tin nổi bật

Trường THCS Hoàng Văn Thụ: Nâng cao hiệu quả dạy và học kĩ năng viết thông qua các kĩ thuật phát triển ý tưởng trong chương trình Tiếng Anh THCS
Ngày đăng 14/08/2019 | 15:22

Việc dạy và học Tiếng Anh trong nhà trường đang nhận dược sự quan tâm của các bậc phụ huynh, giáo viên và học sinh. Làm thế nào để học sinh thành thạo 4 kĩ năng Nghe - Nói - Đọc - Viết luôn là thách thức đối với các giáo viên. Trong đó, Viết là kĩ năng khó nhất. Để học sinh hứng thú với các tiết học, trước hết, giáo viên cần hình thành cho các em lượng kiến thức nhất định về chủ đề viết. Chính vì vậy, sáng kiến kinh nghiệm của tôi sẽ tập trung đề xuất một số kĩ thuật bổ trợ giúp học sinh hình thành các ý tưởng viết

A. PHẦN MỞ ĐẦU

     I. Lý do chọn đề tài

     1. Cơ sở lý luận

     Hiện nay, Tiếng Anh là một bộ môn quan trọng trong chương trình giáo dục Việt Nam. Vì vậy, việc dạy và học Tiếng Anh luôn nhận được nhiều sự quan tâm của các em học sinh, giáo viên và phụ huynh. Hướng tới mục tiêu chuẩn hóa năng lực ngoại ngữ, ngày 10/ 5/ 2016, Bộ GD&ĐT đã kí quyết định số 1475/QĐ-BGDĐT về Ban hành Định dạng đề thi đánh giá năng lực sử dụng Tiếng Anh bậc 2 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam (dành cho học sinh trung học cơ sở). Theo đó, học sinh THCS sẽ được đánh giá thông qua bốn kĩ năng Nghe- Nói- Đọc- Viết. Trong đó, kĩ năng viết luôn được coi là kĩ năng khó nhất trong dạy và học Tiếng Anh. Để đạt được trình độ A2, học sinh THCS phải làm bài kiểm tra kĩ năng viết câu và viết tương tác/ sản sinh trong thời gian 35 phút. Trong phần 1, học sinh phải viết 5 câu theo gợi ý và 5 câu viết lại theo cấu trúc khác và đối với phần 2, học sinh được yêu cầu viết một lá thư điện tử/ thư cá nhân/ lời nhắn  có độ dài 60-80 từ. Nếu như đối với phần 1, học sinh nắm chắc ngữ pháp có thể ghi điểm trọn vẹn thì khi làm phần 2 hoặc bất cứ bài tập kĩ năng viết (Skills 2- chương trình Tiếng Anh), học sinh thường gặp khó khăn trong việc tìm kiếm và phát triển ý tưởng trước khi viết bài. Một ưu điểm lớn của sách Tiếng Anh chương trình hệ 10 năm đó là hướng dẫn chuyển tiếp các phần cụ thể và rõ ràng. Tuy nhiên, để đa dạng hình thức dạy học phù hợp với từng đối tượng lớp dạy và xây dựng kiến thức chuyên môn linh hoạt, tôi đã mạnh dạn nghiên cứu, học tập và cố gắng đưa các kĩ thuật phát triển ý tưởng để giúp học sinh nâng cao kĩ năng viết của mình. Đó chính là lí do tôi chọn đề tài này “Nâng cao hiệu quả dạy và học kĩ năng viết thông qua các kĩ thuật phát triển ý tưởng trong chương trình Tiếng Anh THCS (hệ 10 năm)”.

     2. Cơ sở thực tiễn

     Nhìn chung, cơ sở vật chất của nhà trường còn hạn chế, đặc biệt chỉ một vài phòng học của nhà trường được trang bị máy chiếu. Vì vậy, việc giúp học sinh hứng thú với các giờ học viết khô khan nếu không sử dụng các bài giảng điện tử sinh động là một trong những thử thách đối với giáo viên Tiếng Anh. Thông thường, học sinh thường ngại học kĩ năng viết vì các em không có ý tưởng để phát triển bài viết theo yêu cầu của đề bài. Là một giáo viên tiếng Anh, tôi luôn trăn trở làm sao để trong mỗi giờ học, học sinh không chỉ được đạt được mục tiêu của các kĩ năng viết trong mỗi đơn vị bài học mà còn tạo được cho các em hứng thú học tập, môi trường học tập tích cực.  Đặc biệt, mỗi lớp học sinh có trình độ nhận thức khác nhau nên có những bài tập, hoạt động trong sách giáo khoa, giáo viên phải thay đổi linh hoạt để các em có thể tiếp nhận kiến thức tốt nhất. Ví dụ, đối với những lớp có học lực chưa giỏi, những hoạt động thảo luận tìm ý thường gặp khó khăn và mất nhiều thời gian nên giáo viên phải chủ động linh hoạt thay đổi các hoạt động khác như sử dụng bản đồ tư duy, tranh ảnh. Để đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, tôi không ngừng nỗ lực cố gắng tạo cơ hội cho học sinh được phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo trong mỗi tiết học viết. Chính vì vậy, tôi luôn cố gắng trau dồi trình độ chuyên môn bản thân, học hỏi,tham khảo các phương pháp dạy học từ đồng nghiệp trong và ngoài nhà trường để làm thế nào nâng cao hiệu quả dạy kĩ năng viết cho học sinh bằng cách khơi gợi và hướng dẫn các em tìm và khai thác các ý tưởng viết dưới nhiều hình thức, hoạt động khác nhau.

