tin nổi bật

Thời hiệu yêu cầu bồi thường theo quy định của Luật TNBT của Nhà nước năm 2017
Ngày đăng 03/07/2020 | 17:08

Chế định về thời hiệu là một chế định quan trọng trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, việc nhận thức đúng và áp dụng nghiêm túc, thống nhất về thời hiệu có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại, cũng như việc giải quyết bồi thường của cơ quan nhà nước. Do đó, việc nhận thức đúng, áp dụng pháp luật thống nhất về thời hiệu, cách tính thời hiệu và các quy định liên quan đến thời hiệu là cần thiết

     1. Thời hiệu yêu cầu bồi thường

     Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định. Thời hiệu yêu cầu bồi thường là thời hiệu hưởng quyền dân sự mà khi kết thúc thời hạn đó, chủ thể được hưởng quyền dân sự.

     Theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thì thời hiệu yêu cầu bồi thường được hiểu là thời hạn do Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (Luật TNBTCNN) quy định, mà khi kết thúc thời hạn đó thì người bị thiệt hại không còn quyền yêu cầu bồi thường.

     Do thời hiệu yêu cầu bồi thường là thời hiệu hưởng quyền dân sự nên thời hiệu yêu cầu bồi thường trong pháp luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được quy định phù hợp với quy định về thời hiệu khởi kiện về yêu cầu bồi thường thiệt hại trong phần trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của pháp luật dân sự. Quy định về thời hiệu tạo điều kiện bảo toàn chứng cứ để xác định sự thật khách quan trong tranh chấp dân sự. Nếu không có thời hiệu thì những tranh chấp đã xảy ra quá lâu, việc thu thập, xác minh chứng cứ sẽ khó khăn trong hoạt động của Tòa án và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

     Luật TNBTCNN năm 2017 quy định 04 loại thời hiệu yêu cầu bồi thường như sau:

     Thứ nhất, thời hiệu yêu cầu bồi thường áp dụng tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại là 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu bồi thường nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường. Theo đó, việc tính thời hạn hưởng quyền yêu cầu bồi thường là 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu bồi thường nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường. Quy định này có lợi và bảo đảm quyền yêu cầu bồi thường hơn cho người có quyền yêu cầu bồi thường. Đồng thời, quy định về thời hiệu này phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về thời điểm bắt đầu thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự. Theo đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được tính từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Như vậy, thời hiệu khởi kiện được tính từ khi có vi phạm nghĩa vụ dân sự mà người có quyền biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, không phải tính tại thời điểm vi phạm nghĩa vụ xảy ra hay thời điểm xảy ra hành vi trái pháp luật gây thiệt hại về sức khỏe, tài sản. Vì có thể sau thời điểm đó, người có quyền yêu cầu mới biết được quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

     Thứ hai, thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường tại Tòa án trong trường hợp người yêu cầu bồi thường đã có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường và chưa yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại giải quyết yêu cầu bồi thường hoặc rút yêu cầu bồi thường trước thời điểm cơ quan giải quyết bồi thường tiến hành xác minh thiệt hại thì trong thời hạn 03 năm kể từ ngày nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, người yêu cầu bồi thường có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường.

     Thứ ba, thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường tại Tòa án là 15 ngày trong trường hợp yêu cầu bồi thường đã được giải quyết tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại, nhưng sau đó người yêu cầu bồi thường khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết trong các trường hợp sau:

     (i) Không đồng ý với quyết định giải quyết bồi thường trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định. Người yêu cầu bồi thường không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường trong trường hợp quyết định giải quyết bồi thường đã có hiệu lực pháp luật. Quyết định giải quyết bồi thường có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày trao cho người yêu cầu bồi thường quyết định giải quyết bồi thường

     (ii) Kể từ ngày có biên bản kết quả thương lượng thành quy định tại khoản 7 Điều 46 Luật TNBTCNN năm 2017 mà cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại không ra quyết định giải quyết bồi thường.

     (iii) Kể từ ngày có biên bản kết quả thương lượng không thành quy định tại khoản 7 Điều 46 Luật TNBTCNN năm 2017.

      Trường hợp do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho người yêu cầu bồi thường khổng thể thực hiện việc khởi kiện đúng thời hạn đối với thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường tại Tòa án nêu tại mục 3 thì khoảng thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không được tính vào thời hạn khởi kiện này.

      Thứ tư, trường hợp người yêu cầu bồi thường yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính thì thời hiệu yêu cầu bồi thường được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự, tố tụng hành chính. Thời điểm chấp nhận yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính là thời điểm Tòa án có thẩm quyền thụ lý yêu cầu bồi thường.

