tin nổi bật

Trường THCS Hoàng Văn Thụ: Vai trò của Hiệu trưởng trong việc đổi mới phương pháp dạy học góp phần nâng cao chất lượng thông qua việc bồi dưỡng đội ngũ giáo viên
Ngày đăng 14/08/2019 | 15:42

Giáo viên luôn phải là người chủ động nắm vững kiến thức, nắm vững yêu cầu nội dung giáo dục, nắm vững kiến thức và kỹ năng cần truyền đạt đến học sinh để dẫn dắt học sinh đi từ thấp đến cao, từ ít đến nhiều, từ dễ đến khó. Thói quen tự nghiên cứu trong môi trường giáo dục THCS, rất quan trọng. Bởi vì kiến thức bên ngoài xã hội rất đa dạng và thay đổi theo thời gian vì vậy giảng dạy là khai thác và tận dụng nội lực của học sinh để họ sẽ tự học suốt đời

I/ PHẦN THỨ NHẤT:  Đặt vấn đề

     Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 đã khẳng định; phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, xác định rõ một trong ba khâu đột phá là phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ. Đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam cần thực hiện nhiều giải pháp khác nhau, trong đó cùng với đổi mới phương pháp dạy học góp phần nâng cao chất lượng dạy học

     Trong môi trường giáo dục hiện nay, để có được một phương pháp giảng dạy hiệu quả, phù hợp thì việc bồi dưỡng giáo viên được coi là yếu tố tiên quyết trong việc thực tiễn đổi mới phương pháp giảng dạy. Bên cạnh sự nhiệt tình, tinh thần trách nhiệm cũng như các kỹ năng sử dụng thiết bị dạy học và tổ chức và tổ chức hướng dẫn học sinh học tập thì kiến thức của giáo viên phải không ngừng được nâng cao, cập nhật, bổ sung trí thức mới của thời đại nhằm hướng dẫn sinh viên học tập cũng như nâng cao kiến thức cho bản thân, phục vụ yêu cầu giảng dạy. Đồng thời giáo viên cũng cần phải có kiến thức sư phạm về các đề tài giảng dạy nhằm truyền tải những kiến thức vào chương trình giảng dạy, vào bài soạn, áp dụng và bài làm, vào bài ôn tập cũng như các hoạt động khác của việc giảng dạy.

     Giáo viên luôn phải là người chủ động nắm vững kiến thức, nắm vững yêu cầu nội dung giáo dục, nắm vững kiến thức và kỹ năng cần truyền đạt đến học sinh để dẫn dắt học sinh đi từ thấp đến cao, từ ít đến nhiều, từ dễ đến khó. Thói quen tự nghiên cứu trong môi trường giáo dục THCS, rất quan trọng. Bởi vì kiến thức bên ngoài xã hội rất đa dạng và thay đổi theo thời gian vì vậy giảng dạy là khai thác và tận dụng nội lực của học sinh để họ sẽ tự học suốt đời.

     Vị trí của giáo viên hiện nay không chỉ được xác định bằng tri thức mà còn được xác định bằng trí tuệ và sự từng trải của mình trong quá trình dẫn dắt họcsinh tự học. Nhìn chung, nhiệm vụ cụ thể của giáo viên thường là:

- Lập kế hoạch và chuẩn bị tài liệu giảng dạy môn học và trách nhiệm chuyên môn cho toàn môn học.

- Cung cấp tài liệu, kiểm tra, đánh gía mức độ tối hiểu biết và điều chỉnh tiến độ giảng dạy phù hợp với học sinh .

- Tổ chức quá trình học của học sinh ở lớp cũng như ở nhà.

- Tổng hợp các loại phương pháp, đổi mới phương pháp giảng dạy hiệu quả, độc lập, sáng tạo củahọc sinh như: đối thoại, giải quyết tình huống, trắc nghiệm, trực tiếp tiếp xúc học sinh để giải đáp thắc mắc.Việc đổi mới phương pháp dạy học phụ thuộc vào đối tượng, điều kiện, hoàn cảnh vì vậy giáo viên cần phảichủ động và có sáng kiến.

+ Làm cho học sinh biết tự học, tự vận dụng.

+ Làm cho học sinh biết hợp tác và chia sẻ.

+ Luôn liên hệ với thực tiễn.

+ Tận dụng sự hỗ trợ của phương tiện dạy học.

- Khơi gợi sự tò mò, phát huy tính chủ động tìm hiểu họa tập, sáng tạo của học sinh.Từ đó, khơi gợi những ý kiến hay từhọc sinh. Những ý kiến của học sinh cần được tôn trọng và đánh giá cao (dù là ý kiến nhỏ).

- Nâng cao tính độc lập, chủ động của học sinh khi giải quyết vấn đề. Vai trò của giáo viên là người hướng dẫn để học sinh phát hiện vấn đề. Sau khi các vấn đề trong nội dung giảng dạy được học sinh tự giải quyết, giáo viên cần khái quát và chỉ ra những thiếu sót về mặt kiến thức của học sinh.

- Theo Elliss (1985), Nunan(1991) thì mỗi người học đều có đặc thù riêng về đặc điểm xã hội, tâm lý, tình cảm, nhận thức nên khi đến lớp mỗi người đều mang theo một thái độ, một quan điểm về việc học hoàn toàn khác biệt, không ai giống ai.Và mỗi tính cách cá biệt ấy vừa có lợi cho sự tiến bộ và thành công trong học tập nhưng cũng vừa chứa đựng một cản trở tiềm ẩn. Nếu người học thực sự có động lực, mục đích học của mình thì sẽ dẽ dàng thành công trong việc tiếp thu những kiến thức mà giáo viên muốn truyền đạt.

