số với số có 1 chữ số

- Nhân số có 5 chữ số với số có 1 chữ số

     3. Các dạng toán liên quan đến phép nhân

- Nhân nhẩm

- Tính giá trị biểu thức số

- Gấp lên một số lần

- So sánh hai số gấp kém nhau một số lần

- Tính chu vi, diện tích của hình vuông, hình chữ nhật

- Giải toán đơn, toán hợp.

     II. ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TOÁN Ở TIỂU HỌC

     1. Trong quá trình dạy học toán, giáo viên là người tổ chức hướng dẫn hoạt động của học sinh, mọi học sinh đều hoạt động học tập để phát triển năng lực của cá nhân.

    Theo định hướng này:

     - Giáo viên tổ chức hướng dẫn học sinh huy động vốn hiểu biết và kinh nghiệm của bản thân để tự học sinh chiếm lĩnh tri thức mới rồi vận dụng các tri thức mới đó trong thực hành.

    Vì vậy nói chung, nói ít, giảng giải ít, làm mẫu ít nhưng lại thường xuyên làm việc với từng nhóm học sinh hoặc từng học sinh. Cách làm như vậy đòi hỏi giáo viên phải biết cách tổ chức các hoạt động của học sinh, đồng thời phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ để có thể đáp ứng kịp những tình huống có thể xảy ra trong quá trình hoạt động học tập của học sinh. Nhờ cách dạy học như vậy mà giáo viên nắm bắt khả năng của từng học sinh từ đó có thể giúp học sinh phát triển năng lực sở trường của cá nhân.

     - Mọi học sinh đều phải hoạt động, phải độc lập suy nghĩ và làm việc tích cực. Tổ chức được cách như vậy thì không cần đặt ra các biện pháp để “ giữ trật tự” mà từng học sinh vẫn tập trung vào các hoạt động học tập. Cách học mới tạo cho học sinh thói quen làm việc tự giác, chủ động, không dập khuôn, biết tự giác và đánh giá kết quả học tập của mình, của bạn, đặc biệt là tạo cho học sinh có niềm tin và niềm vui trong học tập.

    - Mọi hoạt động cuả lớp học do học sinh thực hiện một cách chủ động, tích cực theo hướng dẫn, tổ chức của giáo viên. Học sinh trở thành trung tâm của quá trình dạy học, nghĩa là học sinh phải hoạt động nhiều, hoạt động để đạt được các yêu cầu của bài học, giáo viên thay đổi cách hoạt động để cả giáo viên và học sinh đều làm việc tích cực, có hiệu quả và nhằm vao sự phát triển của cá nhân học sinh.

     2. Khi tổ chức và hướng dẫn các hoạt động của học sinh, giáo viên phải vận dụng một cách hợp lí mặt tích cực của các phương pháp dạy cũ đề học sinh huy động các kiến thức của mình, tham gia tích cực vào các hoạt động như quan sát, điều tra, đóng vai,thảo luận, từ đó mà phát hiện ra và tham gia vào việc giải quyết các tình huống có thể có trong đời sống. Như vậy:

      - Đổi mới phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học không loại bỏ các phương pháp dạy học toán truyền thống mà phải vận dụng các phương pháp đó để tổ chức cho học sinh hoạt động học tập theo kiểu mới ( hoạt động cá nhân, theo nhóm,…) tạo điều kiện cho từng học sinh được tham gia giải quyết vấn đề

( thường là bài toán có nội dung gần gũi với đời sống hàng ngày ), từ đó mà thu nhận tri thức mới và rèn luyện kĩ năng mới.

      - Kết quả của dạy học toán không chỉ đem lại cho học sinh những tri thức, kĩ năng cơ bản, cần thiết của môn toán mà còn góp phần hình thành phương pháp học tập, phương pháp phát hiện và giải quyết các vấn đề trong học tập và trong cuộc sống.

3.Đổi mới phương pháp dạy học toán là một quá trình lâu dài, nó gắn bó chặt chẽ với đổi mới mục tiêu, nội dung, cơ sở vật chất và thiết bị, đào tạo giáo viên, chỉ đạo và đánh giá … của môn học. Ở mỗi địa phương, mỗi trường, mỗi lớp Tiểu học, tùy điều kện và hoàn cảnh cụ thể đều có thể tự xác định mức độ, cách thức thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo khả năng và sự cố gắng của đơn vị mình.

CHƯƠNG III: CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TOÁN THEO HƯỚNG TÍCH CỰC

     I. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TOÁN

        Phương pháp học toán là cách thức hoạt động của giáo viên và học sinh nhằm đạt được mục tiêu dạy học Toán.

