tin nổi bật

Trường THCS Hoàng Văn Thụ: Phát triển năng lực tư duy cho học sinh thông qua việc phân loại và rèn kĩ năng giải bài tập trong chương dung dịch - Hóa học 8
Ngày đăng 14/08/2019 | 16:05

Đổi mới giáo dục, nâng cao hiệu quả và chất lượng dạy - học đang là những yêu cầu cấp bách, cần thiết đối với tất cả các giáo viên, tất cả các nhà trường. Việc viết sáng kiến kinh nghiệm chính là một trong những việc làm thiết thực, cụ thể, để mỗi giáo viên trao đổi, học hỏi từ bạn bè đồng nghiệp nhằm nâng cao, trau dồi chuyên môn nghiệp vụ, hướng đến thực hiện tốt khẩu hiệu “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương sáng, tự học và sáng tạo”

     Dưới đây là sáng kiến kinh nghiệm: “PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY CHO HỌC SINH THÔNG QUA VIỆC PHÂN LOẠI VÀ RÈN KĨ NĂNG GIẢI BÀI TẬP TRONG CHƯƠNG DUNG DỊCH - HOÁ HỌC 8”- sáng kiến đã đạt giải C cấp Quận.

PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ

     I. Lí do chọn đề tài

     Hóa học là bộ môn khoa học tự nhiên mà học sinh được tiếp cận muộn nhất, nhưng nó lại có vai trò quan trọng trong nhà trường phổ thông. Môn hóa học cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức phổ thông, cơ bản và thiết thực đầu tiên về hoá học, rèn cho học sinh óc tư duy sáng tạo, khả năng trực quan nhanh nhạy và tính cẩn thận, tiết kiệm. Vì vậy giáo viên bộ môn hóa học cần hình thành ở các em một kỹ năng cơ bản, thói quen học tập và làm việc khoa học làm nền tảng để các em phát triển khả năng nhận thức và năng lực hành động. Hình thành cho các em những phẩm chất cần thiết như cẩn thận, kiên trì, trung thực, tỉ mỉ, chính xác, yêu thích khoa học.

     Nâng cao chất lượng dạy học nói chung và chất lượng dạy học Hóa học nói riêng là nhiệm vụ quan trọng nhất hiện nay của giáo viên Hóa học ở các trường phổ thông.

     Trong dạy học Hóa học, chúng ta có thể nâng cao chất lượng dạy học và phát triển năng lực tư duy nhận thức của học sinh bằng nhiều biện pháp và nhiều phương pháp khác nhau, mỗi phương pháp đều có những ưu điểm riêng, nên đòi hỏi giáo viên phải biết lựa chọn, phối hợp các phương pháp một cách thích hợp để chúng bổ sung cho nhau, nhằm giúp học sinh phát huy tối đa khả năng tư duy độc lập, tư duy logic và tư duy sáng tạo của mình.

     Trong quá trình dạy học, việc sử dụng các bài tập sẽ mang lại hiệu quả cao, học sinh tiếp thu kiến thức một cách nhanh chóng, hứng thú học tập. Tuy nhiên, trong thực tế, việc sử dụng bài tập Hóa học để bồi dưỡng năng lực tự học và phát triển tư duy cho học sinh còn hạn chế nên hiệu quả chưa cao. Ngoài ra, quá trình tổ chức phong trào thiết kế, xây dựng các loại bài tập Hóa học, Dung lượng kiến thức hóa ở bậc THCS đã khá rộng, ở đây tôi xin được mạnh dạn đưa ra một vài ý tưởng trong thiết kế PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY CHO HỌC SINH THÔNG QUA VIỆC PHÂN LOẠI VÀ RÈN KĨ NĂNG GIẢI BÀI TẬP TRONG CHƯƠNG DUNG DỊCH - HOÁ HỌC 8

     II. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

     * Đối Tượng

    Đối với giáo viên.

Dự giờ các tiết dạy, nhằm đánh giá và rút ra phương pháp giảng dạy.

Theo hướng tích cực.

Nghiên cứu qúa trình thực hiện giải pháp trong giảng dạy của bản thân giúp cho học sinh nâng cao hiệu quả giải bài tập hóa học trong năm học 2017-2018.

    Học sinh.

 Nghiên cứu hiệu quả học tâp của học sinh trong suốt quá trình giáo viên thưc hiện giải pháp.

     * Phạm vi nghiên cứu.

     Nghiên cứu thực trạng học tập môn hóa học của học sinh lớp 8 trường THCS, nắm được điểm mạnh, điểm yếu, các tồn tại, từ đó tìm nguyên nhân giúp học sinh học tập tốt hơn đối với môn học.

     III. Phương pháp nghiên cứu.

     * Nghiên cứu tài liệu.

     Đọc các tài liệu giảng dạy phục vụ cho bộ môn như: sách giáo viên, sách giáo khoa hóa học 8, sách thiết kế bài giảng hóa học 8; một số sách hướng dẫn bài tập môn hóa học trung học cơ sở, sách hướng dẫn sử dụng thiết bị dạy học, sách tham khảo, tư liệu đổi mới phương pháp nói chung và đối với bộ môn hoá học nói riêng. Một số tư liệu khác do học sinh các khoá trước được cô giáo bồi giỏi sưu tầm..

     * Điều tra.

Qua thực tế giảng dạy của bản thân đối với bộ môn.

Qua các lần kiểm tra: Kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ.

Qua đối chiếu kết quả học bạ của môn học, qua sổ ghi điểm.

Dự giờ đồng nghiệp các lớp còn lại trong đơn vị.

Qua dự giờ đồng nghiệp các bộ môn khác.

     * Giả thuyết khoa học.

     Phần lớn các em rất sợ học môn hóa học. Vì hóa học là môn học còn mới lạ đối với các em, xong việc giải nhiều bài tập còn mang tính phức tạp là điều mà các em không tránh khỏi hoang mang. Vì vậy nếu người giáo viên đánh giá đúng thực trạng và có những biện pháp giúp đỡ các em kịp thời. Bên cạnh đó tạo ra những bài tập phù hợp với các em thì sẽ từng bước cải thiện chất lượng môn học và  gây hứng thú học tập cho các em.

     Học tâp sẽ không có kết quả cao, nếu không có sự hoạt động nhận thức tích cực của học sinh, nếu các em không có lòng ham muốn, không tập trung vào vấn đề nghiên cứu.

     Giới hạn về không gian và đối tượng khảo sát.

     Đã áp dụng có hiệu quả trong đơn vị, cụ thể là lớp 8 trường THCS , và có thể áp dụng được đối với một số trường của Quận.