- Do đó, với phương pháp dạy học đổi mới, học sinh là người chủ động, nghiên cứu, phân tích, suy luận, luôn đọc bải giảng, chuẩn bị trả lời các câu hỏi giáo viên đã cho trên lớp, chủ động nghe giảng, ghi chép có chọn lọc và tham gia đối thoại cùng giáo viên, tranh luận cùng các bạn trong lớp, thậm chí là phê phán, phản đối. Cố gắng bảo vệ ý kiến của mình, cũng như chứng minh được những gì mình đang bảo vệ là có cơ sở khoa học. Qua đó, học sinh được rèn luyện tư duy độc lập, tập nghiên cứu, sáng tạo, phát hiện và giải quyết vấn đề trên cơ sở khoa học thay vì chỉ học thuộc bài và làm bài đầy đủ. Bởi vì mỗi giờ học không chỉ đơn thuần là những giờ giảng giải cung cấp kiến thức mà thay vào đó là những giờ thảo luận, trao đổi, phát hiện vấn đề theo nhiều chiều và xử lý vến đề theo các hướng khác nhau.

II/ PHẦN THỨ HAI : Những biện pháp đổi mới để giải quyết vấn đề

     */ Những nội dung lý luận có liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm.

     Căn cứ vào những yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, yêu cầu phát triển giáo dục và đòi hỏi của ngành giáo dục, nhận thức thực trạng về đội ngũ giáo viên, trong những năm qua Bộ GD&ĐT, sở GD&ĐT ở các địa phương đã tăng cường công tác bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ về năng lực chuyên môn nghiệp vụ. Đó là một chủ trương đúng đắn, thiết thực đối với đội ngũ giáo viên, được chỉ đạo rất sát sao của các cấp lãnh đạo ngành giáo dục. Qua quá trình bồi dưỡng cũng đã đạt được một số kết quả.

     Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc bồi dưỡng giáo viên còn có những hạn chế, bất cập. Việc bồi dưỡng đôi khi còn mang tính đại trà. Chương trình, nội dung bồi dưỡng còn nặng về lý thuyết, ít chú trọng đến kỹ nặng thực hành môn học, kỹ năng tổ chức các hoạt động giáo dục.

     Việc tổ chức bồi dưỡng giáo viên còn hình thức. Nhận thức của giáo viên về vị trí, vai trò của công tác bồi dưỡng còn chưa đúng đắn, chưa có ý thức tự giác trong quá trình bồi dưỡng nên dẫn đến chất lượng và hiệu quả chưa cao, chưa xác định đúng mục đích, động cơ bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tay nghề. Do đó, một số giáo viên ý thức chưa tốt, cưa tích cực, hăng hái, say mê học tập. Công tác quản lý chất lượng bồi dưỡng cũng chưa thực sự hiệu quả.

     Phương pháp bồi dưỡng chưa coi trọng việc tự học tự bồi dưỡng của GV, việc kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng chưa được quan tâm; việc hỗ trợ GV có kết quả bồi dưỡng tốt chưa được chú ý nên người học có tâm lý ỷ lại, thụ động, tiếp thu nội dung bồi dưỡng một chiều.

     Công nghệ thông tin phát triển nhưng sự vận dụng nó trong công tác bồi dưỡng chưa được quan tâm đúng mức.

     * Thực trạng vấn đề nghiên cứu .

     Trong trường tôi đội ngũ giáo viên tuy đã được chuẩn hoá có trình độ chuyên môn vững vàng, thực sự gắn bó với nghề, yêu quý học sinh, hết lòng vì học sinh thân yêu. Đa số đều tự giác thực hiện tốt quy chế chuyên môn khi được giao, đều cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ nhất là công tác soạn giảng, chấm chữa bài kiểm tra cho học sinh. Mỗi giáo viên đều là tấm gương sáng cho học sinh noi theo qua từng lời nói cử chỉ, trong các tiết dạy mỗi giáo viên đều cố gắng lồng ghép giữa giảng dạy kiến thức và giáo dục đạo đức để đào tạo ra những con người có chất lượng toàn diện, đáp ứng với yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội với tốc độ cao.

     Đội ngũ giáo viên là một trong những yếu tố có ý nghĩa quyết định đến việc thực hiện thành công đổi mới giáo dục phổ thông; đóng vai trò quan trọng đối với sự nghiệp GD-ĐT của đất nước ở mọi thời đại cũng như việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Chính vì vậy, trong quá trình đổi mới và phát triển nền giáo dục của đất nước, công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên đóng vai trò hết sức quan trọng. Nhà trường cần xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên để giữ vững lòng tin của nhân dân đối với giáo dục, bên cạnh đó công tác tự học, tự bồi dưỡng của đội ngũ giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp cần phải được tiến hành nhanh, mạnh và quyết liệt để kịp thời phục vụ chương trình giáo dục phổ thông mới.

     Theo Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 01/11/2013 là đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam, trong đó chú trọng đổi mới phương pháp dạy và học, kiểm tra đánh giá... Nên tôi thiết nghĩ, trường tôi nói riêng đáp ứng được những nhiệm vụ về đổi mới phương pháp dạy học thì người hiệu trưởng cần ý thức được tầm quan trọng của việc phải nâng cao đến chất lượng giảng dạy thì việc làm cấp bách và cần thiết là phải chú trọng đến việc bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, có tinh thần tự giác cao.

     */ Mô tả, phân tích các giải pháp:

     Đại hội Đảng toàn quốc lần thữ XII tiếp tục khẳng định “giáo dục là quốc sách hàng đầu, phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học, học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn. Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.  