        Phương pháp dạy học toán là sự vận dụng một cách hợp lí các phương pháp dạy học theo đặc trưng của môn Toán. Các phương pháp thường được vận dụng khi dạy học toán là:

- Phương pháp thuyết trình

- Phương pháp giảng giải –minh họa

- Phương pháp gợi mở vấn đáp

- Phương pháp trực quan

- Phương pháp thực hành luyện tập, …

     II. CÁC ĐẶC TRƯNG CỦA PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC

     1. Dạy và học qua các hoạt động học tập

      Phương pháp dạy học tích cực ở tiểu học giúp người học chủ động trong việc tiếp thu tri thức từ người dạy, tích cực tìm tòi, khám phá những kiến thức mới bổ trợ cho quá trình học. Ngoài ra, người học còn được khuyến khích tham gia các hoạt động trải nghiệm và thí nghiệm thực tế để nâng cao kiến thức và kỹ năng.

     2. Chú trọng bồi dưỡng phương pháp tự học

     Để học tập tốt thì ngoài sự hỗ trợ của người dạy thì 90% thành công là nhờ chính bản thân người học. Với phương pháp giảng dạy truyền thống thì người học hoàn toàn phụ thuộc vào người dạy, thụ động trong việc tìm kiếm thông tin và phương pháp. Phương pháp dạy học tích cực ở Tiểu học giúp học sinh rèn được cho mình tinh thần tự học và có thêm những phương pháp tự học hiệu quả. Khi quen được với phương pháp dạy học tích cực ở Tiểu học, các em sẽ khơi dậy được tinh thần ham học hỏi, niềm đam mê tìm tòi và khám phá tri thức trong chính bản thân mình.

     3. Đẩy mạnh việc học tập riêng và học tập nhóm

     Quá trình học là một quá trình đan xen giữa cá nhân trong tập thể, chính vì vậy mà phương pháp học phải giúp cho người học có thể tự thúc đẩy bản thân học tập và hòa đồng tích cực vào hoạt động học tập nhóm của lớp.

      Phương pháp dạy học tích cực ở tiểu học sẽ giúp các em rèn luyện được việc tự học của cá nhân và của tập thể lớp. Việc này sẽ khuyến khích các em nâng cao ý thức tự học sau này và tinh thần tương trợ, giúp đỡ các thành viên trong tập thể.

     4. Kết hợp đánh giá của thầy và tự đánh giá của trò

      Khi áp dụng phương pháp dạy học tích cực ở tiểu học thì việc đánh giá kết quả của môn học không chỉ là nhiệm vụ của giáo viên mà còn là trách nhiệm của học sinh. Việc tiếp nhận đánh giá của thầy về việc tiếp thu của học sinh cũng như sự đánh giá của trò về phương pháp giảng dạy sẽ giúp giáo viên có thể dễ dàng theo dõi và điều chỉnh phương pháp giảng dạy hiện tại của mình một cách tốt nhất, nhằm mang đến những bài học hiệu quả nhất.

      Hy vọng rằng phương pháp này sẽ ngày càng phổ biến và mang lại những hiệu quả thiết thực cho người học và người dạy, giúp cho quá trình học trở nên chủ động và hấp dẫn hơn nữa.

     III. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TOÁN THEO HƯỚNG TÍCH CỰC

     1. Phương pháp hoạt động nhóm

     Lớp học được chia thành từng nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người. Tùy mục đích, độ khó của vấn đề, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hoặc có chủ ý, được duy trì ổn định hay thay đổi trong từng phần của tiết học, được giao cùng một nhiệm vụ hay những nhiệm vụ khác nhau.

      Nhóm tự bầu nhóm trưởng nếu thấy cần. Trong nhóm có sự phân công mỗi người một phần việc. Trong nhóm nhỏ , mỗi thành viên đều phải làm việc hăng hái, không thể ỷ lại vào một hai người hiểu biết và năng động hơn. Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiểu vấn đề nêu ra trong không khí thi đua với các nhóm khác. Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tập chung của cả lớp. Để trình bày kết quả làm việc của nhóm trước toàn lớp, nhóm cử ra một đại diện hoặc phân việc mỗi thành viên trình bày toàn bộ hoặc  một phần nếu nhiệm vụ giao cho nhóm là khá phức tạp.

* Cách thức tiến hành :
Làm việc chung cả lớp : 
+ Nêu vấn đề,  nhiệm vụ nhận thức rõ ràng.
+ Tổ chức các nhóm, giao nhiệm vụ.
+ Chỉ dẫn cách làm việc trong nhóm.
Làm việc theo nhóm 
+ Phân việc trong nhóm.
+ Cá nhân làm việc độc lập rồi thảo luận hoặc tổ chức luận bàn trong nhóm.
+ Cử đại diện trình bày kết quả làm việc của nhóm mình.
- Tổng kết trước lớp
+ Các nhóm tuần tự báo cáo kết quả.
+ Luận bàn chung.
+ Giáo viên tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo , hoặc vấn đề tiếp theo trong bài.