     Trong đề tài “Nâng cao hiệu quả dạy và học kĩ năng viết thông qua các kĩ thuật phát triển ý tưởng trong chương trình Tiếng Anh THCS (hệ 10 năm)”, tôi sẽ đưa ra những kinh nghiệm của bản thân, cũng như một số tiết dạy tôi đã thử nghiệm trong thời gian qua để cùng các bạn đồng nghiệp thảo luận để tìm ra những giải pháp tốt nhất cho dạy và học kĩ năng viết trong bộ môn Tiếng Anh tại các nhà trường THCS.

     II. Mục đích, phương pháp nghiên cứu

     1. Mục đích nghiên cứu

     Đề tài “Nâng cao hiệu quả dạy và học kĩ năng viết thông qua các kĩ thuật phát triển ý tưởng trong chương trình Tiếng Anh THCS (hệ 10 năm)” đề cập việc ứng dụng các kĩ thuật phát triển ý tưởngđối với kĩ năng viết nhằm cải tiến phương pháp dạy học và nâng cao hiệu quả các giờ học Tiếng Anh. Trong đó, việc tổ chức các hoạt động nhằm phát triển ý tưởng viết đóng vai trò quan trọng không chỉ trong việc phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh mà còn nâng cao chất lượng dạy và học Tiếng Anh của các nhà trường THCS nói chung.

     2. Phương pháp nghiên cứu

     a. Phương pháp quan sát

     Đây là phương pháp thu thập thông tin bằng tri giác trực tiếp. Bản thân tôi đã trực tiếp dự giờ các đồng nghiệp trong nhà trường và rút ra nhận xét về hiệu quả của việc tìm kiếm và phát triển ý tưởng đối với kĩ năng viết trong các tiết học Skills 2.

     b. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu

     Tôi đã tìm hiểu và nghiên cứu nhiều tài liệu về phương pháp dạy kĩ năng viết. Sau đó, tôi cố gắng phân tích ưu điểm và nhược điểm của từng phương pháp để lựa chọn những kĩ thuật phát triển ý tưởng cho các bài viết phù hợp với từng đối tượng học sinh của các lớp.

     c. Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm

     Là phương pháp nghiên cứu và xem xét lại những thành quả thực tiễn trong quá khứ đểrút ra kết luận bổ ích cho thực tiễn và khoa học.

     Sau khi áp dụng các thủ thuật phát triển ý tưởng viết, tôi đã lựa chọn thiết kế các nhóm hoạt động đơn giản, thuận tiện và tiết kiệm thời gian nhất.

     III. Giới hạn của đề tài

     Trong đề tài “Nâng cao hiệu quả dạy và học kĩ năng viết thông qua các kĩ thuật phát triển ý tưởng trong chương trình Tiếng Anh THCS (hệ 10 năm)”, tôi đã tập trung nghiên cứu cách thiết kế hiệu quả các hoạt động phát triển ý tưởng trong kĩ năng viết đối với chương trình Tiếng Anh THCS.

     1. Đối tượng nghiên cứu

     Đề tài này tôi đã thử nghiệm và thực hiện trong chương trình Tiếng Anh THCS (hệ 10 năm).

     2. Phạm vi nghiên cứu

Đề tài này tôi đã tiến hành thử nghiệm tại các lớp được phân công giảng dạy bộ môn Tiếng Anh.

     3. Thời gian nghiên cứu

     Năm học 2017-2018 và năm học 2018-2019.

B. PHẦN NỘI DUNG

     I. Cơ sở lý luận của đề tài

     Trong những năm gần đây, nhiều phương pháp, hình thức dạy học mới đang được nghiên cứu, áp dụng và dần thay thế các phương pháp truyền thống nhằm mục đích tích cực hóa hoạt động của học sinh, phát triển tính tư duy, sáng tạo cho học sinh. Đặc biệt, việc thiết kế các hoạt động chú trọng phát huy tính chủ động và tương tác giữa các học sinh đã và đang được xem là một trong những hình thức đem lại hiệu quả tích cực trong việc đổi mới dạy và học Tiếng Anh trong các nhà trường THCS.

     Bước đầu tiên và cũng được coi là quan trọng nhất trong quá trình viết là giáo viên tổ chức các hoạt động phát triển ý tưởng cho học sinh bởi các kĩ thuật này có những tác dụng như sau:

     Giúp học sinh phát triển lập luận rõ ràng, chặt chẽ.

