tin nổi bật

Trường Mầm non Hoa Hồng: Biện pháp quản lý chỉ đạo công tác chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ trong trường Mầm non
Ngày đăng 19/08/2019 | 15:29

Trẻ được lớn lên phát triển toàn diện là nhờ một phần vào sự chăm sóc của gia đình và nhà trường. Trẻ em là thế hệ tương lai của đất nước, là tiềm lực của mỗi quốc gia. Ngành giáo dục có một trách nhiệm thật lớn lao đó là đào tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao, có trình độ tay nghề và phẩm chất nghề nghiệp tốt để đóng góp đưa đất nước phát triển lên một tầm cao mới

  1. ĐẶT VẤN ĐỀ
  1. Lý do chọn đề tài :

      Bậc học mầm non được coi là khởi nguồn giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em tiếp cận kiến thức cho những cấp học tiếp theo. Giáo dục mầm non cũng là một bộ phận quan trọng của hệ thống giáo dục quốc dân, xây nền móng đầu tiên trong sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ, người kế tục sự nghiệp của đất nước. Trẻ khỏe mạnh và thông minh là niềm hạnh phúc của gia đình là sự phồn vinh của đất nước. Muốn trẻ khoẻ mạnh và thông minh thì vấn đề dinh dưỡng phải hợp lý, chăm sóc nuôi dưỡng phải có khoa học đây là một việc làm không thể thiếu được, là trách nhiệm của gia đình, cộng đồng và toàn xã hội. Là ngành học đầu tiên trên hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục mầm non có nhiệm vụ quan trọng đó là hình thành ở trẻ những cơ sở đầu tiên của con người mới xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu của giáo dục mầm non là chăm sóc giáo dục, hình thành cho trẻ những yếu tố nhân cách đầu đời của con người đó là: Nhận thức, thể chất, ngôn ngữ, tình cảm xã hội, thẩm mỹ. Để đạt được mục tiêu trên, cần phải kết hợp hài hòa giữa công tác CSND, chăm sóc sức khỏe và giáo dục.

     Hầu hết thời gian ban ngày các cháu ở trường mầm non, nếu các cháu được chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục tốt thì sẽ được phát triển tôt. Nếu chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục không tốt thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển thể lực và trí tuệ của trẻ. Vì vậy, bậc học mầm non của chúng ta phải tiến hành song các khâu với nhau, hỗ trợ cho nhau, không thể tách rời. Khâu chăm sóc và nuôi dưỡng là then chốt và vô cùng cần thiết, chăm sóc, nuôi dưỡng tốt trẻ sẽ khỏe mạnh. Có sức khỏe trẻ mới tiếp thu được kiến thức theo độ tuổi.

     Là cán bộ quản lý nhà trường, bản thân tôi nhận thấy: Giáo dục mầm non hiện nay phát triển rất tốt cả về chất lượng và số lượng. Ở trường mầm non, nơi tôi đang công tác, nhà trường luôn được các cấp quan tâm chăm lo cho công tác chăm sóc nuôi dưỡng, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phụ vụ công tác chăm sóc nuôi dưỡng.  Trong năm học nhà trường có nhiều biện pháp chăm sóc nuôi dưỡng thực hiện có hiệu quả. Bên cạnh đó, hàng năm vẫn còn 1 số hạn chế trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ. Để duy trì kết quả đạt được trong nhiều năm qua, đồng thời khắc phục những hạn chế trong khâu chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ, ngay từ đầu năm học 2018-2019 tôi đã đi sâu nghiên cứu và áp dụng  đề tài: “Biện pháp quản lý chỉ đạo công tác chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non”.

     2. Đối tượng nghiên cứu: Công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non

     3. Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp lý luận

- Phương pháp thống kê số liệu

     4. Thời gian nghiên cứu: Năm học 2018 - 2019 tại trường Mầm non  quận Hoàng Mai – Hà nội.

B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

     I. Cơ sở lý luận:

     Nâng cao chất lượng nuôi dưỡng trẻ là nhiệm vụ quan trọng trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ trong trường mầm non. Nuôi dưỡng đảm bảo chất lượng có tác dụng tăng cường và bảo vệ sức khỏe cho trẻ, giúp trẻ phát triển tốt tạo điều kiện để thực hiện nội dung giáo dục toàn diện.

     Muốn cho trẻ có một cơ thể khỏe mạnh, cân đối, thông minh, tích cực tham gia các hoạt động trước hết cán bộ quản lý trong trường mầm non phải quan tâm đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ. Hai mặt này phải song song với nhau, hỗ trợ cho nhau và có vai trò quan trọng như nhau.

     Nếu chăm sóc trẻ tốt, tức là cho trẻ ăn, ngủ đúng giờ, khám sức khỏe đúng định kỳ, cân đo đúng đủ theo yêu cầu, có biện pháp phòng chống bệnh tật nhưng bữa ăn của trẻ chưa đảm bảo đủ chất, đủ lượng, cân đối các chất chưa hợp lý, chưa đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm thì đứa trẻ không thể phát triển thể lực tốt, trẻ không khỏe mạnh. Ngược lại trẻ được ăn no, thực phẩm phong phú theo mùa, nhưng khâu chăm sóc không tốt, ăn ngủ không tốt, chăm sóc trẻ không tỉ mỉ, chu đáo; phòng chống dịch bệnh không tốt, vệ sinh kém, cán bộ quản lý không kiểm tra giám sát các hoạt động, sẽ dẫn đến chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ không đạt yêu cầu.

     II. Cơ sở thực tiễn:

     Trường mầm non tôi đang công tác được thành lập năm 1998 tiền thân là trường mầm non thuộc nhà máy Đồ hộp xuất khẩu. Trải qua 21 năm xây dựng và trưởng thành nhà trường đã có bề dày thành tích trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ. Trong những năm gần đây nhà trường đã làm tốt công tác chăm sóc nuôi dưỡng, y tế học đường. Kết quả kiểm tra nhà trường đều đạt kết quả tốt.

     Năm học 2018-2019, trường có 8 lớp mẫu giáo với tổng số cháu là 319 trẻ. Trong đó: Mẫu giáo lớn: 93 cháu; Mẫu giáo nhỡ: 82 cháu; Mẫu giáo bé: 81 cháu, Nhà trẻ 63 cháu.

     Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên toàn trường là 31. Trong đó: Ban giám hiệu: 02; Giáo viên: 19; Nhân viên cấp dưỡng: 5; Nhân viên văn phòng: 02; Bảo vệ lao công: 03; Đảng viên: 13.