* Một số cách chia nhóm

- Chia ngẫu nhiên: Chia ngẫu nhiên thường được tiến hành khi không cần sự phân biệt giữa các đối tượng học sinh, mọi học sinh đều phải hoạt động để cùng giải quyết vấn đề, cùng chiếm lĩnh tri thức, nhiệm vụ được giao khác nhau không nhiều về nội dung, ít có sự chênh lệch về độ khó, cùng chung nhu cầu. Để không tốn thời gian vào việc chia nhóm theo tổ, chia theo bàn, có thể chia ngẫu nhiên “bằng đếm vòng tròn”.

- Chia thành các nhóm có đủ trình độ: cách chia này thông thường sử dụng khi nội dung hoạt động dạy học cần có sự hỗ trợ lẫn nhau. Chẳng hạn, khi tổ chức thực hành ngoài lớp học, ôn tập hoặc giải bài tập khó.

- Chia nhóm theo sở trường: cách chia này thường được tiến hành trong các buổi ngoại khoá. Mỗi nhóm gồm những học sinh có cùng một sở trường,hứng thú.Giáo viên có thể nêu tên, nêu tiêu chuẩn của thành viên và nhiệm vụ của các nhóm, rồi để các em tự xung phong vào các nhóm.Cách chia này ít được áp dụng ở Tiểu học vì sở trường hay hứng thú chưa được bộc lộ rõ ràng.

     Phương pháp hoạt động nhóm giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới. Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có cơ hội thể hiện trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì. Từ đây quá trình tiếp thu kiến thức trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải là sự tiếp thu bị động từ giáo viên. Thành công của bài học phụ thuộc vào sự nồng nhiệt tham gia của mọi thành viên, vì vậy phương pháp này còn làm gọi là phương pháp cùng tham gia. Tuy nhiên , phương pháp này bị hạn chế trong một giới hạn nhất định bởi không gian của lớp học nhỏ và thời của tiết học, vì vậy giáo viên phải biết cách tổ chức hợp lý giúp học sinh làm quen với phương pháp này thì mới có kết quả. Cần nhớ rằng, trong hoạt động nhóm, tư duy hăng hái của học trò phải được phát huy và đặc biệt là rèn luyện năng lực hợp tác giữa các thành viên. Cần tránh xu hướng hình thức hoặc lạm dụng. Tổ chức hoạt động nhóm là dấu hiệu điển hình nhất của đổi mới phương phá dạy học, hoạt động nhóm càng nhiều thì chứng tỏ phương pháp dạy học càng đổi mới.

      2. Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề.

     Phương pháp này không chỉ có ý nghĩa ở tầm phương pháp dạy học mà phải được đặt ra như một mục tiêu của nền giáo dục và đào tạo.

     Giáo viên có thể thiết kế cấu trúc một bài học ( hoặc một phần bài học ) theo phương pháp đặt và giải quyết vấn đề

- Tạo tình huống có vấn đề.

- Phát hiện vấn đề cần giải quyết.

- Đề xuất cách giải quyết.

- Rút ra kết luận.

     Dạy học theo phương pháp đặt và giải quyết vấn đề, học sinh vừa nắm được tri thức mới, vừa nắm được phương pháp lĩnh hội tri thức đó, phát triển tư duy hăng hái, sáng tạo, phát triển năng lực thích ứng với đời sống xã hội - phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lý các vấn đề phát sinh

     3. Phương pháp động não 

      Động não là phương pháp giúp học sinh trong một thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó. Thực hiện phương pháp này, thầy giáo cần đưa ra một hệ thống các thông báo làm tiền đề cho buổi thảo luận.

* Cách thức tiến hành

-  Thầy giáo nêu câu hỏi, vấn đề cần được tìm hiểu trước cả lớp hoặc trước nhóm.
- Động viên học sinh phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt.
- Thống kê tất cả các ý kiến phát biểu đưa lên bảng hoặc giấy khổ to, không loại trừ một ý kiến nào, trừ trường hợp trùng lặp.
-  Phân loại ý kiến.
- Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng và bàn bạc sâu từng ý.

     4. Trò chơi học toán

       Trò chơi toán học nhằm mục đích là để củng cố kiến thức của bài đã học, luyện tập lại kiến thức của bài mới, phát hiện ra kiến thức mới của bài học. Thông qua trò chơi các em nắm được kiến thức của bài học một cách nhẹ nhàng.