     IV . ĐÓNG GÓP CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

     Thực hiện đề tài này, tác giả sáng kiến kinh nghiệm mong muốn có những đóng góp về mặt thực tiễn. Sáng kiến kinh nghiệm hy vọng giới thiệu một số bài pháp giải bài tập trong chương dung dịch nhằm giúp học sinh nhanh chóng  tìm ra kết qủa với các dạng bài khác nhau. Từ đó góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng dạy và học tại nhà trường.

     V. CẤU TRÚC CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

     Ngoài phần Đặt vấn đề và Kết luận thì phần Giải quyết vấn đề của sáng kiến kinh nghiệm chia thành 4 nội dung:

     I - Cơ sở lí luận

     II - Thực trạng vấn đề

     III - Các giải pháp thực hiện

     IV- Kết quả

PHẦN B :  GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.

     I . Cơ sở lý luận.

- Thực hiện nghị quyết số 40 của Quốc Hội, chỉ thị số 14/2001/CT-TTG của thủ tướng chính phủ về việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông ở các cấp học.

- Đáp ứng phong trào yêu nước của cả nước nói chung, ngành giáo dục nói riêng. Hưởng ứng lời dặn của Bác Hồ “ Dù khó khăn đến đâu cũng phải thi đua dạy tốt, học tốt”. Bên cạnh đó Đảng và nhà nước ta xem giáo dục là “Quốc sách hàng đầu” để tiến lên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

- Bản thân mỗi giáo viên phải thi đua dạy tốt để hoàn thành chỉ tiêu đề ra. Muốn làm được điều đó đòi hỏi mỗi giáo viên phải có phương pháp dạy tốt và hiệu quả.

- Trong giảng dạy ngoài việc phát huy tính tích cực của học sinh, giáo viên cũng cần phải giúp đỡ học sinh bằng cách hướng dẫn tích cực, và tạo hứng thú trong mỗi tiết học để kích thích học sinh yêu thích bộ môn.

- Tạo điều kiện cho học sinh tìm tòi phương pháp giải các bài tập khác nhau đặc biệt bài tập trong chương Dung Dịch.

     1. Cơ sở thực tiễn.

- Môn Hóa học ở trường trung học cơ sở là 1 bộ môn mang tính hấp dẫn, khó học sinh thực ra mới bước đầu làm quen nên việc giải bài tập với 1 số học sinh thường khó khăn.

- Học sinh chưa có kĩ năng giải bài tâp, phương pháp giải bài tập còn chậm chưa phù hợp việc đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá hiện nay.

- Đưa ra những phương pháp mới, giải bài tập nhanh, phù hợp với học sinh nhằm giúp học sinh có nhiều cách giải hiệu quả hơn cho từng dạng bài của môn học.

- Trước hết muốn học tốt môn hóa học thì học sinh phải nắm vững những kiến thức cơ bản của bộ môn.

- Bản thân giáo viên cũng cần giành thời gian đọc các tài liệu bộ môn để nâng cao năng lực chuyên môn của bản thân, ngoài ra tìm những phương pháp giải bài tập hay, phù hợp với học sinh, góp phần nâng cao hiệu quả trong giảng dạy và truyền đạt kiến thức cho học sinh.

     2 . Các giải pháp phát triển năng lực tư duy cho học sinh

Mức độ tiếp thu kiến thức bài mới, phương pháp giải bài tập còn chậm. Đó là những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng lượng học sinh.

Để đạt được ước vọng “Phát triển năng lực tư duy cho học sinh thông qua việc phân loại và rèn kĩ năng giải bài tập tròng chương dung dịch - Hóa Học 8” đã áp dụng biện pháp sau:

     2 .1. Nghiên cứu, nắm vững cấu trúc chương trình

- Trước hết bản thân tôi phải nắm được cấu trúc chương trình của từng lớp học, của từng cấp học, và cả chương trình của bộ môn. Trong quá trình giảng dạy tôi giúp học sinh vận dụng các kiến thức cũ có liên quan đến bài học mới, trên cơ sở đó xây dưng kiến thức mới. Mặt khác giúp cho các em nhận thấy các kiến thức ở nội dung bài học mới gần gũi với các em hơn.

- Xác định đúng dạng bài để dạy đúng phương pháp đặc trưng của bộ môn, và đúng với phương pháp của từng loại bài dạy.

- Đọc kĩ bài dạy để hiểu đúng ý của người viết sách giáo khoa, về kiến thức cơ bản và cách trình bày của tác giả, nắm được mối quan hệ giữa các kiến thức từ đó

     3.2. Soạn giảng theo định hướng đổi mới

     Chú trọng hệ thống bài tập, khắc sâu kiến thức trọng tâm cho học sinh, làm cho các em thấy rõ con đường đi đến kiến thức, phát hiện ra kiến thức.

     II. Thực trạng vấn đề

     Quá trình dạy học ở trường trung học cơ sở vạch ra ba nhiệm vụ chính đó là: giúp học sinh có thể nắm vững hệ thống tri thức, "phát triển năng lực nhận thức đặc biệt là năng lực tư duy độc lập sáng tạo và phát triển nhân cách".

     Đặc biệt yêu cầu đổi mới về chất lượng của hoá học là học sinh phải biết kết hợp chặt chẽ giữa các thí nghiệm với khái niệm, tính chất, giữa các khái niệm, tính chất với luyện tập suy luận theo mẫu và giải các bài toán, giữa tính toán với thực nghiệm pha chế. Qua đó học sinh phải nắm được cách tiến hành thí nghiệm, các khái niệm, tính chất cũng như kĩ năng giải bài tập cơ bản, cụ thể về kiến thức kĩ năng làm thí nghiệm.

     Qua việc tìm hiểu từ các em học sinh trường TH& THCS trong những năm trước nói riêng và trong cụm, trong Quận nói chung, tôi thấy thực trạng đang diễn ra một số tồn tại trong quá trình truyền thụ và lĩnh hội kiến thức lí thuyết cũng như kĩ năng giải bài tập phần dung dịch trong chương trình hoá học 8. Đó là:

     Việc truyền thụ kiến thức của giáo viên còn đơn điệu, học sinh lĩnh hội, tiếp thu kiến thức mang tính thụ động một chiều dẫn đến các em không hứng thú trong tiết học.

     Chưa quan tâm đến việc hướng dẫn học sinh suy nghĩ, tìm tòi kiến thức, tìm tòi cách giải hay, khai thác thêm, phát triển thêm để phát huy tính sáng tạo, tư duy linh hoạt của học sinh trong khi làm bài tập.

     Nhiều lúc giáo viên rơi vào tình trạng cho học sinh giải các bài toán khó trong khi học sinh vẫn còn lúng túng với những bài toán cơ bản.