     1. Thuận lợi:

- Trường nhận đư­­ợc sự quan tâm của UBND  quận Hoàng Mai, sự tạo điều kiện, giúp đỡ của Đảng uỷ, UBND, HĐND phường Tân Mai cũng như sự chỉ đạo sát sao và kịp thời của Phòng Giáo dục và Đào tạo quận Hoàng Mai.

- Được sự ủng hộ nhiệt tình của các bậc phụ huynh.

- Đội ngũ cán bộ giáo viên trẻ khỏe, nhiệt tình, yêu nghề, có nghiệp vụ vững vàng, được đào tạo bài bản qua các trường lớp chuyên nghiệp.

- Bếp được xây dựng theo quy trình bếp một chiều, đạt tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, được trang bị đầy đủ, đồng bộ về cơ sở vật chất.

- Nhà trường ký hợp đồng với các hãng thực phẩm sạch có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng đảm bảo an toàn về vệ sinh an toàn thực phẩm.

- Có nguồn nước sạch phục vụ ăn uống và sinh hoạt

- Đội ngũ nhân viên đạt yêu cầu về trình độ nghiệp vụ chuyên môn và hàng năm được đi tập huấn kiến thức VSATTP tại Trung tâm Y tế quận Hoàng Mai.

- 100% các cháu đi học ăn bán trú và ngủ tại trường.

     2. Khó khăn:

- Số nhân viên bếp đa số là nhân viên trẻ, mới vào công tác nên kinh nghiệm còn ít.

- Diện tích bếp chật hẹp; bếp ăn được xây dựng và cải tạo đã lâu nên bếp ăn của trường vẫn còn thiếu một số trang thiết bị hiện đại: máy thái củ quả, may xay sinh tố công nghiệp, tủ hấp khăn…

- Hệ thống CSVC phục vụ chăm sóc vệ sinh trong các lớp xuống cấp.

- 100% nhân viên nuôi là hợp đồng, mức lương còn thấp nên chưa yên tâm công tác.

      III. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:

     Biện pháp 1: Khảo sát xây dựng kế hoạch: 

     Kế hoạch chăm sóc trẻ:

     Trong trường mầm non công tác chăm sóc trẻ đứng hàng đầu. Trẻ nhỏ trong giai đoạn này phát triển rất mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần, mặt khác cơ thể trẻ non nớt chưa thích nghi mạnh với môi trường do đó việc chăm sóc trẻ được thực hiện phải đầy đủ, tỉ mỉ, chu đáo. Để chỉ đạo tốt công tác chăm sóc trẻ tôi đã xây dựng kế hoạch cụ thể về các mục sau:

     * Cân đo – khám sức khỏe:

     Thực hiện đúng lịch cân đo trẻ, một năm học cân đo 4 lần (tháng 9, 12,4,7), trẻ suy dinh dưỡng, thừa cân, thấp còi cân đo hàng tháng. Thời gian cân cho trẻ cố định vào tuần 3 các tháng theo quy định. Để đảm bảo việc theo dõi chính xác số liệu, nhân viên y tế học đường phải đến từng lớp kiểm tra cân đo và chấm biểu đồ. Để làm tốt công tác này nhân viên Y tế cần nắm vững quy định về cách tính tháng tuổi của trẻ để chấm biểu đồ, cách tính chỉ số BMI từ đó mới xác định chính xác cân nặng của trẻ và phân loại sức khỏe của từng trẻ.

     Bảng 1: Kết quả cân đo đầu năm học 2018-2019

Độ tuổi

Số trẻ

Cân nặng

Chiều cao

Kênh BT

Kênh SDD

Thừa cân

Kênh BT

Kênh thấp còi

Số trẻ

%

Số trẻ

%

Số trẻ

%

Số trẻ

%

Số trẻ

%

Đợt I

(9/2018)

276

260

94,2

14

5,1

2

0.7

261

94,5

15

5,5

     Bảng 2: Kết quả khám sức khỏe lần 1 (tháng 10/2018)

Đợt khám

Trẻ khám

     TS    

Tỷ lệ %

Trẻ mắc các bệnh

 

 

Mắt  (%)

TMH (%)

Răng

( %)

Bệnh khác

(%)

Đợt I

10/2018

276/276

100

TS

2

56

50

1

%

0,7

18,7

16,7

0,35

- Nhìn vào bảng 1, 2 thấy rõ sức khỏe của trẻ đầu năm học: tỷ lệ trẻ SDD, thấp còi tương đối cao. Trẻ ở lứa tuổi nhỏ ( 3-4 tuổi) thường bị SDD, thấp còi nhiều hơn trẻ lứa tuổi lớn hơn (5-6 tuổi), ngược lại trẻ 5-6 tuổi bị thừa cân nhiều hơn trẻ nhỏ. Trẻ ở các lớp MGB mắc bệnh nhiều hơn. Nguyên nhân trên là do trẻ bé non nớt hơn, hay bị ốm dẫn đến suy dinh dưỡng, thấp còi. Với các bênh trẻ hay mắc phải nhìn rõ các bệnh về răng trẻ mắc nhiều hơn, sau đó là các bệnh tai mũi họng và bệnh về mắt. Điều này càng thấy rõ sức đề kháng của trẻ ở lứa tuổi mầm non rất yếu khó thích nghi với môi trường và dễ mắc các bệnh khi thời tiết thay đổi.

- Sau khi đã có số liệu cân đo đầu năm tôi đã định hướng cho từng lớp đề ra chỉ tiêu cần đạt phấn đấu hạ tỷ lệ SDD, thừa cân, thấp còi. Đồng thời phối hợp các biện pháp chăm sóc theo thời gian biểu để đạt hiệu quả cao.  

     * Chế độ sinh hoạt:

     Xây dựng chế độ sinh hoạt theo đúng từng độ tuổi đảm bảo cho trẻ có chế độ ăn, ngủ, vui chơi, sinh hoạt đúng giờ, đủ thời gian theo khoa học. Tôi đã cùng tổ chuyên môn xây dựng bảng phân công dây chuyền chăm sóc trẻ trong từng lớp phù hợp với số giáo viên trong lớp. Bảng dây chuyền chăm sóc trẻ đã giúp các giáo viên nắm chắc chế độ sinh hoạt của trẻ và cùng phối hợp với nhau chăm sóc trẻ chu đáo ( Minh họa bảng 3, 4, 5, 6,7 phần phụ lục).