       Trong quá trình học toán ở tiểu học, sử dụng trò chơi toán học có nhiều tác dụng như :

       + Giúp học sinh thay đổi loại hình hoạt động trong giờ học, làm cho giờ học bớt căng thẳng, tạo cảm giác thoải mái, dễ chịu. Học sinh tiếp thu kiến thức nhẹ nhàng, gây hứng thú học tập .

       + Kích thích sự tìm tòi, tạo cơ hội  để học sinh tự thể hiện mình .

       + Thông qua trò chơi, học sinh vận dụng kiến thức năng nổ, hoạt bát, kích thích trí tưởng tượng , trí nhớ . Từ đó phát triển tư duy mềm dẻo, học tập cách xử lý thông minh trong những tình huống phức tạp, tăng cường khả năng vận dụng trong cuộc sống để dễ dàng thích nghi với điều kiện mới của xã hội.

      + Ngoài ra thông qua hoạt động trò chơi còn giúp các em phát triển được nhiều phẩm chất đạo đức như tình đoàn kết, thân ái, lòng trung thực, tinh thần cộng đồng trách nhiệm . Vì vậy trò chơi toán học rất cần thiết trong giờ học toán ở tiểu học .

      Tổ chức trò chơi toán học:  thông qua 5 bước :

  • Giới thiệu tên trò chơi
  • Phổ biến luật chơi

     -    Tiến hành chơi

     -    Thảo luận rút ra kiến thức

     -    Đánh giá kết luận

     4.1. Thiết kế trò chơi học toán bằng vật liệu:

     4.1.1. Trò chơi xì điện

* Mục đích: Giúp học sinh thuộc nhân , chia trong bảng.

* Thời gian chơi: 5-7 phút.

* Cách chơi: Lớp chia thành 2 đội để thi đua. Giáo viên sẽ “châm ngòi” đầu tiên, thầy đọc một phép tính chẳng hạn 9 x 4 rồi chỉ vào một em thuộc một trong 2 đội, em đó phải bật ngay ra kết quả.Nếu kết quả đúng thì em đó có quyền “xì điện” một bạn thuộc đội đối phương. Em sẽ đọc bất kì phép tính nào, ví dụ 9 x 7 và chỉ vào một bạn (ở bên kia) bạn đó lập tức phải có ngay kết quả là 4, rồi lại “xì điện” trả lại đội ban đầu. Cứ như thế cô cùng 2 thư ký ghi kết quả của mỗi đội. Hết thời gian chơi đội nào có nhiều bạn đọc kết quả đúng thì thắng.Khi được quyền trả lời mà lúng túng không bật ngay ra được kết quả thì mất quyền trả lời và “xì điện”, giáo viên sẽ lại chỉ định một bạn khác bắt đầu.

* Trò chơi áp dụng cho bài 1 ở các bảng nhân, chia và bài ôn tập bảng nhân, bảng chia.

     4.1.2. Trò chơi giành cờ chiến thắng

* Mục đích chơi :

-  Củng cố khái niệm gấp lên một số lần và giảm đi một số lần

-  Luyện cách xử lý linh hoạt .

* Chuẩn bị chơi : Giáo viên chuẩn bị một số phiếu học tập  

*Cách chơi : Giáo viên phát cho mỗi bàn một phiếu . Em ngồi đầu dãy làm phép tính đầu tiên rồi viết kết quả vào hình tròn sau đó chuyển ngay phiếu cho bạn thứ 2 trong dãy để tính tiếp. Cứ như vậy cho đến học sinh cuối cùng của dãy.                               

      Nếu nhóm nào về đích trước < làm nhanh và đúng nhất > thì thắng cuộc, giành được cờ chiến thắng, nhận được một phần thưởng .                                    

      Trong trường hợp các đội cùng làm xong một lúc thì đội nào có  kết quả đúng, trật tự khi chơi sẽ thắng cuộc.

      Trò chơi có thể sử dụng trong tiết luyện tập bài số 1 trang 38 SGK, tiết luyện tập chung bài số 4 trang 77 SGK.

     4.2.1. Thiết kế trò chơi trên bài giảng điện tử

     4.2.1. Trò chơi vòng quay kì diệu

* Mục đích:

- Củng cố các phép nhân trong bảng nhân ( bảng nhân 6).

- Luyện nhẩm nhanh.

* Chuẩn bị:

- Giáo viên:  phần thiết kế trên máy.

- Học sinh : bảng con, phấn, khăn lau.

* Cách chơi: GV chia lớp thành 3 hoặc 4 đội ( chia theo tổ).

Giáo viên lần lượt đưa ra các phép nhân của bảng nhân 6. Với mỗi phép nhân, học sinh có 5 giây suy nghĩ và viết kết quả của phép tính ra bảng con. Sau mỗi phép tính, tổ nào có tất cả các bạn trả lời đúng, tổ đó sẽ nhận được 1 bông hoa. Kết thúc trò chơi, tổ nào nhận được nhiều bông hoa nhất tổ đó chiến thắng.