     Dạy học là một trong những nội dung quan trọng quyết định đến chất lượng giáo dục đào tạo. Nó là một trong những vấn đề nóng được xã hội quan tâm  trong thời gian qua. Hiện nay, những nhà quản lý giáo dục đã và đang bàn nhiều về đổi mới phương pháp dạy học. Có rất nhiều cuộc hội thảo, tập huấn về đổi mới phương pháp dạy học song xung quanh vấn đề này có nhiều ý kiến cả đồng thuận lẫn trái chiều khác nhau. Đổi mới phương pháp dạy học những năm qua được thực hiện trong toàn hệ thống giáo dục và đào tạo bước đầu đã tạo được những chuyễn biến căn bản, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, song chưa tạo được bước đột phá mới, dường như nó lại rơi vào cái vòng luẩn quẩn, chưa tạo ra sự đột phá về chất lượng và dậm chân tại chỗ.   

     Đổi mới phương pháp dạy học lúc đầu người ta tranh cãi gay gắt, xuất hiện nhiều luống ý kiến và trường phái khác nhau. Trường phái tích cực cho rằng, đổi mới phương pháp dạy học là dạy học bằng phương pháp dạy học tích cực kết hợp sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại, sử dụng các phương tiện trực quan, tăng cường đối thoại.Trường phái đối lập cho rằng đổi mới phương pháp dạy học là sử dụng phương pháp dạy học tích cực kết hợp với các phương tiện trực quan, tăng cường cũng chẳng có gì mới hơn thời cổ đại ông Xô crát và Khổng tử những bậc tiền bối trong dạy học hiện đại mà thôi.                                                                                                                   

     Thực tế việc đổi mới phương pháp dạy học tích cực được các nhà trường áp dụng đồng bộ, rộng rãi, từ đây khái niệm sử dụng phương pháp dạy học tích cực đồng nghĩa với sử dụng phương pháp dạy học hiện đại.

     a. Đổi mới việc xây dựng chương trình, tài liệu phục vụ cho công tác bồi dưỡng.

- Xác định nội dung bồi dưỡng: bồi dưỡng những kiến thức, kỹ năng nền tảng nâng cao năng lực theo Chuẩn nghề nghiệp; bồi dưỡng theo Chuẩn chức danh, nghiệp vụ; bồi dưỡng theo những nhiệm vụ và yêu cầu mới của giáo dục phổ thông, việc đổi mới chương trình SGK.

- Lựa chọn chuyên gia, tổ chức biên soạn tài liệu đáp ứng nhu cầu tự học, tự bồi dưỡng của đội ngũ giáo viên, bổ khuyết những chương trình còn thiếu. Tài liệu bồi dưỡng cần đa dạng: tài liệu bản in, bài giảng PowerPoint, đĩa VCD, cẩm nang hỏi đáp…

     b. Đổi mới cách thức tổ chức, phương pháp và hình thức bồi dưỡng

- Bồi dưỡng tập trung, trực tiếp cho các nội dung bồi dưỡng cần trao đổi, bàn bạc thống nhất như các vấn đề mới, khó; những kỹ năng thự hành về phương pháp, kỹ thuật dạy học…

- Bồi dưỡng qua mạng Internet nhằm phát huy tinh thần tự học, tự bồi dưỡng trực tuyến nâng cao năng lực nghề nghiệp của giáo viên.

- Có lộ trình bồi dưỡng hợp  lý để người giáo viên có thể sắp xếp thời gian và công tác giảng dạy tại trường để tham gia đầy đủ các lớp bồi dưỡng. Thời gian tổ chức các lớp bồi dưỡng không nhất thiết chỉ trong hè mà có thể xen kẽ trong năm học, việc sắp xếp này giúp tổ chức công tác bồi dưỡng một cách thường xuyên và kịp thời.

     c. Đổi mới hình thức kiểm tra, đánh gia kết quả bồi dưỡng

- Xây dựng bộ công vụ đánh giá đánh giá kết quả các nội dung bồi dưỡng giáo viên theo các cấp học, môn học và đánh giá nội dung, hình thức bồi dưỡng.

- Đổi mới hình thức kiểm tra, đánh giá: phát huy vai trò của đội ngũ cốt cán, các cơ sở thực hiện nhiệm vụ bồi dưỡng trong việc kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng.

-Việc công nhận kết quả và cấp chứng nhận, (chứng chỉ) bồi dưỡng phải dựa trên kết quả đánh giá các nội dung bồi dưỡng của từng cá nhân, gửi hồ sơ đánh giá kết quả bồi dưỡng theo sự phân cấp đã quy định theo quy chế của Bộ GD & ĐT.

- Đánh giá chất lượng bồi dưỡng nhằm cung cấp thông tin về mức độ nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ của GV sau khi được bồi dưỡng cũng như tác động của những hành vi đó làm chuyển biến chất lượng học tập và rèn luyện của học sinh. Đánh giá chất lượng bồi dưỡng phải đảm bảo công khai, minh bạch, khách quan, trung thực.

Cụ thể : Trong năm nay tôi đưa ra nội dung thứ nhất đổi mới việc xây dựng chương trình

A/ Đổi mới việc xây dựng chương trình, tài liệu phục vụ cho công tác bồi dưỡng gồm các nội dung sau

*/Thống nhất xây dựng kế hoạch dạy học.

Tổ chuyên môn sẽ tổ chức họp GV bộ môn, dựa trên đề xuất của GV  để thống nhất xây dựng kế hoạch dạy học  của môn học theo nguyên tắc:

+ Đảm bảo chuẩn kiến thức kĩ năng.

+ Không gây xáo trộn quá lớn.

+ Phù hợp với điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học và năng lực tổ chức dạy - học của giáo viên và học sinh nhà trường (đảm bảo tính khả thi).