     * Vệ sinh cá nhân - Lao động tự phục vụ:

     Chế độ vệ sinh cá nhân - Lao động tự phục vụ là việc hướng dẫn cho trẻ biết giữ gìn vệ sinh, rèn các nề nếp vệ sinh, có ý thức giữ vệ sinh cho trường lớp và dần hình thành thói quen vệ sinh văn minh cho trẻ. Để chỉ đạo tốt công tác vệ sinh, rèn luyện kĩ năng của trẻ, tôi đã cùng giáo viên xây dựng chương trình giáo dục rèn kỹ năng vệ sinh cả năm để giáo viên có thể xây dựng theo và thực hiện dễ dàng.

     1.2 Xây dựng kế hoạch nuôi dưỡng trẻ:

     * Xây dựng thực đơn:

- Chỉ đạo kế toán kết hợp tổ bếp xây dựng thực đơn 4 tuần không trùng lặp phù hợp trẻ theo mùa đông - mùa hè, đảm bảo chế độ dinh dưỡng cho trẻ theo tỷ lệ cân đối giữa các chất và các bữa ăn trong ngày của trẻ theo quy định. Trong năm học nhà trường đã thực hiện thực đơn theo mùa và 4 tuần không trùng món.

- Cải tiến các món ăn cho phù hợp với thực tế trẻ tại trường. Chỉ đạo nhân viên bếp đưa thêm các loại gia vị, nguyên liệu mới phù hợp vào các món ăn cho trẻ. Phối hợp nguyên liệu và gia vị đúng cách sẽ làm tăng giạ trị dinh dưỡng của món ăn, vì mỗi loại nguyên liệu, gia vị có chứa những chất dinh dưỡng khác nhau. Khi kết hợp nhiều loại nguyên liệu khác nhau sẽ làm cho tổng giá trị dinh dưỡng của món ăn tăng lên. Phối hợp nhiều loại nguyên liệu và gia vị có tác dụng làm cho món ăn có màu sắc, phong phú, hấp dẫn vì mỗi loại  nguyên liệu và gia vị có màu sắc và mùi vị riêng.

     Đối với trẻ mầm non các món ăn phải được thay đổi, tránh sự lặp đi, lặp lại vì vậy đòi hỏi ở người nấu bếp phải biết cách phối hợp các loại nguyên liệu, thêm gia vị cho các món ăn sao cho phù hợp và hấp dẫn đối với trẻ. Cùng một loại thực phẩm nhưng khi sử dụng các loại nguyên liệu và gia vị khác nhau thì món ăn sẽ được cải tiến thành món ăn mới giúp trẻ ăn ngon miệng, không nhàm chán.

     * Giao nhận thực phẩm - Cách chế biên:

- Xây dựng kế hoạch phân công giao nhận thực phẩm:

+ Đối với BGH: đồng chí nào trực đi ca sớm đồng thời có nhiệm vụ giao nhận thực phẩm.

+ Đối với nhân viên bếp: Người trực tiếp nấu.

+ Đối với nhân viên tài vụ: Đồng chí kế toán.

+ Nhân viên y tế.

+ Đối với giáo viên: Xây dựng kế hoạch phân công cuốn chiếu mỗi lớp 1 tuần cụ thể tới từng giáo viên trong các nhóm lớp, tổ khối (minh họa bảng 9 phần phụ lục).

Với những trường hợp nghỉ đột xuất không nhận chợ, có trách nhiệm báo BGH, đồng thời báo trực tiếp tổ trưởng để tiện phân công giáo viên lớp, kế toán giao nhận hoặc báo bộ phận thanh tra nhân dân nhận thay

+ Đối với thanh tra nhân dân: được quyền kiểm tra đột xuất bất kỳ. Nếu xảy ra hiện tượng phải báo cáo ngay với Hiệu trưởng hoặc người được ủy quyền. Khi giao nhận, yêu cầu các thành viên phải ghi đầy đủ số lượng, chất lượng mặt hàng tại từng thời điểm nhận và có ký ghi tên xác nhận người nhận đồng thời nội dung thực đơn, kế hoạch được triển khai sâu rộng tới CB-GV-NV trong toàn trường, được thông qua các hội nghị để cùng phối hợp kiểm tra, giám sát theo dõi và thực hiện.

     * Cách chế biến:

- Với những món ăn cũ nhân viên cấp dưỡng (người nấu chính) phối hợp với kế toán nuôi và tiếp phẩm để tính toán định lượng thực phẩm, số lượng, các thực phẩm chính, phụ cho phù hợp số tiền ăn của trẻ trong ngày, cần cân đối để đảm bảo định lượng đủ calo, tỷ lệ chất, nhưng vẫn đảm bảo ngon miệng, hợp khẩu vị với trẻ. Các món ăn của trẻ sau một thời gian chế biến thường xuyên đã rút ra được tỷ lệ chế biến đều tay cho cấp dưỡng

     Gia vị được sử dụng trong các món ăn của người Việt vô cùng phong phú và đa dạng. Gia vị không phải là nguyên liệu chính làm nên món ăn nhưng nó là yếu tố quan trọng kết hợp với nguyên liệu chính để tạo nên mùi vị và màu sắc cho món ăn đó. Gia vị làm cho thức ăn có cảm giác ngon hơn, có thể tạo những kích thích tích cực lên cơ quan vị giác, khứu giác và thị giác của người thưởng thức nhất là đối với trẻ em. Đối với trẻ mầm non các món ăn phải được thay đổi, tránh sự lặp đi, lặp lại vì vậy đòi hỏi ở người nấu bếp phải biết cách phối hợp các loại nguyên liệu, thêm gia vị cho các món ăn sao cho phù hợp và hấp dẫn đối với trẻ. Cùng một loại thực phẩm nhưng khi sử dụng các loại nguyên liệu và gia vị khác nhau thì món ăn sẽ được cải tiến thành món ăn mới giúp trẻ ăn ngon miệng, không nhàm chán. Vì vậy, năm học 2018-2019 ngay từ đầu năm tôi đã chỉ đạo nhân viên cải tiến các món ăn trường đã thực hiện bằng việc sử dụng các loại gia giảm có sẵn ở địa phương như: tía tô, nấm hương, hành, thìa là, mùi tàu, mùi ta, cần tây. Gia vị lên men như mẻ, bỗng rượu, dấm thanh hoặc kẹo đắng, nước cốt dừa. Gia vị thực vật như sả, tỏi, gừng, chanh quả hoặc lá nếp, bơ, bột đao, xì dầu để đưa vào chế biến các món ăn cho trẻ trong trường nhằm giúp trẻ ăn ngon miệng, ăn hết xuất đảm bảo dinh dưỡng cho trẻ, trẻ khỏe mạnh, phát triển cân đối giữa chiều cao và cân nặng, tích cực tham gia các hoạt động, tư duy phát triển.