* Trò chơi có thể áp dụng cho phần kiểm tra bài cũ hoặc củng cố kiến thức.

     4.2.2. Trò chơi bông hoa kì diệu

* Mục đích:

- Thứ tự thực hiện các phép tính trong biểu thức số.

- Luyện kĩ năng tính nhẩm.

* Chuẩn bị:

- Giáo viên:  phần thiết kế trên máy.

- Học sinh : bảng con, phấn, khăn lau.

* Cách chơi: Cô có bông hoa 5 cánh, dưới mỗi cánh hoa này là một biểu thức, phần bên trong nhụy hoa là két quả của mỗi biểu thức. Các con phải tìm kết quả của mỗi biểu thức trong 20 giây bằng cách lựa chọn 1 kết quả trong phần nhụy hoa viết ra bảng con. Sau mỗi biểu thức, tổ nào có tất cả các bạn trả lời đúng, tổ đó sẽ được 1 cánh hoa. 5 cánh hoa sẽ tạo thành 1 bông hoa kì diệu. Tổ nào có được bông hoa kì diệu thì mỗi bạn trong tổ sẽ được một điều ước.

* Trò chơi có thể áp dụng cho dạng bài nối

     5. Điều kiện vận dụng phương pháp dạy học tích cực

a. Thầy giáo : thầy giáo phải được đào tạo để thích nghi với  những đổi thay về chức năng, nhiệm vụ rất đa dạng và phức tạp của mình, nhiệt tình với công cuộc đổi mới giáo dục. Thầy giáo vừa phải có kiến thức chuyên môn sâu rộng có kĩ năng sư phạm lành nghề , biết ứng xử tinh tế, biết sử dụng các công nghệ tin vào dạy học, biết định hướng phát triển của học sinh theo mục tiêu giáo dục nhưng cũng đảm bảo được sự tự do của học sinh trong hoạt động nhận thức.

b. Học sinh : Dưới sự chỉ đạo của thầy giáo, học sinh phải dần dần có được những phẩm chất và năng lực thích nghi với phương pháp dạy học tích cực như: giác ngộ mục tiêu học tập, tự giác trong học tập, có ý thức trách nhiệm về kết quả học tập của mình và két quả chung của lớp, biết tự học và tranh thủ học ở mọi nơi, mọi lúc, bằng mọi cách, phát triển các loại hình tư duy biện chứng, lôgíc, hình tượng, tư duy kĩ thuật, tư duy kinh tế…

c. Các quy định và sách giáo khoa : Phải giảm bớt khối lượng kiến thức nhồi nhét, tạo điều kiện cho thầy trò tổ chức những hoạt động học tập tích cực; giảm bớt những quy tắc buộc học sinh phải ghi nhớ máy móc, tăng cường các bài toán nhận thức để học sinh tập giải,  giảm bớt những câu hỏi tái tạo, tăng cường loại câu hỏi phát triển trí thông minh,  giảm bớt những kết luận áp đặt, tăng cường những gợi ý để học sinh tự học và phát triển bài học.

d. Thiết bị dạy học 

      Thiết bị dạy học là điều kiện không thể thiếu được cho việc triển khai các quy định, sách giáo khoa nói chung và đặc biệt cho việc triển khai đổi mới phương pháp dạy học hướng vào hoạt động tích cực, chủ động của học sinh. Đáp ứng yêu cầu này phương tiện thiết bị dạy học phải tạo điều kiện thuận lợi cho học trò thực hành các hoạt động độc lập hoặc các hoạt động nhóm.

       Cơ sở vật chất của nhà trường cũng cần hỗ trợ đắc lực cho việc tổ chức dạy học được thay đổi dễ dàng, phù hợp với dạy học cá thể, dạy học hợp tác.
       Trong quá trình soạn thảo sách giáo khoa, sách giáo viên, các tác giả đã chú ý lựa chọn danh mục thiết bị và dự bị các thiết bị dạy học theo một số đề nghị để có khả năng phát huy vai trò của thiết bị dạy học như:

- Đảm bảo tính đồng bộ, hệ thống , thực tiễn và đạt chất lượng cao, tạo điều kiện đẩy mạnh hoạt động của học trò trên cơ sở tự khám phá tri thức, hoạt động thực hành trong quá trình học tập.

- Đảm bảo để nhà trường có khả năng đạt được thiết bị dạy học ở mức tối thiểu, đó là những thiết bị thực sự cần thiết không thể thiếu được. Các nhà trường đẩy mạnh việc thiết kế và tự làm đồ dùng dạy học có chất lượng phục vụ giảng dạy.

e. Đổi mới đánh giá kết quả học tập của học sinh.

