Văn hóa - Xã hội

Điểm đến du lịch được chuẩn hóa Đình Linh Đàm, quận Hoàng Mai
Ngày đăng 04/08/2022 | 15:24

Liên Đàm nghĩa là “đầm sen”, một trong những tên gọi xa xưa của đầm Linh Đường. Sở dĩ đầm có tên Liên Đàm vì khi xưa đầm nổi tiếng có nhiều hoa sen. Không chỉ nổi tiếng vì hoa sen mà hồ còn nổi tiếng cả về hình dáng nét đẹp và sắc nước.

     Trước đây, đầm thuộc phủ Giao Châu còn được gọi là Long Đàm và tên của đầm được đặt cho tên của châu Long Đàm. Đến đầu thế kỷ XX, đầm Linh Đường còn được các sử gia của Quốc sử quán triều Nguyễn ca ngợi là Kính Nguyệt hồ.

“Nhật trình từ Ráy đến Ô

Bây giờ ta kể duyên cho các làng

Tứ Kỳ ở đó rõ ràng

Trông lên lại thấy một làng Pháp Vân

Trông xa rồi lại trông gần

Đại Từ trước mặt, sau lưng Linh Đường”.

     Như vậy, trước kia cũng như bây giờ, làng Linh Đường nằm lọt giữa ba làng Tứ Kỳ, Pháp Vân, Đại Từ và gần như một hòn đảo nổi lên ở phía Nam của đầm Linh Đường. Hình ảnh của Linh Đường đã được sử gia Phan Huy Chú khắc họa khá rõ nét trong sách Lịch triều hiến chương loại chí : “Làng Linh Đường ở Huyện Thanh trì, cạnh có cái đầm nước trong kiểu đất mở ra như tấm gương hình như mày ngài”. Ngôi đình hiện nay thuộc phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai. Đình Liên Đàm tọa lạc trên một địa thế đẹp, vốn là một gò đất cao, nhìn ra đầm Linh Đàm tạo thành thế “nhà trên ao dưới”.

     Từ ngoài vào là Nghi môn ngoại xây kiểu tam quan, bên trên có các góc đao cong, bên dưới tạo cửa cuốn vòm. Tiếp đến là nghi môn nội xây kiểu tứ trụ, đỉnh trụ giữa đắp hình trái giành, phần ô lồng đèn đắp đề tài tứ quý, thân trụ bổ khung đắp các đôi câu đối, đỉnh hai trụ bên là đôi nghê, thân trụ bổ khung. Phía trước đình là bức bình phong đắp dạng cuốn thư. Tiếp đến là một khoảng sân rộng lát gạch Bát dẫn vào khu thờ.

     Nhà tiền tế gồm năm gian hai chái, mái lợp ngói ta, bờ nóc, bờ dải đắp kiểu bờ đinh. Các bộ vì đều có kết cấu theo kiểu “thượng giá chiêng, hạ kẻ”. Giá chiêng được tạo thành bởi hai cột trốn đặt trên câu đầu to, dày. Đầu kẻ ăn sâu vào chân mộng, cột quân và cột hiên. Các hàng cột đặt trên các chân tảng bằng đá. Bộ khung đại đình được trang trí tỉ mỉ, tạo cho các bộ vì trang trí hoa lá, vân mây, bằng kỹ thuật chạm nổi, đường nét to mập, cân xứng với kích thước của các rường. Đầu kẻ chạm sâu các hình rồng mây.

     Hậu cung gồm ba gian sát sau trung tế, xây kiểu tường hồi bít đốc. Bộ vì đỡ mái làm kiểu “ván mê đắp hình hổ phù”. Hiện tại ở đình còn bảo lưu được 15 đạo sắc phong, trong đó đạo sắc có niên đại sớm nhất là niên hiệu Cảnh Hưng 44 (1783) và đạo sắc có niên đại muộn nhất là Khải Định 9 (1924); 01 cuốn thần tích do Đông các đại học sĩ Nguyễn Bính soạn vào năm Hồng Phúc (1572); 01 tấm bia đá “Phụng sự hậu thần bi ký” niên đại Chính Hòa 10 (1689)…là những nguồn sử liệu góp phần phản ánh niên đại tồn tại của ngôi đình và nội dung văn bia cũng như phản ánh nhưng quy định của việc quản lý qua các triều đại đối với các di tích tín ngưỡng trong lịch sử.

     Người dân nơi đây vẫn tự hào về ngôi đình, về Thành hoàng làng là học trò của Chu Văn An vạn có tên là Bảo Ninh Vương. Theo truyền thuyết, ngài là một vị thủy thần có công làm mưa chống hạn cho dân làng. Sự tích về thủy thần có thể là huyền thoại nhưng cũng là một thực tế gắn liền với nền kinh tế nông nghiệp lúa nước ở nước ta. Cùng thờ thành hoàng Bảo Ninh Vương hiện có 7 làng và 4 phường thuộc quận Hoàng Mai đó là: Bằng Liệt, Linh Đàm, Tứ Kỳ (phường Hoàng Liệt), Đại Từ (phường Đại Kim), Hữu Thanh Oai (xã Hữu Hòa) và Lê Xá, huyện Thanh Oai.

Nguồn: phòng Văn hóa và Thông tin quận

thời tiết các vùng

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

Bình chọn

Đánh giá thái độ tiếp công dân của cán bộ Một cửa quận