- Với những món ăn cải tiến yêu cầu: Kế toán, cô nuôi phải tự tính toán lượng thực phẩm phù hợp sau đó Ban giám hiệu kiểm tra và đồng ý để chế biến thử. Ngày chế biến thử món ăn mới cấp dưỡng cùng kế toán và BGH đến từng lớp để nắm bát tình hình ăn của trẻ. Giáo viên các lớp góp ý kiến để BGH xem xét quyết định món ăn đó có đảm bảo phù hợp với trẻ không, nếu đạt lượng calo cao, tỷ lệ chất phù hợp, trẻ ăn ngon miệng và ăn hết xuất thì món ăn đó sẽ được đưa vào thực đơn tháng của trường.

     * Cơ sở vật chất - nhân sự:

- Căn cứ vào thực trạng cơ sở vật chất, nhân sự, sự chỉ đạo của lãnh đạo các cấp, tôi đã  xây dựng kế hoạch phân công nhận sự dây chuyền làm việc trong tổ bếp cụ thể các ngày theo từng tuần để tiện theo dõi, kiểm tra.

Kết quả: Nhờ có kế hoạch phân công hợp lí, cho nên dây chuyền làm việc của nhân viên nuôi không bị chồng chéo. Việc làm giữa các ca hợp lí. Tạo được quy trình làm việc một chiều trong nhà bếp. 100% các cô có kĩ thuật sơ chế nấu ăn đúng yêu cầu của trẻ mầm non. Nề nếp làm việc của tổ nuôi rất tốt từ việc vệ sinh ATTP, nhập thực phẩm đến sơ chế, chế biến thực phẩm và cho ăn. Các cô nuôi trẻ có tay nghề tiến bộ rõ rệt. Tháng 3/2019 vừa qua, cô nuôi Bùi Minh Trang dự thi chế biến món ăn cho trẻ trong Hội thi dinh dưỡng cấp Quận đã đạt giải nhì.

     2. Biện pháp 2: Bồi dưỡng đội ngũ

     2.1: Đối với giáo viên:

     Đội ngũ giáo viên lâu năm của nhà trường có kỹ năng chăm sóc giáo dục trẻ tương đối tốt, nhưng số giáo viên trẻ tuy có tâm huyết yêu nghề mến trẻ xong kinh nghiệm và kỹ năng còn nhiều hạn chế do đó tôi đã xây dựng kế hoạch quan tâm đến những giáo viên trẻ:

      * Bồi dưỡng kiến thức tâm sinh lý của trẻ:

     Tổng số giáo viên trực tiếp đứng lớp hiện nay là 19 đồng chí. Đội ngũ giáo viên được trẻ hóa, trình độ 100% đạt chuẩn và trên chuẩn. Đội ngũ giáo viên trẻ, yêu nghề, yêu trẻ nhưng ngược lại kinh nghiệm trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ còn nhiều hạn chế. Giáo viên trẻ thường thiếu tính kiên trì, tỉ mỉ, việc vận dụng quy chế chăm sóc nuôi dưỡng hay cắt xén, nhiều khi còn sợ bẩn ( khi trẻ đi vệ sinh). Giáo viên mới vào trường công tác còn theo nếp tự do, chưa hòa nhập được với nội quy nhà trường, giao tiếp với phụ huynh còn nhút nhát. Trước tình hình đội ngũ như vậy, ban giám hiệu chúng tôi đã phân công mạng lưới giáo viên hợp lí theo trình độ, kĩ năng sư phạm. Phân công giáo viên có kinh nghiệm với giáo viên trẻ chưa có kinh nghiệm cùng 1 lớp. Mỗi lớp có bảng phân công dây chuyền chăm sóc trẻ treo trước lớp. Giáo viên làm việc luân phiên.

     * Chăm sóc trẻ theo đúng chế độ sinh hoạt:

     Quản lý chặt chẽ việc thực hiện chăm sóc trẻ theo chế độ sinh hoạt vừa có tác dụng giúp trẻ có nề nếp thối quen tốt, trẻ được sinh hoạt đều đặn làm cho cơ thể trẻ phát triển tốt. Mặt khác chăm sóc trẻ theo đúng chế độ sinh hoạt là cách tốt nhất để giáo viên thuộc kỹ năng chăm sóc trẻ của mỗi hoạt động khác  nhau trong ngày và giúp giáo viên nắm chắc kiến thức cũng như có kỹ năng thuần thục.

      2.2. Đối với nhân viên cấp dưỡng:

      Đội ngũ nhân viên cấp dưỡng được tuyển dụng có tuổi đời trẻ. Tất cả các cô nuôi đều có bằng cao đẳng, trung cấp nấu ăn. Tuổi nghề của các cô nuôi còn rất trẻ. Đây cũng là một điều kiện không thuận lợi cho công việc hằng năm của tổ nuôi. Trước tình hình đó, ban giám hiệu đã có kế hoạch bố trí nhân lực, sắp xếp các cô vào dây chuyền sao cho phù hợp. Những cô nuôi mới vào làm việc xếp dây chuyền kèm với cô cũ. Ban giám hiệu tăng cường kiểm tra, dự dây chuyền làm việc để hướng dẫn và uốn nắn kịp thời giúp cho quy trình kĩ thuật thao tác được thuần thục. Phân công cô nuôi đi ca (theo tuần) thay phiên không cố định.

       * Nhân viên cấp dưỡng phải nắm chắc các quy định về nhà bếp:

  • Quy định về đồ dùng trang phục, vệ sinh cá nhân: Là người trực tiếp tiếp xúc với thực phẩm phải chấp hành đầy đủ các thực hành về vệ sinh cá nhân (thực hành rửa tay theo quy định, mặc quần áo bảo hộ lao động theo quy định, không hút thuốc lá, ăn uống trong khi làm việc…)
  • Quy định về trang thiết bị nhà bếp: phù hợp với yêu cầu từng loại thực phẩm (giá, kệ, tủ đựng, bát thìa, xoong nồi đảm bảo vệ sinh, có trang thiết bị kiểm soát nhiệt độ độ ẩm, thông gió và các yếu tố ảnh hưởng tới ATTP). Trang thiết bị phòng chống côn trùng, động vật gây hại, không han rỉ, được bảo dưỡng và làm vệ sinh thường xuyên, thiết bị dụng cụ an toàn ( bình ga, tủ cơm ga, bếp ga) phải đảm bảo độ chính xác và được bảo dưỡng, kiểm định định kì theo quy định.