+ Tạo được hứng thú và đồng thuận của giáo viên, học sinh.

Bước 3: Phê duyệt kế hoạch dạy học.

- Tổ trưởng, trưởng nhóm bộ môn báo cáo kế hoạch môn học đã được thống nhất trong tổ chuyên môn với Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng. Yêu cầu nắm chắc và giải trình được lí do của những thay đổi, điều chỉnh so với chương trình và SGK hiện hành.

- Hiệu trưởng phê duyệt kế hoạch dạy học, phó Hiệu trưởng chịu trách nhiệm chỉ đạo các tổ chuyên môn tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học đã xây dựng.

Bước 4: Đánh giá kết quả, tiếp tục rà soát điều chỉnh nếu thấy chưa hợp lí.

- Phó Hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn chịu trách nhiệm thường xuyên kiểm tra việc thực hiện kế hoạch dạy học đã được nhà trường phê duyệt của các giáo viên.

- Nhà trường gửi kế hoạch dạy học về PGD&ĐT phê duyệt.

- Cuối năm học, phó Hiệu trưởng cùng tổ trưởng chuyên môn tổ chức rút kinh nghiệm, đánh giá kết quả, và điều chỉnh  nội dung và kế hoạch dạy học mới cho phù hợp trình Hiệu trưởng để áp dụng vào năm học tiếp theo.

     2. Đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn

- Để tăng tính hiệu quả thiết thực của sinh hoạt tổ chuyên môn, nhà trưởng chỉ đạo các tổ chuyên môn sinh hoạt tập trung vào việc phát hiện và giải quyết những vướng mắc khi thực hiện chương trình, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học như:

+ Những nội dung khó của chương trình môn học hoặc trong các chuyên đề bồi dưỡng HSG mà giáo viên thấy vướng mắc cần tháo gỡ.

+ Kiểm tra khâu ra đề, đánh giá kết quả học tập của học sinh của GV.

+ Hướng dẫn học sinh nghiên cứu KHKT.

+ Xây dựng chuyên đề hoặc bài dạy hội thi giáo viên dạy giỏi

+ Tổ chức dự giờ và rút kinh nghiệm giờ dạy dựa trên nghiên cứu bài học.

- Cách thức tổ chức thực hiện:

+ Tinh thần sinh hoạt chuyên môn được chỉ đạo và quán triệt tới các tổ chuyên môn và từng giáo viên. Điều này nhận được sự đồng thuận từ phía GV vì chính họ cảm thấy thiết thực không bị lãng phí thời gian của cá nhân.

+ Việc sinh hoạt chuyên môn được tổ trưởng chuyên môn tổ chức theo từng bộ môn. Hiệu trưởng, các Phó Hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn, tổ phó chuyên môn cùng tham gia sinh hoạt trao đổi chuyên môn theo chuyên môn được đào tạo.

+ Để xây dựng nội dung sinh hoạt chuyên môn, trong quá trình tổ chức dạy học hoặc tự bồi dưỡng, mỗi GV sẽ ghi lại những vướng mắc, khó khăn hoặc những nội dung mới thấy hay, thấy tâm đắc muốn chia sẻ. Trước buổi sinh hoạt chuyên môn yêu cầu mỗi GV sẽ phải đưa ra được ít nhất 2 vấn đề để trao đổi nộp lại cho TTCM.

+ Nhà trường luôn khuyến khích tinh thần trao đổi, học hỏi của mỗi GV. Việc các GV chủ động trao đổi chuyên môn với nhau khi cần, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trong quá trình dạy học, đặc biệt là trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi luôn được nhà trường nêu gương và biểu dương trong các buổi sinh hoạt chuyên môn. tạo cầu nối để các GV nhà trường có thể trao đổi chuyên môn qua email, điện thoại  khi cần tư vấn, hỗ trợ về chuyên môn.

+ Nội dung sinh hoạt chuyên môn của mỗi bộ môn phải được ghi chép lại đầy đủ, cụ thể nộp cho TTCM. TTCM tập hợp lại báo cáo với nhà trường. Để tránh mất thời gian Nhà trường khuyến khích việc trao đổi một số nội dung chuẩn bị qua email.

- Giao cho mỗi tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch, trong năm học tổ chức được ít nhất 3 buổi sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học cho môn học có số lượng GV cùng bộ môn từ 02 người trở lên. Hiệu trưởng, các P.HT cùng tham gia sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học bắt đầu từ khâu đầu tiên là lựa chọn bài dạy minh họa, thiết kế bài dạy minh họa cho đến khâu thực hiện bài dạy minh họa, dự giờ và thảo luận về giờ dạy minh họa để có trách nhiệm:

+ Giải đáp những thắc mắc của GV trong cuộc họp để đảm bảo sự đồng thuận của  GV trong việc thực hiện sinh hoạt chuyên môn mới.

+ Cùng GV thảo luận những khó khăn có thể gặp phải và tìm phương án giải quyết.

+ Chỉ đạo sát  sao  hoạt động sinh hoạt chuyên môn, kiên định thực hiện đúng kế hoạch, đảm bảo và thực hiện đúng kĩ thuật sinh hoạt chuyên môn mới.

- Đặc biệt Nhà trường luôn khuyến khích và có sự động viên kịp thời đối với việc các GV thường xuyên chủ động trao đổi chuyên môn cùng nhau khi gặp những vướng mắc trong quá trình dạy học.

     3. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh.