      Đánh giá là một khâu quan trọng không thể thiếu được trong quá trình giáo dục. Đánh giá thường nằm ở giai đoạn sau cuối của một giai đoạn giáo dục và sẽ là khởi điểm của một giai đoạn giáo dục tiếp theo với trình độ cao hơn, chất lượng mới hơn trong cả một quá trình giáo dục.

      Đánh giá kết quả học tập của học sinh là quá trình quan sát, thu thập minh chứng và xử lí thông tin về trình độ, khả năng thực hành mục đích học tập của học sinh.

      Chất lượng giáo dục chỉ có được nếu học sinh tự tin, thích học, say mê, tìm tòi sáng tạo trong quá trình học, từ đó phát triển năng lực, phẩm chất của chính học sinh. Chính vì vậy, việc đánh giá phải tập trung vào mục đích hình thành động lực bên trong của việc học, đồng thời giúp giáo viên đổi mới cách dạy, giúp học sinh được học, thích học và học tốt hơn.

     6. Khai thác yếu tố tích cực trong các biện pháp dạy học truyền thống

     Đổi mới biện pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh không có nghĩa là gạt bỏ, loại trừ, thay thế hoàn toàn các biện pháp dạy học truyền thống, hay phải “nhập nội” một số biện pháp xa lạ vào quá trình dạy học mà cần kế thừa, phát triển những mặt tích cực của biện pháp dạy học hiện có, song song phải học hỏi, áp dụng một số biện pháp dạy học mới một cách phù hợp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh trong học tập, phù hợp với tình cảnh điều kiện dạy và học cụ thể.

     IV. MỘT SỐ VÍ DỤ MINH HỌA CỤ THỂ ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC

     Trong thực tế với mỗi hoạt động giáo viên thường kết hợp linh hoạt nhiều phương pháp dạy học:

     1. Dạy các phép nhân trong bảng

- Ở lớp 3 (học kỳ I): học sinh tiếp tục học các bảng nhân, bảng chia 6, 7, 8, 9. Lúc này các em đã có kinh nghiệm sử dụng đồ dùng học tập (các miếng bìa với số chấm tròn như nhau), đã quen và thành thạo với cách xây dựng phép nhân từ những miếng bìa đó. Hơn nữa, lên lớp 3 trình độ nhận thức của học sinh phát triển hơn trước (khi học lớp 2) nên khi hướng dẫn học sinh lập các bảng nhân hoặc bảng chia, giáo viên vẫn yêu cầu học sinh sử dụng các đồ dùng học tập nhưng ở một mức độ nhất định, phải tăng dần mức độ khái quát để kích thích trí tưởng tượng, phát triển tư duy cho học sinh. Chẳng hạn:

- Giáo viên không cùng học sinh lập các phép tính như ở lớp 2 mà chỉ nêu lệnh để học sinh thao tác trên tấm bìa với các chấm tròn để lập 3 phép tính trong bảng, các phép tính còn lại học sinh phải tự lập dựa vào phép đếm thêm hoặc dựa vào các bảng nhân đã học.VD: Khi hướng dẫn học sinh tự lập Bảng nhân 6, giáo viên yêu cầu học sinh sử dụng các tấm bìa, mỗi tấm bìa có 6 chấm tròn để lập các phép tính:

6 x 1 = 6

6 x 2 = 12

6 x 3 = 18

Sau đó cho học sinh nhận xét để từ 6 x 2 = 12 suy ra được 6 x 3 = 18.

Cụ thể là: Với 3 tấm bìa

Học sinh nêu: “6 được lấy 3 lần, ta có 6 x 3”

Mặt khác cũng từ 3 tấm bìa này ta thấy 6 x 3 chính là 6 x 2 + 6

Vậy 6 x 3 = 6 x 2 + 6 = 18

      Bằng cách như vậy, học sinh có thể không dùng tấm bìa mà vẫn tự tìm được kết quả của phép tính:

6 x 4 = 6 x 3 + 6 = 24

6 x 5 = 6 x 4 + 6 … Hoặc dựa trên bảng nhân đã học:

6 x 4 = 4 x 6 = 24

6 x 5 = 5 x 6 …

     2. Dạy các phép nhân ngoài bảng

     2.1. Nhân số có 2 chữ số với số có 1 chữ số ( không nhớ )

GV đưa bài toán.

Sau khi HS ( cá nhân)  rút ra được 12 x 3

? Phép nhân này có gì khác các phép nhân đã học? (Thừa số thứ 1 là số có 2 chữ số)

               Lượt nhân thứ hai: 3 x 1 = 3, viết 3.

                    ( Lưu ý  HS viết 3 thẳng 1 )

Gọi 1 HS nhắc lại.