     Giúp học sinh lập bản đồ, lập kế hoạch hoặc động não vềchủ đề cho sẵn

     Giúp học sinh sắp xếp ý tưởng theo hệ thống

     Giúp học sinh phát triển tư duy phản biện

     Giúp học sinhphát huy tối đa tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong tiết học

     Giúp học sinh nâng cao kĩ năng hoạt động cặp và nhóm

     II. Thực trạng và phân tích thực trạng

     Kĩ năng viết là một trong những kĩ năng khó cho cả giáo viên và học sinh. Đặc biệt, đối với học sinh, kĩ năng viết có lẽ là kĩ năng thử thách đối với các em. Học sinh thường gặp khó khăn trong kĩ năng triển khai các ý tưởng cho bài viết. Chính những khó khăn này khiến giờ học trở nên nhàm chán, đơn điệu và ảnh hưởng rất lớn đến kết quả của dạy học.

     III. Những biện pháp giải quyết vấn đề

     1. Kĩ thuật cung cấp bài mẫu (model giving)

     Cung cấp bài mẫu là một hoạt động phù hợp với học sinh có học lực chưa tốt. Bài mẫu được cung cấp cho học sinh để đọc và phân tích để tìm ra những đặc trưng của ngôn ngữ, văn phong hoặc bố cục. Tuy nhiên, bài mẫu không nên bị lạm dụng để cho học sinh bắt chước một cách máy móc, rập khuôn. Giáo viên chỉ nên sử dụng các bài mẫu làm nguồn tài liệu để học sinh định hình, phân tích ý tưởng trong quá trình viết.

Ví dụ minh họa 1: Unit 12. Robots. Lesson 6: Skills 2 (English 6), yêu cầu học sinh viết một đoạn văn bảo vệ ý kiến rằng robot rất hữu ích trong tương lai (Write a paragraph to support the idea that robots will be useful in the future). Trước khi học sinh thực hiện hoạt động viết sản sinh, các em có một hoạt động bổ trợ là hoàn thành đoạn văn bằng cách sử dụng các gợi ý cho sẵn. Thông qua bài tập này, các em được làm quen với cấu trúc và cách tổ chức, sắp xếp và triển khai ý tưởng một đoạn văn trình bày ý kiến.

  • State the opion
  • Support the opinon

+ First,

+ Second,

+ Finally,

-Restate the opinion

Ví dụ minh họa 2: Unit 1. Leisure activities. Lesson 6: Skills 2 (English 8), yêu cầu học sinh hoàn thành đoạn văn với từ thích hợp cho sẵn (Complete the following paragraph with the words in the “Organising your ideas” box).

(1)______ , using the computer as your hobby can be harmful to both your health and your social life. (2) ______ , sitting all day in front of the computer can cause health problems such as eye-tiredness and obesity. (3) ______ , you may get irritated easily. (4) ______ , if you use the computer too much you won’t have time for your family and friends.(5) ______ , computers should only be used for a limited time.

 

Thông qua bài tập, giáo viên hướng dẫn học sinh cấu trúc của một đoạn văn bày tỏ ý kiến.

  • Introducing your opinion

+ In my opinion,

+ I believe

- Explaining your opinion

+ Firstly, secondly, thirdly, finally, besides, also, in addition

- Concluding/ Summarising your opinion

+ For these reasons,

+ In short,

+ As I have noted,

(1)______ , using the computer as your hobby can be harmful to both your health and your social life. (2) ______ , sitting all day in front of the computer can cause health problems such as eye-tiredness and obesity. (3) ______ , you may get irritated easily. (4) ______ , if you use the computer too much you won’t have time for your family and friends.(5) ______ , computers should only be used for a limited time.

     2. Kĩ thuật sử dụng tranh ảnh (picture using)

     Hình ảnh được coi là một trong những công cụ hiệu quả nhất mà giáo viên Tiếng Anh sử dụng trong các tiết dạy. Sử dụng tranh ảnh có thể khuyến khích sự tưởng tưởng, sức sáng tạo của học sinh ở nhiều trình độ khác nhau. Cùng một hình ảnh nhưng mỗi học sinh có cách tri nhận và sự giải mã của riêng mình, vì vậy sản phẩm mang dấu ấn cá nhân khá lớn. Ngoài ra, tranh ảnh sinh động có thể thu hút học sinh nhiều hơn trong các tiết dạy viết. Giáo viên có thể sử dụng các bức tranh khác nhau liên quan đến chủ đề viết và chia học sinh thành các cặp hoặc nhóm để hình thành ý tưởng viết. Kĩ thuật này phù hợp với các nhóm học sinh có học lực trung bình hoặc áp dụng đối với các đề tài khó đối với học sinh.

Ví dụ minh họa 1: Unit 7. Our Tet holiday. Lesson 6: Skills 2 (English 6), yêu cầu học sinh viết email gửi cho một người bạn về ngày Tết sắp tới, sử dụng cấu trúc will/ won’t và should/ shouldn’t. (Now write an e-mail to a friend about your Tet holiday. Include what you will/ won’t do. Also include things people should/ shouldn’t do. )

Giáo viên có thể cung cấp cho học sinh một số bức tranh để giúp học sinh hình thành ý tưởng trước khi viết bài như sau:

Thông qua những bức tranh trên, học sinh có thể nhanh chóng hình thành ý tưởng cho bài viết của mình như sau:

  • Should: plant trees, make a wish, clean houses, behave well, make a wish
  • Shouldn’t: break things, give a cat as present
  • Will: make chung cakes, eat a lot of sweets, make a wish, clean houses, behave well
  • Won’t: break things, give a cat as presents

Ví dụ minh họa 2: Unit 5. Vietnamese food and drink. Lesson 6: Skills 2 (English 7), yêu cầu học sinh viết một đoạn văn về đồ ăn hoặc thức uống nổi tiếng ở khu vực bạn sống. (Write a paragraph about popular foods and drinks in your neightbourhood. Choose one or more.)