- Tổ chức sinh hoạt chuyên môn trường, tập huấn cho GV về dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh. (BGH có trách nhiệm tìm tài liệu, nghiên cứu kĩ và có định hướng cụ thể việc triển khai cách thức thực hiện đến tổ chuyên môn và GV. Sau đó gửi cho GV các tài liệu về dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh và yêu cầu nghiên cứu kĩ trước khi Nhà trường tổ chức tập huấn)

- Sau khi tập huấn giao cho mỗi tổ chuyên môn tổ chức thực hiện tiết dạy minh họa 01 tiết/môn học/ tháng (có thể lồng ghép luôn vào tiết dự giờ theo định kì). Tiết học minh họa này được các GV cùng bộ môn cùng nghiên cứu bài học và cử người dạy minh họa. Tổ chuyên môn báo cáo thời gian thực hiện cho BGH và mời các GV trong cùng tổ chuyên môn đi dự. BGH có trách nhiệm tham gia dự giờ và thảo luận về giờ dạy minh họa cùng tổ chuyên môn.

- Các tổ bộ môn mỗi học kì tổ chức được ít nhất 02 tiết dạy/môn theo phương pháp dạy học Bàn tay nặn bột.  Những tiết  học theo phương pháp dạy học Bàn tay nặn bột sẽ yêu cầu GV toàn trường đi dự, cùng  thảo luận rút kinh nghiệm để thống nhất trong toàn trường về dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh.

- Yêu cầu các tổ chuyên môn qua các tiết dạy minh họa, phát hiện những khó khăn, vướng mắc thì cần báo cáo và đề xuất biện pháp giải quyết đối với Hiệu trưởng. Rút kinh nghiệm để đưa từ việc dạy minh họa đến thực hiện thường xuyên trong các tiết lên lớp.

- Giáo án minh họa của tổ Xã hội bộ môn Thể dục:

TIẾT 30: ĐÁ CẦU – CHẠY BỀN

A.Nội dung:

1- Đá cầu:

Ôn: - Tâng cầu bằng đùi, tâng cầu bằng má trong bàn chân, Tâng cầu bằng mu bàn chân, Đỡ cầu bằng ngực, Phát cầu cao chân chính diện bằng mu bàn chân. 

 - Đấu tập.

2- Chạy bền (Chạy trên địa hình tự nhiên)

  • Nam: chạy 300m (3 vòng sân trường)
  • Nữ: chạy 200m (2 vòng sân trường)       

B. Mục tiêu:

- Biết cách thực hiện: Di chuyển bước đơn ra trước chếch trái, chếch phải. Đỡ cầu bằng ngực. Đá cầu cao chân chính diện bằng mu bàn chân. Phát cầu cao chân chính diện bằng mu bàn chân. Một số bài tập phối hợp.

- Đấu tập.

1. Kiến thức:

- Thông qua tiết học HS biết cách thực hiện: Tâng cầu bằng đùi; tâng cầu bằng mu bàn chân; tâng cầu bằng má trong bàn chân; đỡ cầu bằng ngực; phát cầu cao chân chính diện bằng mu bàn chân; đá cầu cao chân chính diện bằng mu bàn chân; di chuyển đơn bước chếch trái, chếch phải;

- Biết một số điểm trong luật đá cầu.

2. Kĩ năng:

- Thực hiện cơ bản đúng: Tâng cầu bằng đùi; tâng cầu bằng mu bàn chân; tâng cầu bằng má trong bàn chân; đỡ cầu bằng ngực; phát cầu cao chân chính diện bằng mu bàn chân; đá cầu cao chân chính diện bằng mu bàn chân

 

- Vận dụng vào đấu tập.

3.Thái độ - hành vi (tư tưởng):

  • Kích thích sự say mê, ham học, tự giác, tích cực rèn luyện tại lớp hay ở nhà.
  • Học sinh có ý thức về tổ chức kỷ luật trật tự, ý thức tự giác trong học tập, tác phong nhanh nhẹn.
  • Bồi dưỡng ý chí và đặc biệt tinh thần dũng cảm, đức tính kiên trì trong tập luyện và thi đấu.

C. Địa điểm, Phương tiện và đồ dùng dạy học:

  • 1. Địa điểm: Sân trường (Nhà thể chất).
  • 2. Giáo viên: - Sân đá cầu, còi, lưới, cột: 2 bộ, Sân bãi sạch sẽ, đảm bảo an toàn.

                                - Quả cầu: 40 quả (giáo viên chuẩn bị).

  • 3. Học sinh: Trang phục, giầy tập đúng quy định.

     D. TIẾN TRÌNH LÊN LỚP:

NỘI DUNG

ĐỊNH LƯỢNG

PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC

THỜI GIAN

SỐ LẦN

A. PHẦN MỞ ĐẦU:

I. Nhận lớp:

- Cán sự tập hợp lớp 4 hàng ngang, ổn định tổ chức lớp: Báo cáo (sĩ số, sức khỏe, trang phục…)

- Gáo viên giới thiệu giáo viên dự giờ

- Phổ biến nội dung, yêu cầu giờ học: 2 nội dung

1. Đá cầu:

Ôn: - Ôn tâng cầu bằng đùi, tâng cầu bằng má trong bàn chân, Tâng cầu bằng mu bàn chân, Đỡ cầu bằng ngực, Phát cầu cao chân chính diện bằng mu bàn chân, - Phát cầu cao chân chính diện bằng mu bàn chân.  (Đấu tập).

2. Chạy bền (Chạy trên địa hình tự nhiên)

  • Nam: chạy 300m (3 vòng sân trường)
  • Nữ: chạy 200m (2 vòng sân trường)

9-10’

1-2’

 

- ĐỘI HÌNH NHẬN LỚP (ĐH 1).

            



‚‚‚‚‚‚‚‚

            ‚‚‚‚‚‚‚‚

          ‚ C/s  

                                 € G/v 

 

- Cán sự tập hợp lớp và báo cáo tình hình lớp cho giáo viên.    