     Trước một bài tập học sinh không biết tư duy từ đâu, đi theo hướng nào, không biết xâu chuỗi giữa vấn đề bài cho với kiến thức đã học. Giáo viên chưa hướng dẫn học sinh tìm hiểu khi nào hoà tan chất xảy ra phản ứng hoá học, khi nào không có phản ứng hoá học xảy ra, làm cho các em lúng túng, dẫn đến hiện tượng các em tự cho mình thói quen trong suy nghĩ là: Cứ hoà tan chất là phải có phương trình hoá học và các em viết bằng được phương trình mặc dù đó là phương trình hoá học viết sai để áp dụng tính theo phương trình hoá học.

     Phần pha chế dung dịch theo nồng độ cho trước hoặc pha trộn dung dịch ở một số trường, không được coi trọng mà chủ yếu dùng các thiết bị thô sơ để lấy hóa chất ước chừng rồi ghi nồng độ vào một cách tùy tiện dẫn đến không thành công hoặc kết quả không chính xác.

     Mặt khác chương dung dịch lại được dạy ở cuối chương trình Hóa học lớp 8 (tháng chuẩn bị kết thúc năm học) nên một số giáo viên, nhất là các giáo viên dạy chéo ban chỉ dạy qua loa, chiếu lệ cho hết chương trình của bộ môn. Thời gian còn lại dành cho việc ôn tập những môn thi cuối năm học theo đề chung của Phòng giáo dục đào tạo và Sở gáo dục đào tạo. Chính vì thế phần kiến thức xuyên suốt cả chương trình hoá học phổ thông rất quan trọng này lại bị xem nhẹ, dẫn đến học sinh bị hổng phần kiến thức, thiếu kỹ năng vận dụng phần nồng độ dung dịch vào trong chương trình hoá học lớp 9, hoá học trung học phổ thông.

     Kết quả khi chưa áp dụng sáng kiến kinh nghiệm vào công tác dạy và học chương dung dịch môn hoá học lớp 8 tại trường TH&THCS.

Lớp

Số học sinh được khảo sát

Kết quả

Giỏi

Khá

Trung bình

Yếu, kém

8A

25

7

28%

10

40%

7

28%

1

4%

8B

24

6

25%

9

37,5%

7

29,2%

2

8,3%

            
 

     III. Các g iải pháp thực hiện :

     1. Mục đích của giải pháp:

     Sáng kiến kinh nghiệm nhằm phát triển tư duy học sinh thông qua việc lĩnh hội kiến thức lí thuyết và kĩ năng giải một số dạng bài tập phần dung dịch trong chương trình hoá học phổ thông nói chung và phần dung dịch trong chương trình hoá học 8 nói riêng một cách bài bản và sâu sắc. Giúp các em tiếp thu bài chủ động, sáng tạo và làm công cụ giải quyết một số dạng bài tập phần dung dịch trong chương trình hoá học 8 và hoá học trung học phổ thông.

     Tạo hứng thú cho học sinh khi học môn hoá học, biết một số thao tác khi pha chế dung dịch và những điều cần lưu ý khi làm thí nghiệm.

    Giải đáp thắc mắc, sửa chữa sai lầm hay gặp khi giải toán có liên quan tới dung dịch lớp 8 trong quá trình dạy học.

     Giúp học sinh nắm vững một cách hệ thống các phương pháp cơ bản và vận dụng thành thạo phương pháp đó để làm bài tập.

     2. Nội dung của giải pháp:

+ Tính mới:

     Sáng kiến kinh nghiệm này nói lên thực trạng của việc dạy và học nội dung kiến thức về phần dung dịch trong chương trình hoá học 8 của trường TH&THCS trong những năm trước và của các trường trong cụm, trong huyện với mục đích nhằm giúp các giáo viên giảng dạy và cán bộ quản lí của các trường thấy được thực trạng đó để từ đó điều điều chỉnh, chỉ đạo việc dạy và học ở đơn vị mình, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn, giúp các em có được hệ thống kiến thức môn hoá học ở bậc học trung học cơ sở một cách lôgic và đầy đủ để các em tiếp thu kiến thức ở bậc học trung học phổ thông một cách dễ dàng và hoàn chỉnh, tiến tới nghiên cứu kiến thức về dung dịch ở các lớp trên bậc trung học phổ thông.

Tạo hứng thú cho học sinh khi học môn hoá học, biết một số thao tác khi pha chế dung dịch và những điều cần lưu ý khi làm thí nghiệm.

Giải đáp thắc mắc, sửa chữa sai lầm hay gặp khi giải toán có liên quan tới dung dịch lớp 8 trong quá trình dạy học.

Giúp học sinh nắm vững một cách hệ thống các phương pháp cơ bản và vận dụng thành thạo phương pháp đó để làm bài tập.

- Nội dung của giải pháp:

+ Tính mới:

Sáng kiến kinh nghiệm này nói lên thực trạng của việc dạy và học nội dung kiến thức về phần dung dịch trong chương trình hoá học 8 của trường TH&THCS  trong những năm trước và của các trường trong cụm, trong huyện với mục đích nhằm giúp các giáo viên giảng dạy và cán bộ quản lí của các trường thấy được thực trạng đó để từ đó điều điều chỉnh, chỉ đạo việc dạy và học ở đơn vị mình, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn, giúp các em có được hệ thống kiến thức môn hoá học ở bậc học trung học cơ sở một cách lôgic và đầy đủ để các em tiếp thu kiến thức ở bậc học trung học phổ thông một cách dễ dàng và hoàn chỉnh, tiến tới nghiên cứu kiến thức về dung dịch ở các lớp trên bậc trung học phổ thông.

    + Các cách thức thực hiện:

     I. LÀM RÕ CÁC KIẾN THỨC VỀ CHƯƠNG DUNG DỊCH LỚP 8 ĐƯỢC KHÁI QUÁT BẰNG SƠ ĐỒ TƯ DUY SAU:

     Chủ yếu giáo viên giới thiệu cho học sinh chất tan ở thể rắn và dung môi là nước mà chưa hình thành cho học sinh một khái niệm tổng quát về chất tan và dung môi. Do đó các em dễ ngộ nhận: Cứ chất lỏng là dung môi.

      Đa số giáo viên chưa hình thành được cho học sinh cách áp dụng định luật bảo toàn khối lượng để tính khối lượng dung dịch sau phản ứng mà mới chỉ dừng lại ở việc giải bài tập cho các em

     Phần kiến thức độ tan giáo viên chưa so sánh giữa độ tan và nồng độ phần trăm để rút ra cái cốt lõi của công thức tính độ tan, từ đó các em không thể phát triển tư duy trong bài tập tính độ tan khi hòa tan tinh thể hiđrat vào dung môi. Khi gặp những bài toán liên quan đến độ tan mà cho rất ít số liệu nhưng yêu cầu tính toán phức tạp các em chưa vận dụng được khái niệm về độ tan để tìm ra cốt lõi, chìa khóa của bài toán.