Muốn nhân số có 2 chữ số với số có 1 chữ số ta thực hiện như thế nào?

-> Nhận xét -> GV chốt đúng -> 1 học sinh nhắc lại.

     2.2. Nhân số có 2 chữ số với số có 1 chữ số ( có nhớ )

GV đưa ra 1 phép nhân số có 2 chữ số với số có 1 chữ số ( không nhớ )

Mục đích:

+Củng cố lại kiến thức nhân số có 2 chữ số với số có 1 chữ số (không nhớ ). +Làm cầu nối vào kiến thức mới

VD: Đặt tính rồi tính: 23 x 3   (sử dụng ở kiểm tra bài cũ )

YC HS làm bài -> 1 HS chữa bài -> YC HS trình bày cách tính -> Nhận xét

-> Chốt đúng.

? Muốn nhân số có 2 chữ số với số có 1 chữ số ta làm như thế nào?

GV đưa ra bài tập: VD: Đặt tính rồi tính: 23 x 4

YC HS trao đổi nhóm đôi hoàn thành YC

GV tổng hợp ý kiến của các nhóm.

GV chốt: Lượt nhân thứ nhất: 4 x 3 = 12, viết 2 nhớ 1.

               Lượt nhân thứ hai: 4 x 2 = 8, thêm 1 bằng 9, viết 9.

? Phép nhân này ( 23 x 4 ) có gì khác các phép nhân đã học ở tiết trước? Có nhớ mấy lần? Lượt nhân nào có nhớ ? Nhớ bao nhiêu? Ta nhớ sang đâu ?

GV đưa thêm VD: Đặt tính rồi tính: 54 x 6

Gọi 1 HS chữa bài -> Tổ chức cho HS giao lưu

-> GV nhận xét

? Nhân số có 2 chữ số với số có 1 chữ số có nhớ ta phải lưu ý gì ?

? Lượt nhân nào có kết quả bằng 10 hoặc lớn hơn 10 ta phải làm gì?

     2.3. Nhân số có 3 chữ số với số có 1 chữ số

GV đưa bài toán.

Sau khi HS ( cá nhân)  rút ra được 324 x 2

? Phép nhân này có gì khác các phép nhân đã học?( Thừa số thứ 1 là số có 3 chữ số)

YC HS vận dụng kiến thức đã học ( nhân số có 2 chữ số với số có 1 chữ số ) hoàn thành bài tập.

GV quan sát hướng dẫn những HS yếu.

Gọi 1 HS chữa bài -> YC HS trình bày cách đặt tính và thực hiện tính

-> Nhận xét -> GV chốt đúng -> 1 học sinh nhắc lại

? Nhân số có 3 chữ số với số có 1 chữ số với số có 1 chữ số có điểm giống và khác với nhân số có 2 chữ số với số có 1 chữ số?

GV đưa tiếp yêu cầu: Đặt tính rồi tính: 326 x 3

YC HS vận dụng kiến thức đã học hoàn thành YC.

GV quan sát hướng dẫn những HS yếu.                              

Gọi 1 HS chữa bài -> YC HS trình bày cách đặt tính và thực hiện tính

-> Nhận xét -> GV chốt đúng -> 1 học sinh nhắc lại.

? Em có nhận xét gì về 2 phép nhân này ?

( 324 x 2 là phép nhân không nhớ, 326 x 3 là phép nhân có nhớ )

? Phép nhân này ( 326 x 3 ) có nhớ mấy lần ?

? Lượt nhân nào có nhớ ? Nhớ bao nhiêu ? Phải nhớ sang đâu ?

? Muốn nhân số có 3 chữ số với số có 1 chữ số ta làm như thế nào?

? Lượt nhân nào có kết quả bằng 10 hoặc lớn hơn 10 ta phải lưu ý gì?

( hoặc với những phép nhân có nhớ ta phải lưu ý gì ? )

Nhận xét - > Chốt đúng -> Gọi HS nhắc lại.

* Có thể áp dụng cho các bài nhân số có 4, 5 chữ số với số có 1 chữ số.

     VI. KẾT QUẢ

     Sau khi đề tài được áp dụng thực hiện cho học sinh lớp tôi, qua quan sát kết quả học tập của học sinh trong các tiết học cũng như qua các lần kiểm tra trong năm học vừa qua, tôi thấy học sinh đạt kết quả cao hơn so với năm học trước, những khó khăn, sai lầm trong khi thực hiện phép nhân và các dạng toán liên quan đến phép nhân đã giảm hẳn. Mục tiêu về nội dung dạy học phép nhân số tự nhiên Toán lớp 3 được đảm bảo và đạt kết quả cao. 100% học sinh sau khi khảo sát đều đạt yêu cầu như:

-  Học thuộc các bảng nhân 6, 7, 8, 9.