  • - Giáo viên kiểm tra tình hình sức khoẻ học sinh -Vệ sinh sân bãi, phổ biến nội dung giờ học.

Yêu cầu : Học-tập luyện nghiêm túc, phát huy tính tự giác, tích cực.

 

 

II. Khởi động:

1. Khởi động chung:

+Chạy khởi động quanh sân trường.

+  Khởi động các khớp: Cổ tay, cổ chân,vai, hông, đầu gối.

+  É p dọc- ngang

+ Chạy nước nhỏ, nâng cao đùi, gót chạm mông (tại chỗ)

 

- Khởi động nhạc bài dân vũ “Rửa tay”

2. Khởi động chuyên môn:

  • Khởi động với cầu:

- Tâng cầu bằng đùi, mu bàn chân, má trong bàn chân.

- Phát cầu cao chân chính diện bằng mu bàn chân.

 

7-8’

 

3-4’

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

3-4’

 

 

 

 

1 vòng

 100m

2L/8N

 

2L/8N

2L/8N

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

5 lần

 

Giáo viên cùng cán sự tổ chức thực hiện

ĐỘI HÌNH KHỞI ĐỘNG CHUNG (ĐH 2)

Từ đội hình nhận lớp (ĐH 1) Giáo viên (GV) cho lớp di chuyển thành đội hình khởi động (ĐH 2).

Di chuyển về ĐH số 2 – giáo viên hướng dẫn cán sự điều khiển khởi động, giáo viên quan sát và nhắc yêu cầu học sinh thực hiện đúng và hết biên độ động tác

(ĐH 2.1)

                       

                          

                        

                          

 

                   ‚ C/s  

                                                 € G/v 

- GV quan sát nhắc nhở HS khởi động.

- HS khởi động tích cực.

 

(ĐH 2.1)

 

ĐỘI HÌNH KHỞI ĐỘNG CHUYÊN MÔN

 

 

 

(ĐH 2.2)

‚  ‚  ‚  ‚  ‚  ‚  ‚  ‚

     ‚  ‚  ‚  ‚    ‚  ‚  ‚

‚    ‚

         ‚

‚

 

 

       ‚

  ‚   

         ‚

 ‚

          ‚

‚

 

 

        ‚

   ‚  

          ‚

                                       € G/v 

- GV quan sát nhắc nhở HS khởi động.

- HS khởi động tích cực.

 

3. Kiểm tra bài cũ:

- Tâng cầu bằng đùi, tâng cầu má trong bàn chân, tâng cầu bằng mu bàn chân.

 

 

  • Phát cầu cao chân chính diện bằng mu bàn chân.

 

1,5-2’

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

5 lần

 

 

 

5 lần

 

 

 

 

Từ ĐH 2.2 về ĐH kiểm tra bài cũ (ĐH 3)

Gọi 2-3 học sinh lên thực hiện động tác.GV nhận xét đánh giá.

(ĐH 3)

              



‚‚‚‚‚‚‚‚             ‚‚‚‚‚‚‚‚

              ‚ C/s  

                                € G/v 

B. PHẦN CƠ BẢN: 2 phần.

1. Đá cầu:

  • Ôn tâng cầu bằng đùi, tâng cầu bằng má trong bàn chân,  Tâng cầu bằng mu bàn chân.

 

 

 

  • Phát cầu cao chân chính diện bằng mu bàn chân. - Đỡ cầu bằng ngực, đá cầu cao chân chính diện bằng mu bàn chân.

 

Đấu tập.

+ Thi đấu đơn và đôi, Một séc 5 điểm

 

 

 

30-31’

25-26’

 

6-8’

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

6-8’

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

3-4’

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

-Từ ĐH 3 di chuyển sang ĐH tập luyện

(ĐH 4)

G/v điều khiển.

  • Nhóm 1 -  Ôn tâng cầu bằng đùi, tâng cầu bằng má trong bàn chân, Tâng cầu bằng mu bàn chân.

(ĐH 4.1)

 

                                

 

                                   

 

- GV quan sát nhắc nhở và chỉnh sửa kĩ thuật cho HS.

- HS thực hiện nghiêm túc bài tập.

 

 

 

 

 

 

‚   

        

‚

 

 

       ‚

     

         ‚

 ‚

         

‚

 

 

        ‚

     

          ‚

 

                    € G/v          

 

 

  • Nhóm 2: -  Phát cầu cao chân chính diện bằng mu bàn chân. Đỡ cầu bằng ngực, đá cầu cao chân chính diện bằng mu bàn chân:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(ĐH 4.2)

         

    
    

                    € G/v           

 

‚   

        

‚

 

 

       ‚

     

         ‚

 ‚

         

‚

 

 

        ‚

     

          ‚

 

 

- GV quan sát nhắc nhở và chỉnh sửa kĩ thuật cho HS.

- HS thực hiện nghiêm túc bài tập.

 

 

  • Từ (ĐH 4) di chuyển sang ĐH đấu tập (ĐH 5)

 - Giáo viên chọn HS thi đấu, quan sát và hướng dẫn HS thi đấu

- HS làm trọng tài và cổ vũ.

(ĐH  5)

+ Sân số 1(Thi đấu đơn):

+ Sân số 2(Thi đấu đôi):           

 

                

‚

 

 

 

 

 

 

             ‚

       € G/v                       

      ‚

 

 

            ‚

                     ‚

 

 

      ‚

             

- GV quan sát nhắc nhở và chỉnh sửa kĩ thuật cho HS.

- HS thi đấu đúng luật, nhiệt tình.