     Khi thực hành pha chế dung dịch cho đúng nồng độ đã định, do các thiết bị, cân cấp phát đã hỏng nên nhiều giáo viên đại khái, ước chừng bằng cách cho học sinh dùng các dụng cụ thô sơ để lấy hóa chất do đó pha chế không đúng nồng độ đã định, làm cho các em mất lòng tin vào khoa học.

     Ở một số trường phần kiến thức hòa tan chất có phản ứng hóa học xảy ra giữa chất tan và dung môi, phải áp dụng tính chất hóa học các em mới viết được phương trình, song giáo viên không hướng dẫn để học sinh tìm hiểu, nhận diện “dạng” của bài toán, mà chỉ chú trọng đến phần chữa bài tập. Từ đó các em không biết được khi nào hòa tan có phương trình, khi nào không có phương trình. Do đó các em rất khó khăn khi giải loại toán này.

Thực trạng dạy chéo ban

Từ thực trạng trên, bản thân tôi đã dạy nhiều năm môn hóa học lớp 8, tôi đã nghiên cứu và thực hiện dạy phần lý thuyết của chương dung dịch theo cách sau:

     * PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY CHO HỌC SINH THÔNG QUA VIỆC PHÂN LOẠI BÀI TẬP TRONG CHƯƠNG DUNG DỊCH.

     Để củng cố tốt phần lý thuyết của chương và khắc sâu kiến thức, tôi đã chỉ ra và phân loại cụ thể, chi tiết về các dạng bài tập của chương  theo các dạng lý thuyết đã nêu ở trên, đồng thời trong từng loại có hướng dẫn các em giải khá chi tiết. Trong mỗi phần bài tập tôi thường nhắc lại phần kiến thức lý thuyết nhằm mục đích giúp các em nắm chắc kiến thức lý thuyết sau đó vận dụng sáng tạo vào giải các bài tập.

     II. PHÁT TRIỂN CÁC THAO TÁC TƯ DUY CHO HỌC SINH THÔNG QUA CÁC BÀI TOÁN VỀ ĐỘ TAN VÀ NỒNG ĐỘ DUNG DỊCH.

     CÁC BÀI TOÁN VỀ ĐỘ TAN

     1 . PHÁT TRIỂN TƯ DUY PHÂN TÍCH TỔNG HỢP

Loại 1 : Tính độ tan của một chất trong nước.

Từ yêu cầu đề bài, học sinh cần tư duy "độ tan là gì"

* Từ định nghĩa muốn tính độ tan của một chất trong nước ta cần:

- Xác định số gam chất tan có trong 100 gam nước.

- Dung dịch phải bão hoà và ở một nhiệt độ xác định.

Bài 1: Ở 200C, hoà tan 60(g) KNO3 vào 190 (g) nước thì được dung dịch bão hoà. Hãy tính độ tan của KNO3 ở nhiệt độ đó.

Giải

*Sơ đồ giải:

* Phân tích: ở 200C, dung dịch bão hoà.

*Tổng hợp:

Ở 200C,       190 (g) nước hoà tan tối đa được 60 (g) KNO3

                   100 (g) nước hoà tan tối đa được S (g) KNO3

Độ tan của KNO3 ở 200C là 31,58 (g).

Bài 2: Xác định độ tan của Na2CO3 trong nước ở 180C. Biết rằng ở nhiệt độ này, khi hoà tan hết 143 (g) muối ngậm nước Na2CO3 .10H2O trong 160 (g) nước thì được dung dịch bão hoà.

Giải

* Học sinh cần suy luận do chất tan dưới dạng tinh thể hiđrat nên khối lượng nước sau khi hoà tan sẽ tăng lên.

* Sơ đồ giải toán:                                                                                       

* Phân tích

* Tổng hợp

Bước 1: Tính số mol của muối ngậm nước, số gam Na2CO3, số gam nước trong muối ngậm nước.

Bước 2: Xác định độ tan theo định nghĩa

Tổng số gam nước sau khi hoà tan là: 160 + 90 = 250 (g)

 Vậy 250 (g) nước hoà tan tối đa 53 (g) Na2CO3

100 (g) nước hoà tan tối đa x (g) Na2CO3

Độ tan của Na2CO3 ở 180C là 21,2 (g).

Loại 2 : Tính khối lượng của chất tan, hay nước khi biết độ tan của chất.

Bài 1: Tính khối lượng muối natri clorua NaCl có thể tan trong 750 (g) nước ở 250C. Biết rằng ở nhiệt độ này độ tan của NaCl là 36,2 (g).

* Sơ đồ giải toán:    mNaCl=?

*Phân tích:

SNaCl=36,2g và mdm=750g

mct=?

*Tổng hợp

Ở 250C,       100 (g) nước hoà tan tối đa được 36,2 (g) NaCl

                   750 (g) nước hoà tan tối đa được      x (g) NaCl.

Số gam NaCl cần lấy là 271,5 (g).

     2 . PHÁT TRIỂN TƯ DUY SUY LUẬN

     Suy luận giúp học sinh trình bày một vấn đề hay cụ thể là một bài toán mang tính logic.

     * HS cần suy luận khi ta làm lạnh (hay hạ nhiệt độ) dung dịch xuống thì sẽ có một phần chất tan không tan được nữa. Phần chất tan này sẽ tách ra dưới dạng chất rắn (dạng tinh thể hiđrat).

     Nếu chất rắn kết tinh có ngậm nước thì lượng nước trong dung dịch sau ít hơn dung dịch ban đầu.

Nếu chất rắn kết tinh không ngậm nuớc thì lượng nước trong hai dung dịch bão hoà bằng nhau.

Bài 2: Xác định khối lượng NaCl kết tinh trở lại khi làm lạnh 548 (g) dung dịch muối ăn bão hoà ở 500C xuống 00C, biết độ tan của NaCl ở 500C là 37 (g) và độ tan ở 00C là 35 (g).

Giải

Cách 1: Thông thường học sinh hay suy luận.

Gọi x là khối lượng NaCl có trong 548 (g) dung dịch NaCl bão hoà.

Vậy khối lượng nước là: (548 – x) (g).

Ở 500C        Trong 100 (g) nước hoà tan 37 (g) NaCl

Vậy (548 – x) (g) nước hoà tan x (g) NaCl

Ta có:

Ở 00C:         100 (g) nước hoà tan 35 (g) NaCl

                   400 9g) nước hoà tan y (g) NaCl

Vậy khối lượng NaCl kết tinh trở lại là: 148 – 140 = 8(g)

Cách 2: Làm lạnh 137 (g) dung dịch bão hoà từ 500C xuống 00C (137 = 100 + 37) thì khối lượng dung dịch giảm đi 37 – 35 = 2 (g) là số gam kết tinh trở lại.