Giáo viên có thể cung cấp cho học sinh một số bức tranh để gợi ý cho học sinh một số món ăn trong bài viết.

Một biến thể khác của kĩ thuật này là giáo viên chỉ cung cấp cho học sinh một bức tranh duy nhất thay vì nhiều bức tranh nhỏ. Giáo viên tổ chức lớp học thành các cặp và các nhóm và yêu cầu học sinh liệt kê tất cả các hoạt động trong bức tranh.

Ví dụ minh họa 3: Unit 2. Life in the countryside. Lesson 6: Skills 2 (English 8), giáo viên có thể gợi ý học sinh với hai bức tranh phía trên về sự thay đổi của nông thôn để học sinh có thể thực hiện hiệu quả hoạt động thảo luận tìm ý tưởng trước khi viết bài (Write a short paragraph about the changes).

     3. Kĩ thuật động não (brainstorming)

     Kĩ thuật động não, còn được gọi là liệt kê, là một quá trình phát triển ý tưởng trong một khoảng thời gian ngắn bằng cách xây dựng các mối quan hệ trong chủ đề cho sẵn theo các bước như sau:

- Viết vắn tắt tất cả các ý liên quan tới các chủ dề. Hoạt động này sẽ hiệu

quả hơn nếu giáo viên cho học sinh thực hiện theo nhóm. Tất cả các thành viên trong nhóm sẽ động não và nghĩ ra ý tưởng và một thành viên có vai trò thư kí và ghi lại ý tưởng thật nhanh.

- Sắp xếp tất cả các ý tưởng trên thành hệ thống phù hợp.

      - Đặt cho mỗi nhóm một đề mục.

      - Viết câu chủ đề cho từng đề mục.

Ví dụ minh họa 1: Unit 7. Traffic. Lesson 6: Skills 2 (English 7), yêu cầu học sinh viết một đoạn văn về các vấn đề giao thông nơi em ở hoặc ở một thành phố hoặc thị trấn em biết. (Write a paragraph about the traffic problems where you live, or in town, or the city you know well.). Giáo viên chia lớp thành nhóm 4 học sinh và yêu cầu các nhóm liệt kê các vấn đề giao thông ở các thành phố lớn của Việt Nam. (Giáo viên có thể đồng thời cung cấp các tranh trong Sách giáo khoa – trang 13 để gợi ý cho các em và góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động)

- Too many people using the road

- Traffic accidents

- Young people riding their bikes dangerously

- Too many vehicles

- Narrow and bumby roads

- Traffic jams

- Poor consciousness of motorcyclists and drivers

- Corruption in the law

Sau đó, giáo viên hướng dẫn học sinh nhóm các ý tưởng thành hệ thống và đặt đề mục cho mỗi nhóm:

Subjective problems:

+ Too many people using the road

     + Traffic accidents

     + Young people riding their bikes dangerously

     + Traffic jams

     + Poor consciousness of motorcyclists and drivers

     + Corruption in the law

Objective problems:

+ Too many vehicles

     + Narrow and bumby roads

Cuối cùng, giáo viên hướng dẫn học sinh viết câu chủ đề cho mỗi nhóm đề mục.

Ví dụ minh họa 2: Trong Unit 6. Viet Nam: Now and then. Lesson 6: Skills 2 (English 9), trước khi viết bài, học sinh được yêu cầu làm việc theo cặp và thảo luận về những tính cách cần có trong một gia đình nhiều thế hệ. (Work in pairs. Discuss which three of the following qualities would be necessary for people living in an extended family. Remember to give reasons.)

     4. Kĩ thuật những câu hỏi của nhà báo (the journalist’s questions)

     Kĩ thuật này được xây dựng từ chính thủ thuật của các nhà báo. Khi viết bài, thông thường, các nhà báo thường phải trả lời 5 câu hỏi W (Who?, What?, Where?, When?, Why?) và 1 câu hỏi H (How). Học sinh có thể sử dụng những từ dể hỏi này để phát triển ý tưởng cho bài viết của mình. Một lưu ý khi sử dụng kĩ thuật này là học sinh phải linh hoạt sử dụng các câu hỏi để đưa ra tối đa các ý tưởng về chủ đề cho sẵn. Ví dụ: Trong yêu cầu bài viết Unit 11. Travelling in the future (Tiếng Anh 7), học sinh viết về phương tiện giao thông trong tương lai (Write a short paragraph about a future means of transport in this unit. Include both facts and opinions about the vehicle). Với đề bài này, học sinh rất khó để trả lời cho câu hỏi Who, vì vậy, đối với từng chủ dề khác nhau, học sinh khéo léo và linh hoạt lựa chọn các câu hỏi phù hợp.

Dưới đây là những câu hỏi gợi ý cho từng từ để hỏi:

Who:

+ Who are the participant?

+ Who is affected?

+ Who are the primary actors?

+ Who are the secondary actors?

What:

+ What is the topic?