     * Nhân viên cấp dưỡng nắm được yêu cầu về dinh dưỡng cho trẻ: Chất dinh dưỡng có vai trò vô cùng quan trọng đối với sức khỏe và sự phát triển của cơ thể. Chất dinh dưỡng bao gồm các chất sinh năng lượng và không sinh năng lượng. Các chất sinh năng lượng gồm: chất đạm, chất béo, chất bột đường. Các chất không sinh năng lượng bao gồm: các vitamin, các chất khoáng và nước.

     Chất đạm có vai trò quan trọng trong quá trình duy trì và phát triển các chất cơ bản của hoạt động sống, là nguyên liệu để cấu trúc, xây dựng và tái tạo các tổ chức trong cơ thể, là thành phần chính của các kháng thể giúp cơ thể chống lại bệnh nhiểm khuẩn. Chất đạm có vai trò đặc biệt quan trọng trong di truyền, hình thành và hoàn thiện hệ thần kinh giúp cơ thể phát triển cả về trí tuệ và tầm vóc. Trong bữa ăn hàng ngày cần cân đối tỉ lệ chất đạm có nguồn gốc động vật và thực vật.

     Chất béo hay còn gọi lipit là nhóm chất dinh dưỡng chính cần thiết cho sự sống, là nguồn cung cấp năng lượng và các axit béo cần thiết, là dung môi hòa tan và là chất mang của các vitamin tan trong chất béo như: vitamin A, D, E, giúp trẻ hấp thu và sử dụng tốt các vitamin này làm tăng cảm giác ngon miệng, chất béo cung cấp năng lượng cao gấp hơn 2 lần so với chất đạm và bột đường. Chất béo nguồn gốc động vật gồm: sữa mẹ, mỡ, sữa động vật, lòng đỏ trứng. Thực phẩm có nguồn gốc thực vật có hàm lượng lipit cao là dầu thực vật, lạc, vừng, đậu tương, hạt dẻ, cùi dừa…

     Chất bột đường (gluxit) là nguồn cung cấp năng lượng chính cho cơ thể, tạo đà tốt cho sự phát triển của trẻ. Gluxit tham gia cấu tạo nên tế bào, các mô và điều hòa hoạt động cơ thể. Nguồn thực phẩm cung cấp chất bột đường chủ yếu từ ngũ cốc (gạo, bột mì, ngô, khoai, sắn, mì sợi, miến…), các loại hoa quả tươi có vị ngọt (chuối, táo, xoài, cam, củ cải đường…), đường mật, bánh kẹo…

     Vitamin và khoáng chất là những chất dinh dưỡng rất cần thiết. Tuy hàng ngày chỉ cần 1 lượng ít, nhưng nếu thiếu sẽ gây ra tình trạng bệnh lí cho cơ thể. Những khoáng chất quan trọng với sức khỏe của trẻ: sắt, canxi, I ốt, axit folic, kẽm.

      3. Biện pháp 3: Đầu tư trang bị cơ sở vật chất phục vụ chăm sóc nuôi dưỡng

      3.1 Trang thiết bị phục vụ chăm sóc:

      Hằng năm, Ban giám hiệu thực hiện kế hoạch kiểm kê cơ sở vật chất toàn trường. Việc kiểm kê cơ sở vật chất trang thiết bị giúp Ban giám hiệu mua sắm bổ sung đồ dùng dụng cụ kịp thời. Căn cứ vào chỉ tiêu số lượng trẻ năm học tới các lớp, các bộ phận trong trường lập dự trù cơ sở vật chất để ban giám hiệu có kế hoạch mua sắm cho hợp lí. Qua các buổi đi kiến tập nuôi dưỡng ở các trường bạn, Ban giám hiệu đã học hỏi và tham mưu các cấp để trang bị cơ sở vật chất.

     Năm học vừa qua, nhà trường đã tiến hành mua bổ sung đồ dùng trang thiết bị như: bát, đĩa, thìa inox,  nồi inox đựng món xào, xoong inốc to, rổ inốc to, cho tổ nuôi. Bổ sung cho các lớp: cốc inox, khay i nốc, chiếu gối, đồ dùng dụng cụ…Tổng kinh phí trang thiết bị cơ sở ban đầu trong năm học trên 267. 260. 000 đ. Minh hoạ kết quả đầu tư, sửa chữa cơ sở vật chất, đồ dùng phục vụ trẻ (bảng 11 , 12).

     BẢNG 11: ĐẦU TƯ ĐỒ DÙNG BÁN TRÚ ĐẾN THÁNG 3/2019

STT

TÊN ĐỒ DÙNG

SỐ TIỀN

1

Mua chiếu

1.500.000

2

Mua gối

1.500.000

3

Mua khăn mặt dệt kim

6.000.000

4

Mua bếp ga công nghiệp

950.000

5

Mua nồi inox

4.800.000

6

Mua tủ cơm

38.390.000

7

Mua rổ inox

1.000.000

8

Mua cối xay thịt

32.120.000

9

Thìa I nốc

500.000

10

Tủ sấy bát

38.500.000

 

Tổng

125.260.000

       Kinh phí sửa chữa điện, nước trong các lớp, sửa chữa đồ chơi ngoài trời, CSVC đảm bảo an toàn và cảnh quan môi trường sư phạm:

      BẢNG 12: ĐẦU TƯ SỬA CHỮA CSVC ĐẾN THÁNG 3/2019

STT

TÊN ĐỒ DÙNG

SỐ TIỀN

1

Sửa điện , nước

22.000.000

2

Sửa chữa thiết vị văn phòng (máy in, máy tính)

28.000.000

3

Sửa chữa các công trình cơ sở

92.000.000

 

 

Tổng

142.000.000

 

     Với sự đầu tư cơ sở vật chất như trên đã tạo điều kiện cho công tác chăm sóc nuôi dưỡng trong trường đạt hiệu quả ngày càng cao.

     3.2. Đầu tư CSVC nuôi dưỡng:

- Nhà trường đầu tư trang bị hệ thống bếp ăn đồng bộ, hiện đại: Mua thêm tủ cơm ga mới có công suất nấu lớn hơn, trang bị thêm 1 máy xay thịt, 1 tủ sấy bát và xong nồi chia món xào, các loại rổ sơ chế bằng inox…

- 100% trang thiết bị, đồ dùng sử dụng chất liệu inox, nhôm, không sử dụng chất liệu bằng nhựa. Các dụng cụ như thớt, dao, găng tay, khăn lau, ủng cũng được sắp xếp để đúng nơi quy định tạo sự gọn gàng, ngăn nắp, khoa học và thuận tiện trong quá trình sử dụng.