- Gọi 2-3 học sinh lên thực hiện động tác.GV yêu cầu HS nhận xét sau đó GV nhận xét lại.

  • Củng cố: Giáo viên gọi 1-2 học sinh lên thực hiện kỹ thuật

-  Tâng cầu bằng đùi, tâng cầu bằng má trong bàn chân, Tâng cầu bằng mu bàn chân, Đỡ cầu bằng ngực, - Phát cầu cao chân chình diện bằng mu bàn chân,

- Phát cầu cao chân chình diện bằng mu bàn chân. 

- GV gọi 1-2 HS nhận xét

- GV nhận xét và nhấn mạnh kĩ thuật.

 

 

 

 

  • Trò chơi: Nhảy lò cò nhặt cầu tiếp sức:

Mục đích:   Giúp học sinh thực hiện tốt hơn độ khéo léo của cổ chân .
- Cách chơi: Khi có lệnh chơi, những em số một của mỗi hàng nhanh chóng nhảy lò cò bằng một chân về phía trước vòng tròn, sau đó nhảy quay lứng lại đưa tay qua khe chân nhặt cầu rồi lại nhảy lò cò trở lại vạch xuất phát và đưa tay chạm vào người số 2, sau đó đi về đứng ở cuối hàng. Em số 2 lại nhảy lò cò như em số một và cứ tiếp tục như vậy cho đến hết. Hàng nào lò cò xong trước, ít phạm quy là thắng cuộc.

- Những trường hợp phạm quy :
+ Xuất phát trước lệnh chơi của giáo viên hoặc cán sự. Người trước chưa về đến nơi, chưa chạm tay, người sau đã rời khỏi vạch xuất phát.
+ Không đưa tay qua khe chân để nhặt cầu, nhảy vào vòng tròn.
+ Không lò cò mà chạy hoặc lò cò chạm chân co xuống đất.

2. Chạy bền:

- Chạy trên địa hình tự nhiên.

+ Nam riêng, nữ riêng:

Nam (3 vòng sân trường)

Nữ (2 vòng sân trường)

- Giúp cho học sinh biết cách chạy, thở, đánh tay và phân phối sức và đặc biệt nâng cao sức khỏe, sức bền

 

 

 

 

C. PHẦN KẾT THÚC:

1 -Thả lỏng, hồi tĩnh                                                       

  • Đi bộ thả lỏng, hít thở sâu.
  • Thực hiện 1 số động tác hồi tĩnh, thả lỏng.

2- Nhận xét đánh giá buổi học, tuyên dương tinh thần, thái độ của học sinh.

3- Giao bài tập về nhà.

  • Tập luyện phát cầu, đá cầu.
  • Tập chạy bền để rèn luyện thân thể vào các buổi sang (nhảy dây bền) – kiểm tra mạch trước và sau khi thực hiện.
  1. 4- Xuống lớp:

- Giáo viên hô “Giải tán”

     - Học sinh hô “Khỏe”

 

1-1,5’

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

4-5’

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

4-5’

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

3-4’

 

1-2’

 

 

 

 

 

1-2’

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

3 Lần

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

300m

200m

 

 

                  

              

‚

 

 

 

 

 

 

             ‚

       € G/v                       

      ‚

 

 

            ‚

                     ‚

 

 

      ‚

             

 

-Từ ĐH 5 di chuyển sang ĐH chơi trò chơi (ĐH 6)

- Giáo viên phổ biến cách chơi, luật chơi và hướng dẫn học sinh

ĐH trò chơi (ĐH 6)     

                                   10-12m

‚‚‚‚‚‚    …………………

 

 
  

 

 

 

‚‚‚‚‚‚  ………………….

 

    
  
 
   

 

 

 

‚‚‚‚‚‚  ………………… .

 

 
  

 

 

 

‚‚‚‚‚‚  ………………… .

 

 

 

 

 

- Từ ĐH 6 di chuyển sang ĐH chạy bền (ĐH 7)

Chia nhóm, chạy theo nhóm giới tính

- Giáo viên nhắc nhở và hướng dẫn học sinh cách chạy, cách thở, phân phối sức…

- Lưu ý giai đoạn cực điểm  xuất hiện khi chạy.

Nam chạy trước; Nữ chạy sau…

 

(ĐH số 7)

 

 

 

Đội thả lỏng - Hàng  ngang – cự ly rộng – so le hoặc vòng tròn. (ĐH 8)

        ‚  ‚  ‚  ‚  ‚  ‚  ‚  ‚

           ‚  ‚ ‚  ‚  ‚  ‚  ‚  ‚

        ‚  ‚  ‚  ‚  ‚  ‚  ‚  ‚

           ‚  ‚  ‚  ‚  ‚  ‚  ‚  ‚

                         € G/v 

- Giáo viên điều khiển và nhắc nhở học sinh thực hiện nghiêm túc các động tác thả lỏng …

- Đội hình nhận xét - ( Xuống lớp) ĐH 9)

      

       

       ‚‚‚‚‚‚‚‚

        ‚‚‚‚‚‚‚‚

 

               € G/v 

Ký hiệu viết tắt:

GV = Giáo viên

CS = Cán sự

HS = học sinh

 -       = Hướng mặt.

Ký hiệu đội hình: + Đội hình cơ bản số 1: (ĐH 1)

 

 
 

 

 

 

+ Đội hình số 2: (ĐH 2)

Hiện nay mới triển khai nhưng các nhà trường hết sức ủng hộ. Dựa trên mục tiêu, chuẩn và nội dung chương trình thống nhất toàn quốc, đảm bảo quyền linh hoạt của các nhà trường phù hợp với địa phương, vùng miền. Chuyển từ việc các nhà trường thực hiện rập khuôn chương trình sang trao quyền cho các cơ sở giáo dục tự chủ trong việc xây dựng kế hoạch giáo dục nhà trường, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ và nâng cao chất lượng giáo.