+ What is the significance of the topic?

+ What is the basic problem?

+ What are the issues?

Where:

+ Where does the activity take place?

+ Where does the problem or issue have its source?

+ At what place is the cause or effect of the problem most visible?

When:

+ When is the issue most apparent? (Past? Present? Future?)

+ When did the issue or problem develop?

+ What historical forces and at what point in time will the problem or issue culminate in a crisis?

+ When is action needed to address the issue or problem?

Why:

+ Why did the issue or problem arise?

+ Why is it (your topic) an issue or problem at all?

+ Why did the issue or problem develop in the way that it did?

How:

+ How is the issue or problem significant?

+ How can it be addressed?

+ How does it affect the participants?

+ How can the issue or problem be resolved?

Những câu hỏi trên có tính hiệu quả cao trong phát triển thông tin về một chủ đề rất nhanh. Đặc biệt, tôi thường sử dụng kĩ thuật này để dạy bồi dưỡng học sinh giỏi bởi bất kì đề bài nào học sinh cũng có thể vận dụng linh hoạt.

Ví dụ minh họa 1 : Unit 5. Vietnamese food and drink. Lesson 6: Skills 2 (English 7), yêu cầu học sinh viết một đoạn văn về đồ ăn hoặc thức uống nổi tiếng ở khu vực bạn sống. (Write a paragraph about popular foods and drinks in your neightbourhood. Choose one or more.)

Trước khi học sinh viết bài, giáo viên yêu cầu học sinh tự đặt câu hỏi với các từ để hỏi (học sinh khá giỏi) hoặc cho sẵn câu hỏi để học sinh trả lời (học sinh trung bình)

Who often cooks this food/ drink?

When is it cooked?

Where is it cooked?

What are its ingredients?

How is it cooked?

Why is it cooked

 

Ví dụ minh họa 2 : Unit 11. Our houses in the future. Lesson 6: Skills 2 (English 6), yêu cầu học sinh viết một đoạn văn về ngôi nhà mơ ước của bản thân. (Write about your drem house). Trước khi học sinh viết bài cá nhân, giáo viên hướng dẫn học sinh trả lời các câu hỏi:

1.What type of house it is

2. Where it is located

3. What it looks like

4. What surrounds it

5. What appliances it has

     5. Kĩ thuật bản đồ trí não (mind-map)

     Kĩ thuật bản đồ trí não (mind-map) còn có tên gọi khác nhau như phân cụm (clustering). Đây là một cách hiệu quả để phát triển ý tưởng của học sinh trên giấy trong mối quan hệ với những ý tưởng khác. Bản đồ trí não thường được thực hiện đơn giản trên giấy hoặc trên bảng. Bắt đầu bằng cách đặt một chủ đề ở giữa trang và vẽ một vòng tròn xung quanh nó. Sau đó, khi các từ, cụm từ và ý tưởng liên quan xuất hiện trong đầu, học sinh sẽ viết chúng, khoanh tròn chúng và kết nối chúng với các vòng tròn có kèm theo các ý tưởng liên quan. Tiếp tục miễn là các em quan tâm tới việc lấp đầy trang bằng một bản đồ suy nghĩ ngày càng phức tạp của mình. Ở hoạt động này, giáo viên sẽ đóng vai trò là người tư vấn khi học sinh phát triển ý tưởng quá lan man so với chủ đề ban đầu. Điều làm cho việc sử dụng bản đồ trí não trở nên hữu ích là hầu hết học sinh đều không tư duy theo đường thẳng. Ý tưởng của học sinh có thể bắt đầu theo một hướng, nhưng một ý nghĩ dẫn đến một hướng khác mà các em có thể muốn ghi lại trước khi quay lại ý tưởng ban đầu.

Ví dụ minh họa 1: Unit 12. Life on other planets. Lesson 6: Skills 2 (English 8), yêu cầu học sinh viết về người ngoài hành tinh trong tưởng tượng (Write a description of your alien). Trước khi viết, học sinh sử dụng trí tưởng tượng của mình để hoàn thành sơ đồ mạng như sau:

Ví dụ minh họa 2: Unit 9. Natural disasters. Lesson 6: Skills 2 (English 8), yêu cầu học sinh viết về một thảm họa thiên nhiên. Trước khi viết, học sinh được yêu cầu hoàn thành bảng theo mẫu để hình thành ý tưởng nội dung bài viết:

Type of natural disaster

 

What is this disaster?

 

When and where did the disaster occur?

 

What are the effects of this disaster?

 

What has been done to help the victims of the disaster?