- Để nhân viên bếp thường xuyên nghiêm túc thực hiện tốt, nhiệm vụ của mình, trong bếp được treo một số nội dung quy định sử dụng lượng thực phẩm, 10 nguyên tắc vàng về vệ sinh an toàn thực phẩm…Đồng thời BGH phân công nhiệm vụ y tế thường xuyên kiểm tra sát sao về vệ sinh bếp ăn, vệ sinh cá nhân nhân viên nấu.

- Với nước rác thải, thức ăn thừa, luôn được chứa trong thùng có nắp đậy (được chuyển bỏ hàng ngày) và để xa bếp ăn để đảm bảo vệ sinh.

- Hàng ngày, trước khi bếp hoạt động, nhà trường có kế hoạch phân công cụ thể nhân viên cấp dưỡng thay phiên nhau trực sớm làm nhiệm vụ thông thoáng phòng bếp, lau dọn sàn nhà, kệ bếp, kiểm tra hệ thống điện, ga trước khi hoạt động. Luộc cốc cho trẻ, bật tủ sấy bát. Các dụng cụ chế biến thường xuyên được dọn rửa vệ sinh ngay sau khi sử dụng và cất đúng nơi quy định.

- Với phương châm: “Làm đâu gọn đấy - Đứng dậy sạch ngay” đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi nhân viên nấu nên bếp ăn luôn luôn được đảm bảo vệ sinh sạch sẽ, gọn gàng, ngăn nắp, khoa học an toàn. Ngoài công tác vệ sinh hàng ngày, thứ hai hàng tuần đều phải tổng vệ sinh xung quanh trong và ngoài bếp và được BGH, nhân viên y tế đôn đốc kiểm tra. Nếu các khu vực, dụng cụ vệ sinh không đảm bảo hoặc cất không đúng nơi quy định nhà trường lập biên bản đối tượng được phân công thực hiện nhiệm vụ tại khu vực hoặc sử dụng đồ dùng đó và đưa vào thi đua theo quy định của trường.

     3.3 Hệ thống nước sạch:

- Nước đóng vai trò vô cùng quang trọng đối với đời sống con người. Thiếu nước con người không thể tồn tại được. Nước được sử dụng rất nhiều trong cuộc sống sinh hoạt đặc biệt sử dụng nhiều công đoạn chế biến thực phẩm và vệ sinh trong sinh hoạt hàng ngày đối với trẻ trong trường mầm non.

- Hàng năm, nhà trường lấy mẫu nước uống tinh khiết và nước sinh hoạt để kiểm định chất lượng (2 lần/năm học - Tháng 9 và tháng 3) đồng thời ban kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm liên ngành lấy mẫu xét nghiệm đều đạt kết quả theo quy định chuẩn nước sạch.

- Đối với nước sử dụng được chứa trong 4 bể có nắp đậy kín, lưới chắn côn trùng và khóa an toàn. thường xuyên vệ sinh sạch sẽ. Bể chứa nước ngầm được thau rửa định kỳ 6 tháng 1 lần để đảm bảo nguồn nước an toàn.

     4. Biện pháp 4: Chỉ đạo thực hiện công tác chăm sóc nuôi dưỡng:

     * Chỉ đạo xây dựng thực đơn:

          - Đảm bảo khẩu phần ăn của tre đủ về năng lượng và các chất dinh dưỡng

          - Đảm bảo tỷ lệ cân đối giữa các chất sinh năng lượng. Cân đối tỷ lệ đạm động vật và thực vật, mỡ động vật và dầu thực vật. Cân đối các loại vitamin và chất khoáng (canxi và phốt pho)

- Đảm bảo khẩu phần của trẻ ở trường: lứa tuổi nhà trẻ chiếm 60-70 % khẩu phần cả ngày và mẫu giáo chiếm 50 – 60 % khẩu phần cả ngày.

Trong đó tỷ lệ: Bữa trưa  = 65 – 70 %

                        Bữa chiều = 30 - 35%

- Thực đơn được xây dựng theo từng ngày, từng tuần, từng tháng và theo mùa.

- Xây dựng thực đơn cho nhiều ngày cần thay đổi món ăn cho đỡ chán và đảm bảo đủ các chất dinh dưỡng. Khi thay đổi cần đảm bảo thay thế thực phẩm trong cùng một nhóm (ví dụ: thay thịt bằng cá, trứng hoặc tôm…) hoặc phối hợp các thực phẩm thay thế để đạt được giá trị dinh dưỡng tương đương.

- Có thực đơn của bữa chính, bữa phụ phù hợp với mức đóng góp.

- Tỉ lệ  ăn trưa - chiều phải đủ theo quy định: trưa 65- 70%, chiều 30 - 35%. Tỷ lệ cân đối các chất:  P: 13- 20, L: 25- 35 (mẫu giáo) và 30-40 (nhà trẻ), G: 52- 60(mẫu giáo) và 47-52 (nhà trẻ)

- Kế toán nhà trường phối hợp với tổ cấp dưỡng để xây dựng thực đơn sau đó thông qua Ban giám hiệu và đưa vào thực hiện.

- Khẩu phần ăn của trẻ được đồng chí kế toán cập nhật vào máy vi tính hằng ngày. Các đầu sổ nuôi được thực hiện đầy đủ ghi chép rõ ràng, số liệu chính xác.

Hằng ngày, BGH cùng đồng chí kế toán có mặt tại bếp để giao nhận thực phẩm, tính ăn cho trẻ đúng khẩu phần ăn trong ngày (tiền thừa, thiếu không quá 3 xuất ăn/ ngày, cộng dồn không quá 3 xuất ăn/tuần/tháng).

     * Chỉ đạo nhận thực phẩm sạch và sơ chế:

- Việc giao nhận thực phẩm được quản lý chặt chẽ, có đầy đủ thành phần. Giao nhận thực phẩm không chỉ đủ số lượng, mà còn phải đảm bảo chất lượng thực phẩm, yêu cầu nhân viên cấp dưỡng phải cắt bên trong miếng thịt để kiểm tra hiện tượng thịt lợn gạo, hay thịt bò có sán, độ tươi ngon dẻo dính, kiểm tra bao gói, nhãn mác các công ty cung cấp, hạn sử dụng của các loại thực phẩm.