137 (g) dung dịch NaCl từ 500C xuống 00C kết tinh 2 (g)

548 (g) dung dịch NaCl từ 500C xuống 00C kết tinh x (g)

          Khối lượng NaCl kết tinh trở lại ở 00C là 8 (g)

Bài 3: Xác định khối lượng tinh thể Natri sunfat ngậm nước Na2SO4 .10H2O tách ra khi làm nguội 1026,4(g) dung dịch bão hoà ở 800C xuống 100C. Biết độ tan của Na2SO4 khan ở 800C là 28,3(g) và ở 100C là 9 (g).

Giải

Cách 1: Thông thường HS suy luận như sau:

Bước 1: Tính

Bước 2: Dựa vào các độ tan của Na2SO4 ở 800C và 100C ta tính.

Ở 800C, 100(g) nước hoà tan tối đa 28,3 (g) Na2SO4 tạo ra 128,3 (g) dung dịch bão hoà.

     Vậy trong 128,3 (g) dung dịch có 28,3 (g) Na2SO4

                   1026,4 (g) dung dịch có x (g) Na2SO4

Ta có:                   Na2SO4  Na2SO4 .10H2O

                   a mol                              10a mol H2O

Khối lượng nước còn lại sau khi muối kết tinh là: (800 – 10a.18) (g)

Ở 100C,       100(g) nước hoà tan tối đa 9 (g) Na2SO4

                   (800 – 10a.18) (g) nước hoà tan tối đa y (g) Na2SO4

Mặt khác, khối lượng Na2SO4 cần hoà tan là: (226,4 – 142a) (g)   (2)

Từ (1) và (2) ta có:

Giải (3) ta được a = 1,227  

Cách 2:

Ở 800C, trong 100g nước hòa tan tối đa 28,3g Na2SO4 để tạo ra 128,3g dung dịch bão hoà.

Vậy    trong 128,3 (g) dung dịch có 28,3 (g) Na2SO4 và 100g nước.

          =>  1026,4 (g) dung dịch có  226,4g Na2SO4 và 800g nước.

Gọi x là số mol Na2SO4.10H2O tách ra

     3 . PHÁT TRIỂN TƯ DUY HỆ THỐNG HOÁ - KHÁI QUÁT HOÁ

    * Hệ thống hoá giúp học sinh có điều kiện ôn lại những kiến thức đã học. Nó còn giúp học sinh rèn luyện thế giới quan duy vật biện chứng, giúp học sinh xem xét sự vật hiện tượng đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với nhau

Bài 4: Có bao nhiêu gam muối ăn trong 1kg dung dịch bão hoà muối ăn ở 200C. Biết rằng độ tan của NaCl ở nhiệt độ này là 35,9(g).

Giải

Cách 1:  Gọi x là số gam NaCl có trong 1kg dung dịch bão hoà (hay 1000 (g) dung dịch).

Suy ra khối lượng nước có trong 1000 (g) dung dịch bão hoà là: (1000 – x) (g)

Ở 200C, độ tan NaCl là 35,9 (g)

Ta có tỉ lệ:                   Giải ra ta được x = 264,16 (g)

Cách 2: Ở 200C, 100 (g) nước hoà ta tối đa 35,9 (g) NaCl tạo ra 135,9 (g) dung dịch NaCl bão hoà.

Trong 135,9 (g) dung dịch NaCl bão hoà có 35,9 (g) NaCl

vậy 1000 (g) dung dịch NaCl bão hoà có x (g) NaCl

Số gam NaCl có trong 1kg dung dịch NaCl bão hoà là 264,16 (g)

Bài 5: Độ tan của KNO3 ở 200C là 42,1 (g). Tính nồng độ phần trăm của dung dịch KNO3 bão hoà ở 200C.

* Hệ thống hoá: Bài toán này liên quan đến nồng độ phần trăm.

Giải

Ở 200C, 100 (g) nước hoà tan tối đa được 42,1 (g) KNO3 tạo ra được 142,1 (g) dung dịch KNO3 bão hoà ở 200C

Nồng độ phần trăm của dung dịch KNO3 bão hoà ở 200C là:

* Gọi S là độ tan (tức số gam chất tan trong 100 (g) dung môi) thì khối lượng dung dịch mdd = 100 + S. Do vậy biểu thức liên hệ giữa độ tan S và nồng độ C%

     CÁC BÀI TOÁN VỀ NỒNG ĐỘ DUNG DỊCH

     1 . Lý thuyết:

A. Nồng độ phần trăm (C%)

A. 1. Khái niệm: Nồng độ phần trăm của dung dịch cho biết số gam chất tan có trong 100 gam dung dịch.

A. 2. Công thức tính:

Tính được C% cần tính được mct và mdd

Tính mct

+ Nếu chất tan ở trạng thái rắn và cho biết số mol: mct = n.M

+ Nếu chất tan ở trạng thái khí:

+ Nếu chất tan ở trạng thái lỏng: m = D.V (D là khối lượng riêng)

Tính mdd

Tính khối lượng dung dịch trong các trường hợp sau:

  a. Chất tan tan trong dung môi không xảy ra phản ứng hóa học

mdd = mct + mdm

    b. Chất tan tan trong dung môi xảy ra phản ứng hóa học.

+Chất tan trong dung dịch là sản phẩm của phản ứng chất tan với dung môi.

- Nếu chất tan tác dụng với dung môi và không có chất khí thoát ra hoặc chất kết tủa thì theo định luật bảo toàn khối lượng. Khôi lượng dung dịch thu được là tổng khối lượng chất tan và khối lượng dung môi. Tính theo công thức:

mdd = mct  +  mdm

- Nếu chất tan và dung môi xảy ra phản ứng và có chất khí thoát ra hoặc chất kết tủa thì chính lượng khí thoát ra hoặc lượng chất kết tủa làm cho khôi lượng các chất sau phản ứng giảm đi so với khối lượng chất ban đầu. Khôi lượng dung dịch sau phản ứng được tính theo công thức:

mdd = mchất đem hòa tan ban đầu  + mdm - mkhí ( mkết tủa)

Tính nồng độ C% được tóm lược theo bản đồ sau:

Từ công thức

Công thức chuyển đổi.             

B. Nồng độ mol/lit ( CM)

B . 1. Khái niệm:

            Nồng độ mol/lit (CM) của dung dịch cho biết số mol chất tan có trong 1 lít dung dịch.