 

     6. Kĩ thuật thảo luận (discussion)

     Một hình thức đơn giản nhưng đem lại hiệu quả cao trong cách thức tổ chức hoạt động phát triển ý viết là thảo luận. Giáo viên thường chia lớp thành các nhóm nhỏ và yêu cầu học sinh trao đổi và thảo luận về chủ đề cho trước trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi thời gian kết thúc, học sinh có thể phác thảo ý tưởng chung thành một dàn ý cụ thể giúp các em tiến hành quá trình viết bài dễ dàng hơn. Đây là một hoạt động khá phù hợp với các em học sinh THCS, đặc biệt đối với học sinh khá giỏi bởi khả năng tri nhận của các em thường theo tư duy trực tiếp dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Hoạt động này có khả năng phát huy tính tích cực, chủ động cao cho học sinh bởi các em được tương tác với nhau thoải mái mà không bị áp lực đánh giá từ giáo viên. Hơn thế nữa, thảo luận sẽ giúp học sinh nâng cao được tư duy phản biện vì học sinh sẽ phải tìm được ý tưởng chung từ các thành viên trong nhóm. Kĩ thuật thảo luận có thể là cầu nối với các kĩ thuật khác. Cụ thể, sau khi học sinh thực hiện kĩ thuật động não, đại diện học sinh các nhóm có thể trình bày miệng ý tưởng của nhóm và các nhóm tiếp tục thực hiện thảo luận trong phạm vi cả lớp với nhau.

Ví dụ minh họa 1: Unit 7. Pollution. Lesson 6: Skills 2 (English 8), yêu cầu học sinh thực hiện hoạt động viết tương tác với bạn mình: Học sinh 1 viết một đoạn văn về nguyên nhân và học sinh 2 viết một đoạn văn về ảnh hưởng của một loại ô nhiễm (Imagine that you two are writing an article for the local newspaper about a type of pollution in your area. One of you writs about the effects of the pollution and the other writes about the effects of the pollution type you have just discussed). Trước khi viết, giáo viên tổ chức cho học sinh làm việc theo cặp và lựa chọn về một loại ô nhiễm đang xảy ra ở khu vực đang sinh sống. Sau đó, học sinh cùng thảo luận về định nghĩa, nguyên nhân và ảnh hưởng của nó.

__________pollution

Definition: ___________

Effects: ___________

Causes: ___________

  Ví dụ minh họa 2: Unit 5. Festivals in Viet Nam. Lesson 6: Skills 2 (English 8), yêu cầu học sinh thực hiện hoạt động viết bài báo về một lễ hội  (Write an article about the festival for the school website). Trước khi viết, họcsinh xây dựng ý tưởng bài viết thông qua hoạt động thảo luận và ghi chép lại ý tưởng dưới dạng sơ đồ mạng. Đây là một hoạt động bổ ích vì các em có cơ hội

trình bày quan điểm cá nhân và tăng cường khả năng giao tiếp.

     7. Kĩ thuật hỏi-trả lời (asking - answering)

     Kĩ thuật hỏi- trả lời thường được giáo viên tổ chức theo cặp: một học sinh hỏi, một học sinh trả lời và ngược lại về chủ đề các em sẽ viết. Hoạt động này mang lại hiệu quả cao khi áp dụng đối với các chủ đề cá nhân như viết về sở thích, thói quen, phương pháp học…bởi thông qua câu trả lời các em sẽ định hình được ý tưởng cho bài viết riêng của mình. Qua đó, các em có thể phát triển kĩ năng nghe nói tương tác với nhau và đây là một hình thức học theo đường hướng giao tiếp được nhiều giáo viên lựa chọn trong các tiết dạy.

     Đây là một trong những cách tiếp cận tốt nhất và hữu ích nhất để học sinh bắt đầu viết bài, đặc biệt nếu các em thực sự không biết bắt đầu từ đâu. Ở đây, học sinh viết ra tất cả các câu hỏi phù hợp với chủ đề. Đây chắc chắn là những câu hỏi chính đáng, có thể là những câu hỏi mà các em có. Bằng cách tạo ra rất nhiều câu hỏi, cũng như buộc bản thân phải suy ngẫm câu trả lời cho những câu hỏi đó, học sinh sẽ nhận ra rất nhiều ý tưởng, vấn đề, suy nghĩ, có khả năng khiến các em bắt đầu viết giấy. Bằng cách tập trung vào một câu hỏi không dễ trả lời, học sinh sẽ có một khuôn khổ cho lập luận của mình.

Ví dụ minh họa 1: Unit 7. Television. Lesson 6: Skills 2 (English 6), yêu cầu học sinh viết một đoạn văn về thói quen xem ti vi (Write a short description of  your TV- watching habits).

Trước khi viết bài, học sinh phải thực hiện hai bài tập nhỏ:Trả lời câu hỏi: What are your TV- watching habits?

Giáo viên hỏi trực tiếp cả lớp và gọi đại diện một số học sinh trình bày ý kiến của mình.

  • Chọn đáp án tương ứng với mỗi câu hỏi trong bảng sau:

 

  1. How many hours a day do you watch TV?

1 hour

2-3 hours

Depends

  1. How do you compare the time you spend watching TV to the time you spend on outdoor activities?

More

Less

the same

  1. Do you watch TV when you are...?

Eating

entertaining

Reading

  1. What kind of programme do you watch most?

Educational

entertaining

Sports

  1. Do you leave your TV on when you are not watching TV?

Never

sometimes

Often

     Trong Sách giáo khoa, bài tập này được thiết kế cho từng cá nhân: Học sinh chỉ cần đánh dấu vào câu trả lời cho từng câu hỏi. Tuy nhiên, khi thực hiện bài dạy này, tôi đã thay đổi cách thức tổ chức hoạt động theo cặp: Yêu cầu học sinh hỏi và trả lời, có thể sử dụng các gợi ý câu trả lời trong bài và khuyến khích học sinh trả lời theo ý kiến cá nhân dưới dạng câu hoàn chỉnh.Thông qua hoạt dộng hỏi và trả lời theo cặp, học sinh được luyện tập thêm về thì hiện tại đơn và đồng thời phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo hơn cho học sinh.