PHẦN III: Kết luận và khuyến nghị

      Toàn ngành giáo dục nước ta hiện nay đang thực hiện Nghị quyết 29 NQ/TƯ, Hội nghị TƯ 8 khóa XI của Đảng về đổi mới căn bản và toàn diện, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Bối cảnh này đã đặt ra cho các cơ sở giáo dục nước ta một nhiệm vụ lớn: Phát triển, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên đang trực tiếp giảng dạy ở các trường phổ thông. Đội ngũ giáo viên là một trong những yếu tố có ý nghĩa quyết định đến việc thực hiện thành công đổi mới giáo dục phổ thông. Tuy nhiên, để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới, vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra, từ cơ chế, chính sách đến thực tiễn triển khai việc dạy học. Từ việc tìm hiểu thực trạng phát triển, bồi dưỡng giáo viên hiện nay ở nước ta, bài báo đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển, bồi dưỡng giáo viên hiệu quả, phục vụ tốt cho mục tiêu đổi mới giáo dục. Thực trạng công tác quản lí, bồi dưỡng giáo viên hiện nay. Hiện nay, đội ngũ giáo viên cơ bản đáp ứng yêu cầu dạy học, nhưng trong bối cảnh thực hiện đổi mới phương pháp vẫn còn nhiều hạn chế.

     Vì vậy, vai trò của hiệu trưởng rất quan trọng trong việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, nhất là giáo viên THCS, là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của chiến lược giáo dục trong những năm đầu thế kỷ XXI. Đội ngũ giáo viên phải được xây dựng đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và loại hình, có chất lượng ngày càng cao về đạo đức lòng yêu nghề và năng lực sư phạm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Để có thể đào tạo ra một đội ngũ giáo viên THCS tốt, đáp ứng yêu cầu đổi mới của giáo dục, Đối với  học sinh, việc phát triển năng lực tự học mang một ý nghĩa rất quan trọng. Bởi vì, hình thức tự học sẽ giúp học sinh củng cố, mở rộng , đào sâu, hệ thống hóa, khái quát hóa các kiến thức đã học, làm cho vốn hiểu biết của mình ngày càng hoàn thiện hơn. Đổi mới phương pháp dạy học giúp cho học sinh phải triển tư duy khoa học, năng lực sáng tạo, bồi dưỡng cho học sinh tính tích cực, chủ động và tự giác trong học tập. Đồng thời, kiến thức và các kĩ năng đạt được trong quá trình học sẽ là hành trang cho học sinh trong suốt cuộc đời giảng dạy. Vì vậy, việc phát triển năng lực cho học sinh  là một công việc có vị trí cực kỳ quan trọng trong các trường THCS. Chỉ có tự học, tự bồi đắp tri thức bằng nhiều con đường, nhiều cách thức khác nhau, mỗi học sinh mới có thể bù đắp được những thiếu khuyết tri thức khoa học và đời sống xã hội, đề từ đó có được sự tự tin trong cuộc sống, trong công việc bằng chính năng lực toàn diện của mình.Toàn ngành giáo dục nước ta hiện nay đang thực hiện Nghị quyết 29 NQ/TƯ, Hội nghị TƯ 8 khóa XI của Đảng về đổi mới căn bản và toàn diện, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Bối cảnh này đã đặt ra cho các cơ sở giáo dục nước ta một nhiệm vụ lớn: Phát triển, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên đang trực tiếp giảng dạy ở các trường phổ thông. Đội ngũ giáo viên là một trong những yếu tố có ý nghĩa quyết định đến việc thực hiện thành công đổi mới giáo dục phổ thông. Tuy nhiên, để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới, vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra, từ cơ chế, chính sách đến thực tiễn triển khai việc dạy học. Từ việc tìm hiểu thực trạng phát triển, bồi dưỡng giáo viên hiện nay ở nước ta, bài báo đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển, bồi dưỡng giáo viên hiệu quả, phục vụ tốt cho mục tiêu đổi mới giáo dục. Thực trạng công tác quản lí, bồi dưỡng giáo viên hiện nay. Hiện nay, đội ngũ giáo viên cơ bản đáp ứng yêu cầu dạy học, nhưng trong bối cảnh thực hiện đổi mới vẫn còn nhiều hạn chế. Ngoài trình độ, năng lực thì vấn đề cơ cấu đội ngũ bất hợp lí, không gắn với thực tiễn, những quy định về hoạt động nghề nghiệp, bồi dưỡng mang tính chất hình thức đã và đang tạo nên khó khăn cho việc phát triển, bồi dưỡng năng lực giáo viên.   

     Trong bài viết chắc chắn còn có nhiều điều khiếm khuyết, rất mong được sự góp ý xây dựng của các đồng chí lãnh đạo có kinh nghiệm, các bạn đồng nghiệp đã từng trải trong nghề dạy học, giúp tôi có thêm nhiều kinh nghiệm trong việc quản lý và đánh giá giáo viên trong nhà trường.

      Mặc dù tuổi đời về quản lý còn trẻ song tôi cũng mạnh dạn chia sẻ cùng các bạn đồng nghiệp một vài kinh nghiệm nho nhỏ mong được sự đóng góp quý báu của các bạn đồng nghiệp để tôi vững vàng trong công tác quản lý và chất lượng của trường tôi ngày càng có các bước chuyển mình rõ rệt, được các cấp lãnh đạo đánh giá cao.        

thời tiết các vùng

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

Bình chọn

Đánh giá thái độ tiếp công dân của cán bộ Một cửa quận