      2. Xác định thời hiệu yêu cầu bồi thường

     Khi giải quyết bồi thường, cơ quan giải quyết yêu cầu bồi thường phải căn cứ trên những tài liệu có trong hồ sơ để xác định vụ việc còn thời hiệu yêu cầu bồi thường hay không. Theo đó, cơ quan giải quyết bồi thường cần xác định:

     (1) Khoảng thời gian tính từ thời điểm người có quyền yêu cầu bồi thường nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường đến thời điểm nộp đơn yêu cầu bồi thường lần đầu.

     (2) Các khoảng thời gian không tính vào thời hiệu yêu cầu bồi thường. Người yêu cầu bồi thường có nghĩa vụ cung cấp thông tin và tài liệu, chứng cứ chứng minh khoảng thời gian không tính vào thời hiệu này.

     Đối với trường hợp giải quyết bồi thường tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại, cơ quan giải quyết bồi thường xác định các trường hợp sau được xác định là còn thời hiệu yêu cầu bồi thường:

     - Thời điểm người yêu cầu bồi thường nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường đến thời điểm nộp đơn yêu cầu bồi thường là không quá 03 năm.

     - Những trường hợp mà tính từ thời điểm người yêu cầu bồi thường nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường đến thời điểm nộp đơn yêu cầu bồi thường đã quá 03 năm nhưng có các khoảng thời gian không tính vào thời hiệu thì phải trừ đi khoảng thời gian này. Nếu sau khi trừ đi khoảng thời gian không tính vào thời hiệu mà khoảng thời gian tính từ thời điểm người yêu cầu bồi thường nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường đến thời điểm nộp đơn yêu cầu bồi thường không vượt quá 03 năm thì yêu cầu bồi thường vẫn còn thời hiệu. Trường hợp, vượt quá 03 năm thì yêu cầu bồi thường đã hết thời hiệu để giải quyết.

      3. Khoảng thời gian không tính vào thời hiệu yêu cầu bồi thường

     Luật TNBTCNN năm 2017 quy định các khoảng thời gian không tính vào thời hiệu yêu cầu bồi thường theo hướng phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, qua đó bảo đảm hơn quyền yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại. Cụ thể, Luật TNBTCNN năm 2017 quy định các khoảng thời gian không tính vào thời hiệu yêu cầu bồi thường sau:

     (1) Khoảng thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định của Bộ luật Dân sự làm cho người có quyền yêu cầu bồi thường không thể thực hiện được quyền yêu cầu bồi thường. Theo đó, Bộ luật Dân sự quy định sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép. Ví dụ, báo lũ làm hỏng đường, giao thông bị tắc nghẽn không đi lại được…

     (2) Khoảng thời gian mà người bị thiệt hại là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi chưa có người đại diện theo quy định của pháp luật hoặc người đại diện đã chết hoặc không thể tiếp tục là người đại diện cho tới khi có người đại diện mới.

     Thông thường, người yêu cầu bồi thường phải là người thành niên, có năng lực hành vi dân sự. Do vậy, nếu người bị thiệt hại là người chưa thành niên, mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì cần người đại diện. Tuy nhiên, vì lý do khách quan mà chưa cử được người đại diện thì thời gian này không tính vào thời hiệu yêu cầu bồi thường.

     Trường hợp người đại diện của người chưa thành niên, mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi chết hoặc trường hợp người đại diện có lý do chính đáng mà không thể tiếp tục làm người đại diện cho tới khi có người đại diện mới thì thời hạn chờ cử người đại diện thay thế không tính vào thời hiệu yêu cầu bồi thường.

     (3) Xác định thời hiệu trong trường hợp đặc biệt, Luật TNBTCNN năm 2017 quy định trong trường hợp người yêu cầu bồi thường chưa xác định ngay được cơ quan giải quyết bồi thường mà nộp hồ sơ đến Sở Tư pháp nơi người bị thiệt hại cư trú hoặc có trụ sở thì Sở Tư pháp có trách nhiệm xác định cơ quan giải quyết bồi thường và chuyển hồ sơ đến cơ quan giải quyết bồi thường và thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu bồi thường. Nghị định số 68/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định trường hợp người yêu cầu bồi thường đã nộp hồ sơ tại Sở Tư pháp để xác định cơ quan giải quyết bồi thường trong thời hiệu yêu cầu bồi thường nhưng tại thời điểm nhận hồ sơ do Sở Tư pháp chuyển đến mà thời hiệu yêu cầu bồi thường đã hết thì cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại phải thụ lý hồ sơ do Sở Tư pháp chuyển đến.

thời tiết các vùng

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

Bình chọn

Đánh giá thái độ tiếp công dân của cán bộ Một cửa quận