     Một hình thức tổ chức khác của kĩ thuật hỏi-trả lời có thể áp dụng đối với các lớp học sinh khá giỏi là giáo viên giao nhiệm vụ đặt câu hỏi cho học sinh. Cụ thể như sau:

     Giới thiệu chủ đề và yêu cầu học sinh nghĩ các câu hỏi liên quan đến chủ đề.

     Mỗi học sinh viết ít nhất 3 câu hỏi trong thời gian 2 phút.

     Học sinh trao đổi câu hỏi với bạn trong thời gian 1 phút.

     Giáo viên tổng hợp một số câu hỏi lên bảng.

     Học sinh dựa vào các câu hỏi để viết bài.

Ví dụ minh họa 2: Unit 3. My friends. Lesson 6: Skills 2 (English 6), yêu cầu học sinh viết một kế hoạch với bạn bè dịp cuối tuần (Write for 4Teen magazine about your plans this weekend with your friends). Giáo viên có thể linh hoạt thay đổi hoạt động như sau:

Viết các gợi ý trong sách giáo khoa lên bảng: Introduce yourself;Describeyour friends; Describe your plans.

Yêu cầu học sinh tìm các câu hỏi tương ứng với mỗi ý trên.

Gọi học sinh viết lên bảng các câu hỏi:

+ Introduce yourself:

What’s your name?

Where are you from?

What do you look like?

What are you like?

+ Describe your friends:

What’s his/ her name?

Where is he/she from?

What does he/she look like?

What is he/she like?

What does he/she like?

+ Describe your plans:

What are you doing this weekend?

Are you going out or staying at home?

Are you looking forward to this weekend?

     8. Kĩ thuật viết tự do (free writing)

     Viết tự do là một kĩ thuật thay thế cho động não bằng miệng và cho phép sinh viên phát triển cá nhân những ý tưởng ban đầu. Giáo viên có thể tổ chức cho học sinh hoạt động viết tự do trong giai đoạn trước khi viết bài. Viết tự do rất giống với việc động não ở chỗ nó đưa mọi suy nghĩ của học sinh ra giấy. Tuy nhiên, trong trường hợp động não thường trông giống như một danh sách các ý tưởng, thì viết tự do thường có hình dạng của các câu chính thức hơn. Học sinh viết liên tục các ý tưởng liên quan tới chủ đề cho sẵn trong khoảng thời gian quy định (khoảng 5-10 phút) và không cần chú trọng các quy tắc ngữ pháp và chính tả. Viết tự do là viết mà không quan tâm đến tính chính xác hoặc chất lượng. Đó là một nỗ lực để giải phóng sự sáng tạo của học sinh mà không có sự can thiệp từ trung tâm kiểm soát chất lượng có ý thức hơn trong não của các em. Kĩ thuật viết tự do giống như việc chỉ mở cửa lên xe và lái: không có điểm đến cũng không có mục tiêu để đạt; tất cả trong một quá trình và quá trình là tất cả. Học sinh trả lời một ý tưởng chung trong một bài tập viết đúng thời gian mà không hạn chế về nội dung. Bài tập viết này có hình thức của một dòng ý thức. Bài tập viết tự do cho phép học sinh tạo ra những suy nghĩ về chủ đề và tạo ra một trọng tâm tiềm năng cho một bài tường thuật. Các văn bản phi cấu trúc cũng có thể dẫn đến các ý tưởng chính để đưa vào sản phẩm cuối cùng. Cho dù học sinh viết tốt hay chưa tốt thì giáo viên cũng không kiểm duyệt ý tưởng của học sinh trong kĩ thuật này.

     Kĩ thuật này có thể áp dụng ở các lớp học sinh có nhận thức tốt và phản xạ nhanh với đề bài. Tôi thường áp dụng kĩ thuật này ở các nhóm bồi dưỡng họcsinh giỏi bởi thông qua kĩ thuật, tôi luôn khuyến khích học sinh phải tự xác định và phát triển khối lượng từ vựng phù hợp với đề bài

C. PHẦN KẾT LUẬN

     I. Ý nghĩa của ứng dụng các kĩ thuật phát triển ý tưởng trong dạy và học kĩ năng viết trong chương trình Tiếng Anh THCS (hệ 10 năm)

Ứng dụng các kĩ thuật phát triển ý tưởng trong dạy và học kĩ năng viết trong chương trình Tiếng Anh THCS (hệ 10 năm) mang lại những ưu điểm như sau:

     Đối với giáo viên: Khi tổ chức bất kì một hoạt động nào trong tiết dạy, giáo viên luôn phải cân nhắc về mức độ hiệu quả và thời lượng thực hiện hoạt động đó để phù hợp với từng đối tượng học sinh. Tuy nhiên, khi giáo viên đã thực hiện thành thạo và rút ra kinh nghiệm, tiến trình tổ chức hoạt độngphát triển ý tưởng diễn ra khá nhanh và hiệu quả. Bằng các hoạt động sinh động và thú vị, giáo viên sẽ dần dần thoát khỏi các phương pháp dạy học truyền thống nhàm chán, giảm thời lượng thuyết giảng của giáo viên và phát huy tính chủ động của học sinh trong mỗi tiết học kĩ năng viết. Đây cũng chính là mục tiêu lớn mà mỗi giáo viên nói chung và giáo viên Tiếng Anh nói riêng hướng tới trong đổi mới phương pháp dạy học.