- Học sinh biết tính nhẩm trong phạm vi các bảng nhân hoặc trong các trường hợp đơn giản, thường gặp về phép nhân.

- Biết thực hiện thành thạo các phép nhân số có 2, 3, 4, 5 chữ số với số có 1 chữ số.

- Kĩ năng thực hiện phép nhân đối với các dạng bài liên quan đến phép nhân khá tốt.

     * Thông qua việc dạy học phép nhân theo phương pháp tích cực các em còn phát triển một số kĩ năng như:

      - Phát triển khả năng tư duy: so sánh, lựa chọn, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá.

     - Diễn đạt ngắn gọn, rõ ràng thông tin.

     - Tập phát hiện, tìm tòi, chiếm lĩnh kiến thức mới.

      - Chăm chỉ, cẩn thận, tự tin, hứng thú trong học tập và thực hành toán.

     VII. BÀI HỌC KINH NGHIỆM

       Trong quá trình áp dụng đề tài: “Áp dụng dạy học tích cực để rèn luyện kỹ năng thực hành phép nhân cho học sinh lớp 3”, tôi rút ra một số kinh nghiệm như sau:

        Muốn dạy tốt môn Toán, giúp học sinh hiểu, làm tốt các bài tập, trước hết giáo viên phải hiểu và nắm chắc các kiến thức và kỹ năng dạy các biện pháp tính đồng thời phải biết hướng khai thác để giúp trẻ phát triển tư duy sáng tạo trong học Toán. Giáo viên không nắm vững nội dung dạy học khi lên lớp sẽ lúng túng, hướng dấn học sinh không mạch lạc làm cho hoạt động suy nghĩ của các em luẩn quẩn và gây mất niềm tin ở các em.

      Muốn có giờ dạy học tốt, giáo viên phải thực sự có lòng yêu nghề mến trẻ, không ngại khó, ngại khổ, phải đào sâu suy nghĩ, tích cực sáng tạo, tìm tòi cái mới để dạy có được như vậy mới thành công.

      Để đảm bảo mục tiêu của giáo viên hiện đại, trong quá trình dạy học người giáo viên cần phải dạy cho học sinh các kỹ năng quan sát, phân tích, đặt vấn đề và lập kế hoạch giải quyết vấn đề, rèn cho học sinh tính kiên nhẫn, tinh thần say mê dưới sự gợi mở của thầy.

       Trong đánh giá, việc chấm tay đôi với học sinh hoặc để cho học sinh tự chấm bài mình, được chấm bài bạn là một điều hết sức quan trọng. Trong quá trình ấy người giáo viên sẽ trực tiếp chỉ ra cho học sinh được cái hay, cái được trong khi làm các bài tập toán. Đồng thời cũng là cơ hội để các em tự đánh giá nhận xét kết quả làm việc của mình, của bạn.

C. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

     I. KÉT LUẬN

     Qua nghiên cứu đề tài này tôi thấy: Nếu giáo viên Tiểu học nắm vững bản chất toán học của các mạch kiến thức nói chung, của số học nói riêng; nắm được sự thể hiện các nội dung kiến thức đó trong sách giáo khoa thì chắc chắn việc dạy học sẽ tốt hơn. Vì vậy có hiểu đúng, chính xác kiến thức thì giáo viên mới truyền thụ cho học sinh kiến thức đúng được.

     Bằng việc tìm hiểu cách sắp xếp nội dung dạy học trong sách giáo khoa, giáo viên sẽ thấy được mối liên hệ giữa các bài học. Từ đó chú ý huy động kiến thức học sinh đã có để học bài mới, đồng thời trang bị cho học sinh những lượng kiến thức cần thiết để làm cơ sở học các bài tiếp theo.   

     Việc nắm được đặc điểm nhận thức của học sinh, các phương pháp dạy học phép nhân các số tự nhiên; định hướng đổi mới phương pháp dạy học sẽ giúp giáo viên lựa chọn và vận dụng phương pháp dạy học đúng, hiệu quả và phát huy được tính tích cực trong học tập của học sinh.

     II. KHUYẾN NGHỊ

      Muốn có kết quả cao trong việc áp dụng phương pháp dạy học toán nói chung và dạy học phép nhân ở lớp 3 nói riêng, tôi rất mong Ban giám hiệu nhà trường, Phòng giáo dục và Sở giáo dục tổ chức nhiều chuyên đề áp dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học Toán ở Tiểu học để chúng tôi có cơ hội giao lưu, học tập, nâng cao chất lượng các tiết học toán.

chỉ đạo của Quận ủy - ubnd-HĐND

Thông báo

thời tiết các vùng

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

Bình chọn

Đánh giá thái độ tiếp công dân của cán bộ Một cửa quận