- Việc sơ chế thực phẩm thực hiện đúng quy trình bếp 1 chiều tại phòng sơ chế. Thực phẩm từ khi giao nhận đến khi sơ chế đầu được để trên bàn, kệ, đựng trong rổ inox sạch sẽ. Nhà trường đã trang bị đầy đủ các bàn sơ chế có bánh xe có thể di chuyển và sắp xếp bàn gọn gàng sau khi sơ chế xong.

Sơ chế nguyên liệu là bước làm sạch, cắt thái, tẩm ướp, xay - giã... nguyên liệu, trước đi chuyển sang giai đoạn chế biến nhiệt. Dù là hải sản, thịt động vật, rau củ quả tươi hay thực phẩm khô… đều cần được sơ chế kỹ trước khi áp dụng các  phương pháp chế biến món ăn.

Quá trình sơ chế nguyên liệu bao gồm: sơ chế thô và sơ chế tinh:

- Sơ chế thô: loại bỏ những phần không ăn được của thực phẩm (độc hại hoặc có giá trị dinh dưỡng thấp).

* Cách sơ chế thô thường được sử dụng

- Ngâm thực phẩm

Ngâm nấm khô, các loại hạt, rau khô trong nước lạnh giúp làm mềm thực phẩm một cách dễ dàng, bên cạnh đó còn giúp loại bỏ bụi bẩn, các thành phần khác dính vào từ quá trình phơi khô thực phẩm.

Với thịt, cá – khi ngâm trong nước giúp làm phai tiết của nguyên liệu, giúp thịt cá có màu sắc tươi hơn.

- Rửa thực phẩm

Với rau củ quả tươi, cần phải rửa trước khi gọt vỏ để loại bỏ chất bẩn, côn trùng. Sau khi gọt vỏ xong cần rửa lại một lượt nữa để đảm bảo nguyên liệu sạch hoàn toàn.

Thịt gia súc, gia cầm: cần được rửa kỹ để loại bỏ chất bẩn dính trong quá trình giết mổ, vận chuyển.

Cá – hải sản cần được rửa kỹ cả bên trong và bên ngoài để loại bỏ chất bẩn, nội tạng, tiết, vây, vảy cá…

- Sơ chế tinh: cắt thái – tẩm ướp – xay giã nguyên liệu phù hợp với yêu cầu của từng món ăn cụ thể.

      * Cách chế biến, chia thực phẩm:

- Ăn uống với dinh dưỡng trẻ em hết sức quan trọng. Cho trẻ ăn thế nào để đủ dinh dưỡng? Trẻ ăn đủ dinh dưỡng thì món ăn đó phải đủ chất, đa dạng các nhóm thực phẩm phong phú khi chế biến phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, giúp trẻ ăn ngon miệng, ăn hết xuất. Chế biến thực phẩm phải đảm bảo chín, mềm, không nấu mặn và phối hợp các thực phẩm gia vị phù hợp với khẩu vị của trẻ. Các loại rau xanh không nên nấu quá nhừ làm mất chất vitamin. Món ăn chế biến xong phải cho trẻ ăn ngay trong vòng nhiều nhất là 2 giờ. Khâu chia thức ăn được nhân viên bếp phối hợp cùng nhân viên kế toán nuôi tính toán, cân đong đúng số lượng theo quy định, theo tỷ lệ sống chín cụ thể của từng loại thực phẩm và món ăn, đảm bảo khâu chia chính xác cho từng trẻ

      * Kết quả: Trong năm vừa qua nhà trường không để xảy ra ngộ độc thực phẩm, bệnh dịch, tai nạn thương tích ảnh hưởng đến trẻ.

     Tháng 3/ 2019 Trung tâm y tế quận Hoàng Mai kiểm tra công tác Y tế học đường. Nhà trường đạt 99,5/100 điểm – xếp loại Tốt.

     5. Biện pháp 5: Phối hợp với cha mẹ trẻ chăm sóc nuôi dưỡng

     * Phối hợp chăm sóc sức khỏe

+ Tổ chức họp phụ huynh vào đầu năm, hết học kì I, tổng kết năm học.

+ Họp ban chấp hành hội cha mẹ học sinh toàn trường vào đầu năm, sơ kết học kì I, tổng kết năm học.

+ Tuyên truyền kiến thức nuôi dưỡng trẻ qua các góc tuyên truyền của các lớp, bảng tin nhà trường, để tuyên truyền thông báo các nội dung với phụ huynh.

+ Thông báo kết quả cân đo, kết quả khám sức khỏe trong năm học.

+ Đôn đốc giáo viên trao đổi trực tiếp với cha mẹ trẻ bị suy dinh dưỡng, thừa cân, thấp còi hàng ngày, để phối hợp chăm sóc trẻ tại nhà theo đúng yêu cầu, phù hợp chế độ ăn, vận động, thực phẩm.

+ Y tế nhà trường phải soạn thảo các bài tuyên truyền phát tận tay phụ huynh những trẻ suy dinh dưỡng, thừa cân, thấp còi.

     * Phối hợp giáo dục trẻ kỹ năng tự phục vụ.

      Kỹ năng tự phục vụ đối với trẻ mầm non là vô cùng quan trọng nhưng việc hình thành cho trẻ lại khó khăn bởi trẻ ở lứa tuổi này tạo cho trẻ thành kỹ năng phải trải qua một quá trình thường xuyên, liên tục trong thời gian dài. Nắm được đặc điểm trên tôi đã cùng với giáo viên đưa ra các bài tuyên truyền ngắn, gọn, thuyết phục cha mẹ trẻ những lợi ích của việc hướng dẫn con một số kỹ năng tự phục vụ theo lứa tuổi:

          + Lớp mẫu giáo bé: Kỹ năng đi vệ sinh đúng chỗ, đúng nơi quy định, kỹ năng tự xúc cơm, tự uống nước, tự bê ghế vào bàn ăn, tự rửa tay, lau mặt có sự giúp đỡ của người lớn…

          + Lớp mẫu giáo nhỡ: Kỹ năng tự phục vụ như lớp bé nhưng thuần thục hơn, tự lấy và cất đồ chơi, kỹ năng chuẩn bị dồ dùng ăn uống cho bản thân…

          + Lớp mẫu giáo lớn: Kỹ năng tự phục vụ như lớp nhỡ nhưng thuần thục hơn, kỹ năng đánh răng, kỹ năng dọn vệ sinh lau bàn ghế, đồ dùng đồ chơi, kỹ năng phân công nhau phối hợp làm trực nhật giờ ăn, giờ ngủ.

     Qua sự trao đổi và sự phản hồi của phụ huynh và qua chính kỹ năng của trẻ ngày càng thuần thục, tự giác hơn đã khẳng định sự phối hợp hướng dẫn con ở nhà thêm đã rất hiệu quả trong việc hình thành kỹ năng tự phục vụ cho trẻ, làm tiền đề hình thành kỹ năng sống cho trẻ sau này.