     Đối với học sinh: Việc học Tiếng Anh nói chung và kĩ năng viết nói riêng thông qua các hình thức và hoạt động đa dạng tránh gây cho các em cảm giác nhàm chán và tạo hứng thú, niềm đam mê của các em đối với môn học. Các hoạt động học trên lớp càng đa dạng  thì khả năng tiếp nhận tri thức của học sinh càng hiệu quả.Học sinh có cơ hội phát huy tối đa tính tích cực, chủ động và sáng tạo trong môn học. Cũng qua đó, các em sẽ tiếp thu bài học hiệu quả hơn.

     II. Bài học kinh nghiệm

     Đổi mới hình thức và phương pháp dạy học đang là mối quan tâm hàng tâm của ngành Giáo dục nói chung và các nhà trường nói riêng. Nhưng đổi mới thế nào, đổi mới ra sao thì vẫn đang là thách thức đối với giáo viên. Mục tiêu của công tác đổi mới là phát huy hết tối đa tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh trong mỗi tiết học. Và để thực hiện được mục tiêu đó, giáo viên phải thay đổi vai trò từ người diễn thuyết trong các phương pháp dạy học truyền thống sang người hướng dẫn, định hướng cho học sinh trong chính từng hoạt động trên lớp. Để hình thành và phát triển kĩ năng viết của học sinh, giáo viên cần đảm bảo các nguyên tắc sau:

     Coi viết là một trong những phương thức giao tiếp chứ không phải chỉ là việc sử dụng đúng các từ vựng và cấu trúc ngữ pháp.

     Thực hiện quá trình dạy và học kĩ năng viết phù hợp với học sinh và theo mức độ tăng dần. Ví dụ: bắt đầu từ những bài viết mẫu, sau đó những bài tập có kiểm soát, có hướng dẫn và cuối cùng là viết tự do.

     Luôn đảm bảo tính mục đích của bài viết, nghĩa là học sinh biết mình viết cái gì, để làm gì và viết cho ai.

     Tạo cho học sinh càng nhiều cơ hội viết càng tốt bởi viết là kĩ năng chỉ có thể được hình thành và phát triển thông qua quá trình luyện viết.

     Nội dung các bài viết phải thể hiện được tính tích hợp các kĩ năng ngôn ngữ và tạo thêm cơ hội cho học sinh luyện tập cách sử dụng từ, cấu trúc ngữ pháp và các chức năng ngôn ngữ cụ thể.

     Đối với kĩ năng viết Tiếng Anh, thông qua các hoạt động phát triển ý tưởng về chủ đề cho sẵn, học sinh có thể hình thành nội dung bài viết từ chính thế giới quan của mình mà không bị áp đặt ý kiến từ giáo viên. Chính vì vậy, việc áp dụng các kĩ thuật phát triển ý tưởng trong dạy và học kĩ năng viết trong chương trình Tiếng Anh THCS (hệ 10 năm) có tính ứng dụng cao.

     III. Khả năng nhân rộng

     Đề tài có tính ứng dụng cao, có khả năng đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng dạy và học Tiếng Anh ở tất cả trình độ học sinh trong nhà trường THCS.

      Tuy đề tài chỉ giới thiệu một sốkĩ thuật tạo ý tưởng nhầm nâng cao chất lượng dạy và học viết Tiếng Anh trong chương trình THCS nhưng nhiều giáo viên đã vận dụng hiệu quả cho lớp Tiếng Anh được phân công giảng dạy.

      Nguyện vọng của người viết đề tài này là được nhận được nhiều góp ý, bổ sung để đề tài được hoàn thiện hơn và được tạo điều kiện phổ biến, nhân rộng hơn nữa trong giáo viên dạy bộ môn Tiếng Anh không chỉ trong các nhà trường THCS mà còn trong chương trình giáo dục phổ thông nói chung.

     IV. Khuyến nghị

     Để việc ứng dụng của đề tài được rộng rãi hơn thì tôi xin đề xuất một số kiến nghị sau:

     - Ban giám hiệu nhà trường cần có chủ trương và kế hoạch tổ chức Hội thi

     - Chuyên môn giỏi môn Tiếng Anh theo học kì và tăng cường công tác kiểm tra dự giờ, thăm lớp trong bộ môn Tiếng Anh nhằm khuyến khích và đẩy mạnh phong trào đổi mới phương pháp dạy học.

     - Phòng Giáo dục và Đào tạo Quận nên tổ chức nhiều tiết chuyên đề, thảo luận và tập huấn cho giáo viên ngoại ngữ về đổi mới phương pháp dạy học đối với bộ môn.

thời tiết các vùng

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

Bình chọn

Đánh giá thái độ tiếp công dân của cán bộ Một cửa quận