B. 2. Công thức tính                      

            Để tính được nồng độ C của dung dịch ta cần xác định các giá trị n và

V (thể tích dung dịch tính theo đơn vị lít)

  * Xác định số mol (n):

    + Chất tan cho theo đơn vị gam:

    + Chất tan là chất khí cho biết thể tích ở đktc

  * Xác định Vdd

   + Nếu chất tan là chất khí và chất rắn khi hòa tan vào dung môi thì thể tích thay đổi không đáng kể nên thường bỏ qua sự thay đổi thể tích dung dịch và Vdd = Vdm

   + Nếu chất tan ở trạng thái lỏng thì khí đó Vdd = Vdm  + Vct 

   + Nếu dung dịch  cho theo đơn vị khối lượng dung dịch và D: 

* Công thức chuyển đổi:  Từ công thức 

C. Công thức chuyển đổi giữa C% và CM (biết khối lượng riêng D)

 * Công thức chuyển đổi C% từ CM

Ví dụ 1: Xác định nồng độ % của 300 ml dung dịch H3PO4 2,5M có khối lượng riêng là 1,15 g/ml.

Giải.

          Áp dụng công thức ta có:   

* Công thức chuyển đổi CM  từ C%

Ví dụ 2: Tính nồng độ mol của dung dịch HCl 24% có khối lượng riêng                 D = 1,12g/ml.

Giải.

Áp dụng công thức ta có:

Trường hợp 1: Chất tan tan trong dung môi không xảy ra phản ứng hóa học

(Phát triển tư duy phân tích - tổng hợp)

* Chất tan ở trạng thái rắn

Ví dụ 1: Hòa tan hết 40 gam NaOH và 160 gam nước. Tính nồng độ phần trăm của dung dịch thu được.

* Sơ đồ giải toán:           

* Phân tích:

mct = 40g và mdm= 160g

=> mdd=mct+mdm

C% = ?

* Tổng hợp:

  Theo bài ra ta có: mct  = 40 gam

 mdd = mct + mdm  = 40 + 160 = 200 (gam)

  Ta có:

Vậy nồng độ dung dịch thu được có nồng độ 20%

  * Chất tan ở trạng thái lỏng.

Ví dụ 3: Hòa tan 5 ml rượu etylic (C2H5OH) vào 196 gam nước. Tính nồng độ phần trăm của dung dịch thu được (Biết khối lượng riêng của rượu D = 0,8 g/ml).

* HS suy luận do khối lượng của rượu nhỏ hơn khối lượng của nước nên chất tan là rượu còn dung môi là nước.

Giải.

Theo bài ra ta có:

mdd = mct + mdm  = 4 + 196 = 200 (gam)

Dung dịch thu được có nồng độ 2%

* Chất tan ở trạng thái khí (ở điều kiện tiêu chuẩn)

Ví dụ 4: Tính nồng độ mol/lít của dung dịch thu được khi hòa tan 33.6 lít khí HCl ở đktc vào 500 ml nước. Coi hòa tan không làm thay đổi thể tích.

Giải.

         Theo bài ra ta có:

Vdd   = 500 ml = 0,5 lit

Dung dịch thu được có nồng độ 3M

Trường hợp 2: Chất tan tan trong dung môi xảy ra phản ứng hóa học.

(Phát triển tư duy hệ thống hoá)

* Học sinh cần hệ thống hoá các kiến thức: Phương trình phản ứng, tính chất hoá học của nước, định luật bảo toàn khối lượng, cách giải bài toán tính theo phương trình hoá học.

 - Dung dịch thu được là sản phẩm của phản ứng giữa dung môi và chất tan.

 - Áp dụng các bước giải bài toán tính theo phương trình hóa học.

 * Khối lượng dung dịch không thay đổi.

Ví dụ 1: Hòa tan hoàn toàn 4,7g K2O vào 195,3g nước. Tính nồng độ phần trăm của dung dịch thu được.

Giải.

Theo bài ra ta có:

Ta có PTHH

                                K2O       +     H2O       ®    2KOH

                                 1mol                                  2 mol

                                 0,05mol                              0,1mol

nKOH = 0,1 mol Þ  mKOH = 0,1.56 = 5,6 gam

Áp dụng định luật bảo toàn khối lượng:

* Chất tan tác dụng với dung môi sản phẩm có chất khí thoát ra.

Ví dụ 2: Hòa tan hết 4,6 gam Na vào 195,6 gam nước. Tính nồng độ phần trăm của dung dịch thu được.

Giải.

Theo bài ra ta có:

Ta có PTHH

                          2Na     +     2H2O    ®     2NaOH   +   H2

                         2 mol         2 mol            2 mol        1 mol

                         0,2 mol                              0,2 mol          0,1mol

          Theo PTHH ta có:

Giáo viên cần nhắc cho học sinh chất tan trong dung dịch là NaOH

mdd = mct + mdm – m khí   = 4,6 + 195,6 – 0,2 = 200 (gam)

Ví dụ 3:

Hòa tan hết 6,5 gam Zn vào 500ml dung dịch axit HCl. Tính nồng độ mol/lít của dung dịch thu được. Coi thể tích của dung dịch thay đổi không đáng kể.

Giải.

         Theo bài ra ta có.

         Ta có PTHH   

                     Zn     +      2HCl    ®       ZnCl2      +     H2

                   1 mol           2 mol             1 mol         

                   0,1 mol                             0,1 mol

          Theo PTHH ta có  

     CÁC BÀI TOÁN VỀ PHA CHẾ DUNG DỊCH.

1. Pha chế một dung dịch theo nồng độ cho trước

(Phát triển tư duy phân tích - tổng hợp)

a. Pha chế một dung dịch theo nồng độ phần trăm cần thiết.

* Cách làm.

 - Tính khối lượng chất tan và khối lượng dung môi cần dùng.

* Phương pháp.

Theo khối lượng dung dịch và nồng độ phần trăm của dung dịch sau khi pha chế tính được khối lượng chất tan.

Ví dụ 1: Tính khối lượng KOH và khối lượng nước cần thiết để pha chế 200 gam dung dịch KOH 5%.

Giải.

          Theo bải ra ta có.

mdm  = 200 -  10 = 190 gam

          Vậy phải lấy 10 gam KOH hòa tan vào 190 gam nước pha chế được 200 gam dung dịch KOH 5%.

b. Pha chế một dung dịch theo nồng độ mol/lit cần thiết.

* Cách làm.

          Tính số mol chất tan. Từ đó tính khối lượng chất tan cần dùng.

Ví dụ. Tính khối lượng KOH và thể tích dung môi cần dùng để pha chế 500 ml dung dịch KOH 0,25M. Có sự pha trộn thì thể tích dung dịch thay đổi không đáng kể.

Giải.

          Từ thể tích và nồng độ mol/lít của dung dịch KOH ta có

Vậy cần lấy 7 gam KOH hòa tan vào 500 ml nước được dung dịch cần pha.

2. Pha loãng dung dịch theo nồng độ cho trước

a. Pha loãng một dung dịch theo nồng độ phần trăm cần thiết.

Học sinh cần khái quát: khối lượng chất tan không thay đổi

* Cách làm.

* Cách 1: Cách giải thông thường

- Tính khối lượng chất tan có trong dung dịch sau khi pha loãng

- Tính khối lượng dung dịch ban đầu chứa lượng chất tan như đã tính được ở trên.