      * Phối hợp nuôi dưỡng

      Làm tốt công tác phối hợp nuôi dưỡng trẻ, tuyên truyền đến phụ huynh các bài tuyên truyền nội dung hướng dẫn sử dụng thực phẩm sạch an toàn cho trẻ. Đồng thời tuyên truyền với phụ huynh cẩm nang dinh dưỡng cho trẻ mầm non qua mạng internet để phụ huynh nghiên cứu và áp dụng chăm sóc, nuôi dưỡng con.

      Ban đại diện hội cha mẹ trẻ đã nắm chắc mục đích, yêu cầu, nội dung hoạt động của hội đồng thời phối hợp chặt chẽ với ban giám hiệu nhà trường làm tốt công tác kiểm tra, giám sát công tác nuôi dưỡng trẻ thông qua các hoạt động kiểm tra việc giao nhận chợ đột xuất, kiểm tra giờ ăn của trẻ, phối hợp với nhà trường tạo được sự quan tâm đến cô và trẻ trong toàn trường.

PHẦN III:  KẾT QUẢ

      Sau 1 năm học áp dụng các biện pháp trên dưới sự chỉ đạo của Ban giám hiệu, đội ngũ giáo viên nhân viên cấp dưỡng trường Mầm non nơi tôi công tác đã đạt được một số kết quả cụ thể:

- Trong năm học, nhà trường luôn luôn đảm bảo vệ sinh ATTP, không có hiện tượng ngộ độc thực phẩm xảy ra.

- 100% giáo viên nắm chắc dây chuyền, kỹ năng phục chăm sóc nuôi dưỡng, phục vụ trẻ. Số giáo viên trẻ mới nhận công tác đã nắm bắt tốt công việc.

- 100% giáo viên nhân viên cấp dưỡng nắm được nhiệm vụ công tác, có trách nhiệm cao trong quá trình chăm sóc nuôi dưỡng, chế biến các món ăn cho trẻ.

- 100% nhân viên bếp có cải tiến món ăn và tham dự hội thi: “Đôi đũa vàng” cấp trường. Có 1 nhân viên được lựa chọn thi “Ngày hội dinh dưỡng của bé” cấp Quận đạt giải nhì.

- Đội ngũ nhân viên cấp dưỡng luôn đoàn kết phối hợp giúp đỡ nhau thực hiện nhịp nhàng dây chuyền chế biến chăm sóc trẻ hàng ngày, khả năng giao tiếp ứng xử của nhân viên cấp dưỡng ngày càng nhẹ nhàng, văn minh hơn.

- Cơ sở vật chất phục vụ trẻ được bổ sung, sửa chữa kịp thời. Cảnh quan môi trường sư phạm luôn sạch sẽ gọn gàng từ trong lớp đến ngoài sân trường.

- Trẻ thích đến trường, ăn ngon miệng, ăn hết xuất, khỏe mạnh, nhanh nhẹn, tích cực tham gia vào các hoạt động trong ngày; hình thành ở trẻ các kĩ năng phù hợp lứa tuổi.

- Kiến thức và kỹ năng chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ của giáo viên, cô nuôi nâng lên rõ rệt

- Phụ huynh tin tưởng gửi con đến trường ngày một đông hơn.

- Tỷ lệ suy dinh dưỡng giảm rõ rệt sau mỗi lần cân.

C. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

     1. Kết luận:

     Nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng và hiệu quả công tác quản lý của Ban giám hiệu là yếu tố có tính chất quyết định đến việc thực hiện nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trong trường mầm non. Qua thực trạng công tác chăm sóc của trường mầm non nơi tôi công tác, tôi đã tập trung đưa ra các biện pháp để nâng cao hiệu quả chất lượng công tác quản lí chỉ đạo công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ của nhà trường. Các biện pháp đã nêu trong đề tài này được áp dụng trong trường, phát huy tác dụng tốt. Là động lực thôi thúc tôi tiếp tục tìm tòi đổi mới công tác quản lý chỉ đạo để giữ vững các danh hiệu thi đua, xứng đáng với niềm tin của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trên địa bàn.

     Để công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ đạt kết quả tốt, ban giám hiệu phải có kế hoạch phù hợp với tình hình thực tế của trường, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cho giáo viên, nhân viên, giao nhiệm vụ và trách nhiệm cho giáo viên, nhân viên phải cụ thể, rõ ràng. Nhà trường phải phối hợp chặt chẽ với hội cha mẹ học sinh để cùng có biện pháp nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ. Ban giám hiệu phải hết sức sát xao với các hoạt động của nhà trường, phải xác định được nhiệm vụ trọng tâm, biết tìm ra điểm yếu và có biện pháp khắc phục. Đồng thời ban giám hiệu còn phải là người nắm vững chuyên môn, có kế hoạch để bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên, nhân viên. Tổ chức tốt các đợt thi đua trong trường, sau mỗi đợt thi đua đều có nhận xét đánh giá, khen thưởng kịp thời để động viên CBGV, NV trong trường.

     2. Một số khuyến nghị & đề xuất:

- Phối hợp chặt chẽ với trường Bồi dưỡng cán bộ, Vụ mầm non, Sở Giáo dục và Đào tạo trong lĩnh vực quản lý... để bồi dưỡng, nâng cao năng lực quản lý cho đội ngũ CBQL các trong ngành giáo dục nói chung và ngành giáo dục mầm non nói riêng.

- Cho đội ngũ CB-GV-NV được tham gia các lớp bồi dưỡng về chuyên môn cho các cô nuôi nhiều hơn để các cô có thêm nhiều kinh nghiệm hơn vận dụng vào công việc.

- Tạo điều kiện cho đội ngũ nhân viên tham gia các lớp bồi dưỡng chuyên môn  nuôi dưỡng thường xuyên với số lượng nhiều hơn. Được kiến tập về công tác chăm sóc – nuôi dưỡng, công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm của các trường bạn.

- Nhân rộng các món ăn cải tiến có chất lượng, đạt giải cao trong các hội thi nấu ăn “Ngày Hội dinh dưỡng cho trẻ mầm non” để phổ biến cho nhân viên cấp dưỡng học tập, áp dụng vào thực đơn cho trẻ.

chỉ đạo của Quận ủy - HĐND - UBND

Thông báo

thời tiết các vùng

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

Bình chọn

Đánh giá thái độ tiếp công dân của cán bộ Một cửa quận