- Tính khối lượng H2O cần dùng để pha loãng.

* Cách 2: Cách giải nhanh

 Áp dụng sơ đồ chéo.     

     4 . PHÁT TRIỂN TƯ DUY SO SÁNH

So sánh là một thao tác tư duy cần có và mở đầu cho sự phát triển tư duy. So sánh giúp nhớ lâu, khắc sâu kiến thức.

So sánh giúp học sinh hiểu rõ được bản chất của sự vật, hiện tượng

     4. Pha trộn dung dịch.

Pha loãng dung dịch có nồng độ cần thiết bằng cách pha loãng dung dịch có nồng độ đặc hơn và dung dịch loãng hơn.

Học sinh cần tư duy và so sánh nồng độ của dung dịch thu được có giá trị ở khoảng giữa của giá trị hai nồng độ của hai dung dịch đem trộn

a. Pha loãng dung dịch theo nồng độ C%

Loại 1. Tính nồng độ sau khi trộn hai dung dịch cho trước

* Cách 1: Cách thông thường

 - Tính khối lượng chất tan trong cả hai dung dịch

 - Tính khối lượng dung dịch sau khi trộn..

 - Áp dụng công thức tính được nồng độ dung dịch sau khi pha.

 * Cách 2. Áp dụng sơ đồ chéo (Cách giải nhanh)                                       

Ví dụ: Trộn 50 gam dung dịch NaCl 6% với 450 gam dung dịch NaCl 20%. Tính nồng độ C% của dung dịch thu được

Giải.

Cách 1. Tính khối lượng chất tan có trong hai dung dịch

Dung dịch 1. 

Dung dịch 2.    

Khối lượng chất tan sau khi trộn: m = 90 + 3 = 93 gam

Khối lượng dung dịch sau khi trộn : mdd = 50 + 450 = 500 gam

Cách 2. Áp dụng sơ đồ chéo

Ví dụ: Tính tỉ lệ khối lượng dung dịch NaOH 16% và dung dịch NaOH 42% để pha được dung dịch NaOH 20%

Giải

Cách 1: Cách thông thường

Gọi dung dịch 1. NaOH 16% có khối lượng dung dịch là m1

Gọi dung dịch 2. NaOH 42% có khối lượng dung dịch là m2

Ta có:                   

Þ Khối lượng chất tan sau khi trộn là m =

Khối lượng dung dich sau khi trộn là: mdd = m1 + m2

Û 16m1 + 42m2 = 20m1 + 20m2    Û 22m2 = 4m1

Vậy cần trộn 11 phần dung dịch NaOH 16% với 2 phần dung dịch NaOH 42%  thu được dung dịch NaOH 20%.

Cách 2. Áp dụng sơ đồ chéo (Cách gải nhanh)

Vậy cần trộn 11 phần dung dịch NaOH 16% với 2 phần dung dịch NaOH 42%  thu được dung dịch NaOH 20%

Loại 3. Tính khối lượng của dung dịch cần pha.

a. Pha trộn theo nồng độ phần trăm.

Ví dụ 1: Tính nồng độ mol/lít của dung dịch thu được khi trộn 300 ml dung dịch NaOH 1M và 200 ml dung dịch NaOH 1,5M.

Giải.

Cách 1: Theo bài ra ta có:

Dung dịch NaOH 1M có:  nNaOH = 0,3.1 = 0,3 mol

Dung dịch NaOH 1,5M có: nNaOH = 0,2.1,5 = 0,3 mol.

Số mol NaOH sau khi trộn là n = 0,3+ 0,3 = 0,6 mol

V = 0,3+ 0,2 =0,5 lít              =>

Vậy khi trộn 300 ml dung dịch NaOH 1M với 200ml dung dịch NaOH 1,5M. thu được 500 ml dung dịch NaOH 1,2M

Cách 2. Áp dụng sơ đồ chéo   

Vậy khi trộn 300 ml dung dịch NaOH 1M với 200ml dung dịch NaOH 1,5M thu được 500 ml dung dịch NaOH 1,2M.

Loại 2: Xác định tỉ lệ thể tích các dung dịch cần trộn.

Cách làm.

 - Tính số mol chất tan trong dịch có nồng độ CM1

 - Tính số mol chất tan trong dịch có nồng độ CM2

 Tính tỉ lệ các dung dịch. Biết thể tích dung dịch sau pha trộn không đổi.

* Áp dụng sơ đồ chéo.

Ví dụ 2: Phải trộn dung dịch NaOH 0,3 M với dung dịch HCl 0,7M theo tỉ lệ như thế nào để được dung dịch NaOH 0,5M.

Giải.

Cách 1: (thông thường)

 Gọi thể tích dung dịch NaOH 0,3M là V1.

 Gọi thể tích dung dịch NaOH 0,7M là V2.

Ta có:

+ Số mol HCl có trong V1 lit dung dịch NaOH 0,3M là  nNaOH  = 0,3V1

+ Số mol HCl có trong V2 lit dung dịch NaOH 0,7M là  nNaOH  = 0,7V2

 Dung dịch sau khi trộn có nHCl = 0,3V1 + 0,7V2

 V = V1+ V2

 Vậy trộn 1 thể tích dung dịch NaOH 0,3M với 1 thể tích dung dịch NaOH 0,7M để thu được dung dịch NaOH 0,5 M.

Cách 2. Áp dụng sơ đồ chéo.

  Vậy trộn 1 thể tích dung dịch NaOH 0,3M với 1 thể tích dung dịch NaOH 0,7M để thu được dung dịch NaOH 0,5M.

     IV. KẾT QUẢ

     1. Khả năng áp dụng của giải pháp

     Sáng kiến kinh nghiệm được nghiên cứu và áp dụng đối với các thao tác tư duy của học sinh lớp 8 trường TH&THCS và một số trường trong Quận  

     Các dạng toán trong chương dung dịch.

     Có thể triển khai áp dụng cho các trường trong địa bàn huyện.

     2. Tính hiệu quả, lợi ích thu được

     Hiện nay trình độ tư duy của học sinh phát triển rất tốt, học sinh có khả năng tự nghiên cứu sách giáo khoa, có khả năng vận dụng, áp dụng công thức, những thí dụ trong sách giáo khoa để giải. Tuy nhiên toán về nồng độ dung dịch và độ tan chỉ được học sinh khá giỏi và những học sinh trung bình cần cù và cố gắng hoàn thành chúng ở mức độ tương đối tốt. Trong đó, tôi nhận thấy học sinh trung bình tốn thời gian tương đối để giải một bài toán về độ tan, nồng độ dung dịch, còn đối với học sinh khá giỏi thì tốc độ giải nhanh hơn. Các dạng toán về độ tan, nồng độ dung dịch có khả năng phát triển tư duy cho học sinh thuộc trung bình trở lên, bên cạnh đó phải kể đến sự tích cực của học sinh và hệ thống các bài toán về độ tan và nồng độ dung dịch đưa ra cho học sinh.

     Đã bước đầu phân tích mức độ phát triển tư duy của học sinh thông qua hệ thống bài tập trong chương dung dịch.

     Trước đây để hình thành những khái niệm trên cho học sinh tôi cũng gặp rất nhiều khó khăn mà không mấy thành công. Nhưng khi đổi mới phương pháp dạy học, việc ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng sơ đồ tư duy để hệ thống kiến thức và bài tập vào trong dạy học hoá học nói chung và dạy phần dung dịch lớp 8 nói riêng thì việc hình thành và hệ thống các khái niệm, các dạng bài tập phần dung dịch trong chương trình hoá học lớp 8 không còn khó khăn như trước. Từ khi áp dụng phương pháp dạy như đã trình bày trong sáng kiến nêu trên tôi thấy học sinh tiếp thu kiến thức trong tiết học một cách nhẹ nhàng, thoải mái. Lớp học sinh động, sôi nổi, giúp nâng cao hứng thú học tập của các em. Chất lượng bài giảng được nâng lên rõ rệt , học sinh dễ tiếp thu và nhớ bài lâu hơn. Giúp các em phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập. Phát triển năng lực chú ý, óc tò mò khoa học.

     Các em rất hứng thú và mong chờ đến tiết hóa học

     Năm học 2017-2018 BGH nhà trường đồng ý cho triển khai áp dụng sáng kiến kinh nghiệm. Khi triển khai nội dung sáng kiến kinh nghiệm tôi luôn nhận được sự phản hồi từ phía học sinh và đồng nghiệp về chất lượng và hiệu quả của sáng kiến là: Dạy theo phương pháp này các em rất hứng thú trong khi học; kiến thức sâu sắc và được vận dung một cách linh hoạt. Phần bài tập vận dụng học sinh nắm được kỹ năng tư duy và giải bài tập một cách toàn diện.

Kết quả kiểm tra đợt 2 (Đã áp dụng đề tài)

     Kết quả sau khi dạy thử nghiệm tại lớp 8A, 8B

Lớp

Số học sinh được khảo sát

Kết quả

Giỏi

Khá

Trung bình

Yếu, kém

8A

25

10

40%

10

40%

5

20%

0

0%

8B

24

9

37,5%

9

37,5%

6

25%

0

0%

 

     - Với kết quả khá khả quan tôi nghĩ rằng việc triển khai đề tài này đã có nhiều tác động tích cực giúp học trong việc rèn luyện tư duy cho học sinh và phát huy tính sáng tạo cho các em. Mặc khác, giúp các em có định hướng rõ ràng trong việc đưa ra cách học sao cho phù hợp, nâng cao khả năng tư duy trong việc tiếp thu kiến thức để vận dụng vào giải các bài tập được hiệu quả hơn đặc biệt trong chương dung dịch.

PHẦN C:  KẾT LUẬN

     - Qua thời gian nghiên cứu “ Phát triển năng lực tư duy cho học sinh thông qua việc phân loại và rèn kĩ năng giải bài tập trong chương dung dịch - Hóa Học 8”, tôi nhận thấy chất lượng học tập của học sinh ngày một tiến bộ hơn, học sinh yêu thích môn Hóa Học hơn trước, học sinh yếu kém giảm dần và số lượng học sinh khá, giỏi tăng  lên rõ rệt.

     - Thông qua việc rèn luyện các dạng bài tập chương Dung dịch cũng  giúp học sinh mở mang tầm hiểu biết, giáo dục tư tưởng, đạo đức và rèn luyện phong cách làm việc của người lao động mới, làm việc có kế hoạch, có phân tích phương hướng trước khi làm việc cụ thể. Rèn luyện cho học sinh tác phong cần cù, chịu khí tìm tòi học hỏi, độc lập sáng tạo trong công việc.

     - Thông qua việc liên hệ thực tế giúp học sinh gắn kiến thức môn học vào đời sống.

     - Trong quá trình giảng dạy môn Hoá học tại trường THCS cũng gặp không ít khó khăn trong việc giúp các em học sinh làm các dạng bài tập môn Hoá học, song với lòng yêu nghề, sự tận tâm công việc cùng với một số kinh nghiệm của bản thân, sự học hỏi đồng nghiệp. Tôi đã luôn biết kết hợp giữa hai mặt: “ Lý luận dạy học hoá học và thực tiễn đứng lớp của giáo viên”. Chính vì vậy không những từng bước làm cho đề tài hoàn thiện hơn về mặt lý thuyết, mặt lý luận mà còn ứng dụng giúp học sinh học được tốt hơn.

      Tôi đã phân loại được hệ thống giải một số bài tập phù hợp với đặc điểm học sinh của trường, bước đầu đã đem lại hiệu quả hơn trong giảng dạy. Trên cơ sở những kết quả đã đạt được tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu, mở rộng đề tài và sẽ phân loại áp dụng cho từng đối tượng học sinh để nâng cao chất lượng bộ môn Hóa học nói riêng và chất lượng của nhà trường nói chung.

      Vì thời gian  thực nghiệm của đề tài còn chưa nhiều nên nội dung còn có những hạn chế và những thiếu sót nhất định. Vì vậy tôi rất mong sự góp ý chân thành của đồng nghiệp để nội dung đề tài ngày càng hoàn thiện và có nhiều ứng dụng trong quá trình dạy học hoá học ở trường THCS.

      KHUYẾN NGHỊ.

     * Với nhà trường:       

- Thấy hết tầm quan trọng của bộ môn Hoá học.

- Có kế hoạch bồi dưỡng và triển khai thực hiện, vẫn dụng đề tài sau khi đã kiểm nghiệm thực tế ở trường mang lại kết quả tốt.

- Tạo điều kiện về cơ sở vật chất (tài liệu, phương tịên dạy học, phòng bộ môn …)

- Cần đào tạo đội ngũ cán bộ phụ trách thí nghiệm chuyên nghiệp.

- Có chế độ thích hợp đối với giáo viên dạy hoá học khi làm thí nghiệm thực hành.

     * Với giáo viên:

- Mỗi giáo viên nên nhận thức đúng đắn vai trò của mình với chất lượng học tập của học sinh và trách nhiệm của bản thân với việc nâng cao chất lượng giáo dục.

- Mỗi giáo viên phải tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ, tìm ra những biện pháp tối ưu trong giảng dạy nhằm thu được hiệu quả cao nhất trong dạy học hoá học ở trường THCS.

thời tiết các vùng

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

Bình chọn

Đánh giá thái độ tiếp công dân của cán bộ Một cửa quận